Đẩy mạnh phát triển kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp ở Việt Nam
Kinh tế tuần hoàn (KTTH) trong nông nghiệp là quá trình sản xuất nông nghiệp theo chu trình khép kín, chất thải và phế, phụ phẩm của quá trình này là đầu vào của quá trình sản xuất khác thông qua áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ sinh học, công nghệ hóa lý.
Trong những năm qua, ngành nông nghiệp đã có nhiều đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Tuy nhiên, sự tăng trưởng ấn tượng của ngành nông nghiệp đang bị đe dọa bởi tình trạng cạn kiệt tài nguyên, suy thoái môi trường và biến đổi khí hậu. Mặt khác, tổng khối lượng phụ phẩm trong nông nghiệp ở nước ta tương đối lớn, đây là nguồn tài nguyên lớn để phát triển nông nghiệp tuần hoàn. Tuy nhiên, việc sử dụng không hợp lý nguồn phụ phẩm này đang gây lãng phí lớn và là một trong những nguyên nhân quan trọng làm tăng phát thải khí nhà kính, gây ô nhiễm môi trường. Điều đó đòi hỏi ngành nông nghiệp phải sớm chuyển đổi mô hình từ kinh tế tuyến tính sang KTTH để phát triển bền vững.
1. Ở nước ta, chủ trương về phát triển KTTH đã được Đảng và Nhà nước đưa ra từ sớm, chẳng hạn như: Chỉ thị số 36/CT-TW, ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Nghị quyết số 24/NQ-TW, ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; Luật Bảo vệ môi trường… Quan điểm về thúc đẩy phát triển KTTH được nhấn mạnh tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, nhất là về tầm nhìn và định hướng phát triển giai đoạn 2021 - 2030: “Chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh; quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên; lấy bảo vệ môi trường sống và sức khỏe Nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái; xây dựng nền kinh tế xanh, KTTH, thân thiện với môi trường”. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025 đã chỉ rõ nhiệm vụ đến năm 2025: Xây dựng lộ trình, cơ chế, chính sách, pháp luật để hình thành, vận hành mô hình KTTH”.
Ngày 28/01/2022, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 150/QĐ-TTg, phê duyệt Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 nhằm cụ thể hóa quan điểm của Đảng. Trong đó xác định: Việt Nam hướng tới nền sản xuất nông nghiệp có trách nhiệm, hiện đại, hiệu quả và bền vững; phát triển nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn, phát thải các-bon thấp, thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Mục tiêu đến năm 2030, giảm phát thải khí nhà kính 10% so với năm 2020. Theo đó, từng bước giảm dần sức ép của phát triển kinh tế - xã hội với môi trường bằng các giải pháp, như chấm dứt lạm dụng hóa chất, nguyên vật liệu tổng hợp, khó phân hủy; tạo điều kiện tái tạo các nguồn tài nguyên cơ bản như đất, nước, năng lượng; đẩy mạnh chế biến sâu, tận dụng phụ phẩm nông sản để chủ động xử lý ô nhiễm ngay tại nguồn... Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong Dự thảo Đề án “Phát triển khoa học và ứng dụng chuyển giao công nghệ thúc đẩy KTTH trong nông nghiệp giai đoạn 2023 - 2030” cũng đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 trong lĩnh vực trồng trọt sẽ có 60% phụ phẩm được xử lý, 80% phụ phẩm lúa gạo được thu gom và tái sử dụng. Trong chăn nuôi có 60% nông hộ và các trang trại xử lý chất thải; hoàn thiện và áp dụng các quy trình quản lý, sử dụng chất thải và tái sử dụng các phụ phẩm của các mặt hàng nông sản chủ lực…
2. Thực tế mô hình KTTH trong nông nghiệp hay nông nghiệp tuần hoàn đã tồn tại ở nước ta từ lâu, đã góp phần không nhỏ trong việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. Những mô hình KTTH trong ngành nông nghiệp phổ biến của nước ta, có thể kể đến, đó là:
* Mô hình “lúa, tôm” và “lúa, cá”: Mô hình “lúa, tôm” được áp dụng ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, trong khi mô hình “lúa, cá” được thực hiện ở các tỉnh vùng trũng, hay ngập úng ở Đồng bằng sông Hồng. Trong các mô hình này, khi nuôi tôm hoặc cá trong ruộng lúa, phân của tôm, cá và thức ăn còn dư (của tôm, cá) sẽ làm phân bón bổ sung dinh dưỡng cho cây lúa; ngược lại, khi gặt lúa xong, thả tôm (cá) vào ruộng, gốc rạ, thóc rơi vãi trở thành nguồn thức ăn cho tôm, cá. Với mô hình luân canh này, hầu như cây trồng, vật nuôi không phải dùng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kháng sinh, tạo ra sản phẩm sạch và bảo vệmôi trường. Đến nay, mô hình này đang được cải biến thành mô hình “lúa thơm - tôm sạch” và “lúa thơm - cá sạch”.
