Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Ở nước ta, công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) được khẳng định là con đường tất yếu để rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước trong khu vực và thế giới.
Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa VII nêu rõ: CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.Với nhận thức như vậy, trong suốt những năm đổi mới, Việt Nam đã thực hiện quá trình CNH, HĐH đất nước và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, so với tiềm năng, trong tương quan so sánh quốc tế, những thành tựu đạt được còn khá khiêm tốn, quá trình CNH, HĐH có nhiều hạn chế.
1. Thành tựu và những hạn chế trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Thực hiện công cuộc đổi mới sau gần 40 năm, cơ cấu kinh tế nước ta đã chuyển dịch theo hướng tích cực, đúng quỹ đạo CNH, HĐH, tỷ trọng ngành công nghiệp ngày càng gia tăng[1]. Ngành công nghiệp - xây dựng ngày càng gia tăng đóng góp vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Trong nông nghiệp, nhiều hộ nông dân sản xuất hàng hóa quy mô lớn hơn, nhiều nơi đã áp dụng quy trình sản xuất theo kiểu công nghiệp, nhất là trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng cây trong nhà kính, nhà lưới, nhà màng…
Trình độ công nghệ, năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp ngày càng được nâng cao. Nước ta đã bước đầu tham gia vào cuộcCách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ. Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) của Việt Nam đã liên tục cải thiện từ thứ hạng 68/121 năm 2007 lên vị trí 67/141 năm 2019.Năm 2023, GCI của Việt Nam xếp hạng thứ 65, tăng 12 bậc so với năm 2022[2].
Ở nước ta, giai đoạn tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với đổi mới sáng tạo đã được hình thành khá rõ nét và tăng tốc; chỉ số GII của Việt Nam ngày càng được cải thiện, nhất là chỉ số thành phần về đầu ra đổi mới sáng tạo[3] có nhiều kết quả tích cực; số lượng bằng sáng chế, chứng nhận sở hữu trí tuệ, bằng phát minh… của Việt Nam tiếp tục tăng; cơ sở hạ tầng cho phát triển kinh tế góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo có cải thiện đáng kể về cả tiếp cận và sử dụng hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), giúp Việt Nam đẩy mạnh hoạt động đổi mới sáng tạo, tăng khả năng thực hiện thành công chuyển đổi số quốc gia; khả năng tiếp cận với tri thức khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại của thế giới được cải thiện và bước đầu tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, một số chỉ số, như hợp tác viện, trường - doanh nghiệp, chỉ số phát triển cụm công nghiệp, năng lực hấp thu tri thức, đều tăng qua các năm. Hạ tầng nghiên cứu trong một số lĩnh vực trọng điểm như công nghệ sinh học, hóa dầu, vật liệu, tự động hóa, nano, công nghệ tính toán, y học… được tăng cường.
Các ngành công nghiệp đã góp phần tạo ra nhiều việc làm, thu nhập cho người lao động, đóng góp lớn nhất cho ngân sách nhà nước (NSNN). Năm 2023, ngành công nghiệp - xây dựng tạo việc làm cho trên 17,1 triệu người[4]. Việt Nam đang là quốc gia có lợi thế về nhân lực trẻ, lao động trong lĩnh vực ICT chiếm khoảng 900.000 người với số lượng lớn kỹ sư về AI, khoa học dữ liệu, có nhiều người được cấp chứng chỉ IoT trên thế giới, số lượng kỹ sư về Blockchain và Fintech đang tăng khá nhanh…[5].
Ở hầu hết các địa phương trong cả nước, CNH, HĐH đã gắn với đô thị hóa, đóng vai trò nòng cốt thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều địa phương phát triển mạnh công nghiệp đã gia tăng đóng góp vào NSNN, đồng thời có nguồn lực đầu tư hỗ trợ phát triển các ngành, lĩnh vực khác.
Hiện nay, nền công nghiệp nước ta phát triển chưa đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH đất nước, chủ yếu phát triển theo mục tiêu ngắn hạn, thiếu tính bền vững; nội lực của nền công nghiệp còn yếu, phụ thuộc nhiều vào doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Năm 2021, doanh nghiệp FDI chiếm 55% tổng giá trị sản phẩm công nghiệp và 73,6% kim ngạch xuất khẩu[6].