* Mô hình “vòng tuần hoàn xanh” trong các trang trại bò sữa:Đây là mô hình chăn nuôi được Công ty Vinamilk áp dụng để phát triển trang trại bò sữa thân thiện với môi trường. Họ xây dựng và vận hành hệ thống trang trại bò sữa theo tiêu chuẩn quốc tế (Global GAP) và tiêu chuẩn hữu cơ châu Âu (EU Organic). Các trang trại bò sữa thực hiện quy trình chăn nuôi khép kín, từ làm đất, trồng cỏ, chăm sóc bò đến xử lý chất thải để tạo “vòng tuần hoàn xanh”. Nhờ công nghệ biogas, chất thải gia súc được xử lý để tiếp tục bón cho đồng cỏ, cải tạo đất và một phần khác được biến đổi thành khí metan dùng để đun nước nóng dùng cho hoạt động của trang trại. Việc tái tạo và tái sử dụng năng lượng vừa mang lại hiệu quả về kinh tế, vừa giảm thiểu đáng kể lượng phát thải khí cacbon, thích ứng với biến đổi khí hậu.
* Mô hình trồng lúa - trồng nấm - sản xuất phân hữu cơ - trồng cây ăn quả:Được phổ biến ở hầu khắp các tỉnh, thành trong cả nước. Mô hình này tận dụng nguyên liệu từ phụ phẩm rơm rạ trong trồng lúa để trồng nấm, bã rơm rạ sau khi thu hoạch nấm được tận dụng để bón cho cây trồng (cây ăn quả, rau màu) rất tốt.
* Mô hình sản xuất tổng hợp bò - trùn quế - cỏ/ngô - gia súc, gia cầm - cá: Mô hình tận dụng phụ phẩm chăn nuôi (phân) để nuôi trùn quế; lấy phân trùn quế bón cỏ/ngô; trùn quế làm thức ăn cho gia súc, gia cầm, cá, đem lại hiệu quả kinh tế cao, giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ môi trường.
* Mô hình chăn nuôi an toàn sinh học 4F (Farm - Food - Feed - Fertilizer:Trồng trọt - Thực phẩm - Chăn nuôi - Phân bón): Mô hình là chu trình sản xuất khép kín, gồm: Chăn nuôi lợn hữu cơ, sản xuất các chế phẩm sinh học, sản xuất thức ăn chăn nuôi hữu cơ và sản xuất phân bón vi sinh. Chất thải trong trang trại được thu gom và xử lý để sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh phục vụ trồng trọt, tạo thành quy trình sản xuất nông nghiệp khép kín từ chăn nuôi đến trồng trọt, từ cây đến đất.
* Mô hình vườn - ao - chuồng (VAC):Vườn là hoạt động trồng trọt, ao là nuôi trồng thủy sản và chuồng là chăn nuôi gia súc, gia cầm trong các hộ gia đình, gia trại, trang trại. VAC đã tạo ra một mô hình sản xuất nông nghiệp tổng hợp, gắn kết trồng trọt với chăn nuôi, hạn chế chất thải, thuận theo tự nhiên và hoàn toàn phù hợp với các nguyên tắc của KTTH. Sau này, mô hình VAC đã được cải tiến phù hợp với trình độ phát triển của sản xuất nông nghiệp, cũng như điều kiện sinh thái của từng vùng lãnh thổ trên cả nước, đó là: Vườn - ao - chuồng - bioga (VACB); vườn - ao - chuồng - rừng (VACR) ở các tỉnh miền núi; vườn - ao - hồ (VAH) ở các tỉnh miền Trung. Thực hiện mô hình nông nghiệp này vừa đem lại hiệu quả kinh tế cao, vừa giúp giảm phát thải khí nhà kính.
3. Hiện nay, mặc dù mô hình KTTH trong nông nghiệp mang lại những lợi ích không nhỏ, tuy nhiên, việc triển khai các mô hình KTTH trong nông nghiệp tại nước ta vẫn đang còn ở mức khiêm tốn; các mô hình tái chế và tận thu phế phụ phẩm trong nông nghiệp còn chưa phát triển. Xuất phát từ những nguyên nhân chính sau:
(i) Nhận thức của các cá nhân hộ gia đình, hợp tác xã và doanh nghiệp về KTTH nói chung, nông nghiệp tuần hoàn nói riêng chưa đầy đủ. Mặc dù gần đây, sản xuất nông nghiệp nước ta đã và đang từng bước quan tâm đến sản xuất nông nghiệp bền vững, nông nghiệp hữu cơ, tuy nhiên các chủ thể sản xuất, kinh doanh trong ngành nông nghiệp vẫn chủ yếu chú trọng đến gia tăng sản lượng thông qua gia tăng đầu vào. Sản xuất nông nghiệp vẫn chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, sử dụng hóa chất và phân bón vô cơ. Bên cạnh đó, vấn đề xử lý chất thải trong nông nghiệp chưa được quan tâm. Đây là một trong những rào cản lớn cho phát triển nông nghiệp tuần hoàn thời gian qua.
(ii) Còn hạn chế về hành lang pháp lý cho phát triển KTTH nói chung và KTTH trong ngànhnông nghiệp nói riêng, nên các hoạt động diễn ra theo hướng tự phát và chịu sự điều chỉnh của thị trường là chủ yếu. Các tổ chức, cá nhân vẫn lấy mục tiêu ngắn hạn về lợi nhuận mà chưa cân nhắc đến các lợi ích lâu dài và bền vững. Các cơ chế, chính sách ban hành nhằm khuyến khích phát triển các mô hình KTTHcòn mờ nhạt, chưa cụ thể, chưa thu hút được sự quan tâm của người dân, doanh nghiệp.
(iii) Thiếu bộ tiêu chí để nhận diện, phân loại và đánh giá mức độ phát triển của nông nghiệp tuần hoàn. Thiếu các quy trình hướng dẫn cụ thể để thiết kế, thực hiện và vận hành các mô hình nông nghiệp tuần hoàn. Vì vậy, các mô hình KTTH được áp dụng trong nông nghiệp chưa đầy đủ, đúng nghĩa, hầu như chỉ là tự phát.
(iv) Hạn chế nguồn lực để thực hiện chuyển đổi sang phát triển nông nghiệp tuần hoàn. Năng lực ứng dụng khoa học - công nghệ trong các mô hình KTTH ở nước ta còn yếu. Cá nhân hộ gia đình, hợp tác xã và các doanh nghiệp (chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ) khó khăn trong việc đầu tư đổi mới công nghệ, đặc biệt là công nghệ tái chế, tái sử dụng; mới chỉ quan tâm tới tận thu, tái sử dụng lại phụ phẩm chính trong quá trình sản xuất. Bên cạnh đó, thiếu đội ngũ chuyên gia giỏi để phát triển nông nghiệp tuần hoàn từ khâu thiết kế, thực hiện và vận hành mô hình nông nghiệp tuần hoàn. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ xử lý chất thải, phế, phụ phẩm trong nông nghiệp cũng còn rất hạn chế.