Việt Nam đã tham gia vào Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhưng còn thụ động. Trình độ công nghệ còn lạc hậu, chậm được đổi mới, chất lượng sản phẩm, năng suất lao động còn thấp, phát triển công nghiệp chưa gắn kết với các ngành kinh tế khác, còn quá chú trọng vào các ngành công nghệ thâm dụng lao động, giá rẻ, chưa tận dụng tốt được lợi thế cơ cấu dân số vàng… Dù chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt Nam được cải thiện, từ vị trí 73 năm 2012 lên 44/132 năm 2021 và năm 2023 tăng hai bậc so với năm 2022 (xếp hạng thứ 46)[7], song trình độ khoa học, công nghệ nói chung còn có khoảng cách so với các nước nhóm đầu khu vực Đông Nam Á, trừ một số lĩnh vực có đổi mới công nghệ khá nhanh như công nghệ thông tin, dầu khí, hàng không, tài chính - ngân hàng…, nhiều doanh nghiệp vẫn đang sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới.
Chưa hình thành và phát triển được các cụm công nghiệp (cluster), hệ sinh thái công nghiệp, liên kết chuỗi dọc, liên kết ngang trong công nghiệp còn yếu. Liên kết giữa các doanh nghiệp công nghiệp trong nước và nước ngoài, giữa doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ yếu.
Số các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước hoạt động hiệu quả thấp chiếm tỷ trọng lớn, nhiều dự án công nghiệp quy mô lớn thua lỗ; hầu hết các doanh nghiệp công nghiệp trong nước là doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp trong nước ngại đầu tư vào công nghiệp; việc cơ cấu lại các ngành công nghiệp thực hiện còn chậm, năng lực cạnh tranh, khả năng tham gia vào chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu còn nhiều hạn chế, sản xuất công nghiệp chủ yếu là gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng thấp.
Ở nước ta, quá trình CNH chưa hình thành được các doanh nghiệp công nghiệp lớn có sức cạnh tranh, có thương hiệu quốc tế[8], chưa phát triển được ngành công nghiệp mũi nhọn để có thể đóng vai trò dẫn dắt; nhiều ngành công nghiệp ưu tiên phát triển không đạt mục tiêu đề ra; công nghiệp hỗ trợ kém phát triển, tỷ lệ nội địa hóa của các ngành công nghiệp còn ở mức thấp.
Sự phát triển công nghiệp diễn ra không đồng đều giữa các vùng là nguyên nhân gây ra tình trạng di dân tự phát và nhiều hệ lụy về mặt xã hội. Trình độ tay nghề của đa số lao động còn thấp, không đáp ứng yêu cầu chuyển nhanh sang phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi số… Năm 2023, lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ mới đạt 27% tổng lao động xã hội...[9].
Phát triển công nghiệp đã gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng, một số nơi đã trở thành điểm nóng, gây bất ổn xã hội. Chưa chú trọng đúng mức đến yêu cầu thích ứng với biến đổi khí hậu, phát triển bền vững. Việc khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, năng lượng còn lãng phí, kém bền vững. Phát triển một số ngành công nghiệp dẫn đến gia tăng phát thải khí nhà kính…
Cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH, hệ thống logistics chậm phát triển, chi phí cao ảnh hưởng đến sự phát triển và khả năng cạnh tranh của công nghiệp và nền kinh tế. Năm 2022, chi phí logistics tại Việt Nam chiếm gần17% tổng giá trị hàng hóa, trong khi mức chi phí này bình quân thế giới chỉ khoảng 10,6%[10]. Mục tiêu đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia còn nhiều thách thức, các nguồn cung trong nước không đủ đáp ứng yêu cầu trong khi phải nhập khẩu năng lượng ngày càng tăng; một số chỉ tiêu đảm bảo an ninh năng lượng đang biến động theo chiều hướng bất lợi. Hiệu quả khai thác, sử dụng năng lượng còn thấp. Cơ sở hạ tầng ngành năng lượng còn thiếu và chưa đồng bộ...
Quản lý của nhà nước đối với một số lĩnh vực công nghiệp còn bất cập, chồng chéo, có lúc bị buông lỏng, chưa quản lý và giám sát tốt về năng suất, chất lượng và hiệu quả đầu tư trong công nghiệp.
2. Những vấn đề đặt và một số giải pháp trong thời gian tới
Một số vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện CNH, HĐH đất nước dựa trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cần phải giải quyết, đó là:
Một là,đầu tư từ doanh nghiệp cho khoa học, công nghệ trên tổng đầu tư xã hội còn thấp, tỷ trọng chi ngân sách đầu tư cho khoa học, công nghệ trong tổng chi NSNN thấp.
Hai là,một số chủ doanh nghiệp nhận thức còn chưa đầy đủ về đổi mới sáng tạo, trong đó có các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo. Nhiều doanh nghiệp hoạt động đổi mới sáng tạo còn ít, thậm chí có doanh nghiệp không hiểu rõ về đổi mới sáng tạo, không xác định được đã thực hiện đổi mới sáng tạo chưa.
Ba là,thị trường khoa học, công nghệ phát triển còn chậm, có ít các tổ chức trung gian có uy tín, kinh nghiệm để kết nối cung cầu. Chưa khuyến khích, nuôi dưỡng và phát triển được nhiều phát minh, sáng chế trở thành sản phẩm cuối cùng và thương mại hóa. Số tổ chức khoa học, công nghệ đến nay còn ít, việc chuyển đổi hoạt động sang theo kinh tế thị trường trong lĩnh vực khoa học, công nghệ còn chậm, lúng túng, chưa đầy đủ, hiệu quả thấp…
Bốn là, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự là động lực để nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Mô hình tăng trưởng kinh tế chưa dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo[11]. Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp TFP vào GDP Việt Nam tuy có được cải thiện, song còn thấp[12], mô hình tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào vốn và lao động.
Trong thời gian tới, với bối cảnh và yêu cầu mới đặt ra đòi hỏi Việt Nam tiếp tục quá trình CNH, HĐH theo một phương thức phù hợp, trong đó đặc biệtchú trọng gắn kết CNH, HĐH với tiến bộ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo.Để đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH ở nước ta đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 dựa trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cần lưu ý thực hiện các giải pháp sau:
Thứ nhất, tập trung phát triển các ngành ưu tiên có mức độ sẵn sàng cao để cải thiện chỉ số đổi mới sáng tạo, như: công nghiệp công nghệ thông tin, điện tử - viễn thông; an toàn, an ninh mạng; công nghiệp chế tạo thông minh; tài chính - ngân hàng; thương mại điện tử; nông nghiệp số; du lịch số; công nghiệp văn hóa số; y tế; giáo dục và đào tạo.
Thứ hai, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp khởi nghiệp (start up) và phải được đặt ở vị trí trung tâm trong hoạt động đổi mới sáng tạo. Trong đó cần xây dựng chiến lược đổi mới sáng tạo đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, bởi đây là khối doanh nghiệp chiếm tỷ trọng tới 98% tổng số doanh nghiệp ở nước ta, cần khuyến khích họ đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thứ ba, xây dựng các quỹ để phát triển khoa học, công nghệ, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, ứng dụng, chuyển giao công nghệ. Kêu gọi nguồn vốn từ các nguồn: doanh nghiệp, vốn đầu tư mạo hiểm, các nhóm đầu tư… ở trong và ngoài nước để gia tăng các quỹ này.
Thứ tư,cần tạo lập môi trường thể chế cho các thử nghiệm mô hình kinh tế dựa trên nền tảng số, vì những đột phá về công nghệ số của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã làm xuất hiện nhanh chóng những ngành nghề mới, nhưng còn thiếu cơ chế để vận hành và thể chế quản lý. Việc chấp nhận tạm thời thông qua thử nghiệm và đi đến hoàn thiện cơ sở pháp lý sẽ giúp phục vụ cho mục tiêu quản trị phát triển là yêu cầu cấp thiết nhằm thích ứng và tận dụng nhanh nhất các thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ, nhất là Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Thứ năm, phát triển thị trường khoa học, công nghệ gắn với xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học, công nghệ. Đẩy mạnh kết nối có hiệu quả các sàn giao dịch công nghệ quốc gia với các trung tâm ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ ở các tỉnh, thành. Phát triểnmạng lưới các tổ chức dịch vụ trung gian môi giới, đánh giá chuyển giao công nghệ… Các doanh nghiệp cần gia tăng đầu tư cho đổi mới công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, liên kết với các trung tâm nghiên cứu như các viện nghiên cứu, trường đại học…
Thứ sáu, tăng cường liên kết các mạng lưới đổi mới sáng tạo trong và ngoài nước, mạng lưới kết nối nhân tài nhằm thu hút sự tham gia đóng góp của cộng đồng các nhà khoa học người Việt Nam ở trong và ngoài nước. Xây dựng cơ sở dữ liệu mở để quảng bá hình ảnh đất nước, chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao để người lao động, nhà đầu tư có thể tiếp cận thông tin cần thiết, yên tâm, lựa chọn nơi làm việc, đầu tư lâu dài.