Ngoài ra, phát triển nông nghiệp tuần hoàn tại Việt Nam còn gặp một số vướng mắc khác như: Khó khăn trong việc tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm của nông nghiệp tuần hoàn; thiếu hệ thống thông tin, dữ liệu và các mô hình mẫu để các cá nhân, tổ chức quan tâm đến nông nghiệp tuần hoàn có thể tìm hiểu, nghiên cứu và áp dụng.
4. Nhằm đẩy mạnh phát triển KTTH trong nông nghiệp ở Việt Nam, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Một là, hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với phát triển nông nghiệp tuần hoàn. Trên cơ sở những chủ trương, chính sách và pháp luật đã có về KTTH, cần tiếp tục cụ thể hóa trong việc thực hiện các mô hình nông nghiệp tuần hoàn, đặc biệt là các văn bản hướng dẫn cụ thể về xây dựng các mô hình nông nghiệp tuần hoàn cho cá nhân hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp.
Hai là, tăng cường nhận thức và năng lực thực hiện nông nghiệp tuần hoàn. Nhận thức là yếu tố quan trọng nhất để thực hiện triển khai mô hình nông nghiệp tuần hoàn. Muốn vậy, cần phát huy vai trò của truyền thông để phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, những quy định của pháp luật về khuyến khích phát triển mô hình KTTH nói chung và nông nghiệp tuần hoàn nói riêng; nâng cao nhận thức, chuyên môn nghiệp vụ về nông nghiệp tuần hoàn cho người dân, doanh nghiệp và nhất là các nhà quản lý về nông nghiệp.
Ba là, hoàn thiện bộ tiêu chí để nhận diện, phân loại và đánh giá mức độ phát triển nông nghiệp tuần hoàn, từ đó có những kế hoạch và giải pháp để phát triển hơn nữa các mô hình nông nghiệp tuần hoàn.
Bốn là, tăng cường nguồn lực để thực hiện chuyển đổi sang phát triển nông nghiệp tuần hoàn do việc chuyển đổi này sẽ đòi hỏi về nhân lực, công nghệ và tài chính lớn[1].
Năm là, xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu và các mô hình mẫu để các cá nhân, tổ chức quan tâm đến nông nghiệp tuần hoàn có thể tìm hiểu, nghiên cứu và áp dụng; tăng cường học hỏi kinh nghiệm và hợp tác quốc tế trong phát triển mô hình nông nghiệp tuần hoàn.
Sáu là, cần tìm thị trường đầu ra và có các cơ chế ưu đãi cho sản phẩm của mô hình nông nghiệp tuần hoàn. Đây là động lực thúc đẩy các cá nhân, hộ gia đình, các hợp tác xã và doanh nghiệp tham gia tích cựcvào nông nghiệp tuần hoàn.
ThS. Nguyễn Văn Tiến
Hội Khoa học kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
[1]Cụ thể: (i) Xây dựng đội ngũ chuyên gia, có năng lực đào tạo về nông nghiệp tuần hoàn cho cán bộ quản lý, người dân và doanh nghiệp; (ii) Đào tạo nguồn nhân lực cho các cá nhân, hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp thực hiện mô hình nông nghiệp tuần hoàn từ khâu thiết kế đến triển khai thực hiện và vận hành; (iii) Tăng cường nghiên cứu, phát triển khoa học công nghệ để thúc đẩy phát triển mô hình nông nghiệp tuần hoàn với nguyên tắc là giảm sử dụng tài nguyên đầu vào, kéo dài vòng đời sản phẩm, giảm chất thải; (iv) Có những ưu đãi tài chính nhất định cho việc phát triển nông nghiệp tuần hoàn.