Thứ bảy, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trang bị cho đội ngũ nhân lực kiến thức chuyên sâu, cập nhật và hiện đại, có năng lực, kỹ năng vận dụng và phát triển kiến thức trong những công việc cụ thể, có tâm huyết và bản lĩnh vững vàng. Đây cũng là sứ mệnh và trách nhiệm của hệ thống giáo dục quốc dân. Đặc biệt, Chính phủ cầnxây dựng Chiến lược phát triển nguồn nhân lực, có mục tiêu và tiêu chuẩn rõ ràng về đội ngũ, chuẩn về kiến thức và trình độ đào tạo, chuẩn về kỹ năng và thái độ làm việc, chuẩn về thể lực để có mục tiêu phấn đấu chứ không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu; xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo, quy hoạch lại hệ thống giáo dục - đào tạo và đặc biệt cụ thể hóa chiến lược thành các mục tiêu cụ thể và lộ trình thực hiện trong từng giai đoạn; tăng cường tính chủ động cho các trường trong học thuật và phát triển đội ngũ; xây dựng hệ thống kiểm định chất lượng chuẩn và khuyến khích các trường thực hiện kiểm định quốc tế để khẳng định vị thế của Việt Nam trong khu vực về giáo dục - đào tạo; thu hút và đào tạo nguồn nhân lực quản lý giáo dục và phát huy năng lực các nhà khoa học có uy tín.
Thứ tám, tận dụng tốt lợi thế và các cơ hội do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại để có các giải pháp đột phá, làm rõ trách nhiệm của các chủ thể trong việc thực hiện lộ trình cụ thể trong từng giai đoạn, gắn phát triển nhanh vượt trội với bền vững về xã hội và môi trường, phát huy vai trò động lực của khu vực tư nhân, khuyến khích đổi mới sáng tạo và xây dựng xã hội khởi nghiệp nhằm tạo ra các nguồn lực phát triển mới; lấy con người làm trung tâm, coi trọng đồng thuận xã hội, nâng cao vị thế của văn hóa và truyền thống dân tộc; đảm bảo độc lập và chủ quyền của dân tộc.
Thứ chín, nhất quán theo đuổi mô hình phát triển kinh tế theo hướng bền vững, tiến tới thay thế các mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên sang các mô hình tăng trưởng xanh dựa vào khoa học, công nghệ; thu hút FDI sạch, công nghệ cao và chuyển dịch vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu; phát triển các ngành dịch vụ xanh, tận dụng các lợi thế của hội nhập thương mại quốc tế; đầu tư thỏa đáng cho bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Mười là, đổi mới cơ chế, chính sách và tăng cường quản trị công cho hệ thống đổi mới sáng tạo; thành lập các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia với chức năng thúc đẩy thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ dựa trên đổi mới sáng tạo; xây dựng khuôn khổ cho việc đo lường và đánh giá hiệu quả của nền kinh tế số; phát triển các sản phẩm quốc gia dựa vào công nghệ mới, công nghệ cao, hình thành các ngành nghề mới mà Việt Nam có thế mạnh; nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp; thúc đẩy liên kết các mạng lưới hợp tác về đổi mới sáng tạo trong và ngoài nước; hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ để đổi mới sáng tạo; đổi mới và hình thành văn hóa, thói quen đổi mới sáng tạo để phát triển.
Mười một là, xây dựng thể chế quản trị hiện đại - mà trọng tâm của nó là nhà nước kiến tạo, liêm chính và hành động - luôn được coi như một khâu đột phá chiến lược để giải phóng những động lực mới, đó là sức đổi mới sáng tạo của con người Việt Nam, trong đó yếu tố thể chế đóng vai trò then chốt. Thực sự tuân thủ quy luật tự do cạnh tranh bình đẳng của thị trường; xây dựng nền kinh tế thị trường thực sự đầy đủ, đồng bộ, triệt để xóa bỏ các yếu tố bao cấp, xin - cho, thực hiện đúng nguyên tắc tự do cạnh tranh, tạo ra sự cạnh tranh thật sự lành mạnh, sôi động.
ThS. Cấn Văn Long
[1]Trong đó, một số ngành, như: điện, điện tử, công nghệ thông tin, chế tạo thiết bị, năng lượng, giày da, may mặc…, đã có những bước phát triển.
[2]WIPO (2023), Báo cáo Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2023.
[3]Sản phẩm tri thức và công nghệ.
[4]Trong khi năm 2010 mới đạt 10,6 triệu người.
[5]Tổng cục Thống kê (2024), Niên giám Thống kê năm 2023, Nxb Thống kê, Hà Nội.
[6]Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa VII.
[7]WIPO (2023), Báo cáo Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2023.
[8]Một số doanh nghiệp lớn trong nước chủ yếu trong lĩnh vực tài chính, bất động sản…
[9]Tổng cục Thống kê (2024), Niên giám Thống kê năm 2023, Nxb Thống kê, Hà Nội.
[10] https://thanhnien.vn/chi-phi-logistics-cua-viet-nam-qua-cao-so-voi-binh-quan-the-gioi-18523120221254492.htm
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, tập I tr. 211.
[12]Giai đoạn 2016-2020 đạt 45,7% GDP, năm 2022giảm xuống còn41,8% và năm 2023 ước đạt 43,8%.
