Một số vấn đề xã hội đặt ra trong mối quan hệ phát triển bền vững ở nước ta

Trong quá trình phát triển của các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, phát triển bền vững (PTBV) là xu thế tất yếu. Thời gian qua, nhận thức sâu sắc vai trò của PTBV trong bối cảnh hội nhập, Việt Nam đã luôn bám sát các mục tiêu, nguyên tắc chung của PTBV để có chủ trương, hành động thiết thực cho việc phát triển nhanh, bền vững.

1. Tình trạng về những vấn đề xã hội đặt trong mối quan hệ phát triển bền vững

Trong thời gian qua thực hiện cam kết quốc tế, Việt Nam đã triển khai Chương trình hành động quốc gia để thực hiện Chương trình nghị sự 2030 và 17 mục tiêu phát triển bền vững (SDG) với 115 mục tiêu cụ thểphù hợp với điều kiện và bối cảnh phát triển của Việt Nam để mọi thành phần có thể tham gia, đảm bảo nguyên tắc “không ai bị bỏ lại phía sau”. Việt Nam đã đạt được những tiến triển rõ rệt, đáng chú ý nhất là trong các nội dung, như: Xóa đói giảm nghèo, đảm bảo nước sạch và vệ sinh, tiếp cận giáo dục chất lượng, đảm bảo bao phủ y tế phổ quát, tạo việc làm và tăng cường bao phủ của hệ thống an sinh xã hội... Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn gặp phải những thách thức lớn trong thực hiện các SDG[1].

ảnh minh họa

Thứ nhất, về cân đối cung cầu trong lao động - việc làm

Những năm qua, thị trường lao động (TTLĐ) đã đạt được những kết quả khả quan, trở thành động lực thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chuyển mạnh lao động nông nghiệp sang làm việc khu vực sản xuất hàng hóa, kinh tế, có quan hệ lao động. Tỷ trọng lao động trong nông nghiệp giảm nhanh, từ 48,3% năm 2011 xuống còn 27,54% năm 2022; tỷ trọng lao động trong khu vực có quan hệ lao động tăng nhanh, từ 35% năm 2011 lên 53,81% năm 2022; thu nhập của người lao động dần được cải thiện: Tiền lương bình quân thực tế theo tháng của người lao động làm công hưởng lương có tốc độ tăng khá nhanh, đạt 12,15% giai đoạn 2011-2022. Hệ thống dự báo cung - cầu lao động, thông tin TTLĐ, dịch vụ việc làm được thiết lập thực hiện chức năng tư vấn, kết nối cung - cầu lao động, giới thiệu việc làm, cung ứng lao động trên TTLĐ trong nước và ngoài nước[2].

Năm 2023, sau gần một năm triển khai Nghị quyết số 06/NQ-CP, ngày 10/01/2023 của Chính phủvề phát triển TTLĐ linh hoạt, hiện đại, hiệu quả bền vững và hội nhập nhằm phục hồi nhanh kinh tế - xã hội, với những chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ các giải pháp của Chính phủ, các bộ, ngành, nên mặc dù nhiều khó khăn, nhưng TTLĐ Việt Nam đã có sự phục hồi và phát triển, các chỉ số cơ bản của thị trường lao động đều có chiều hướng tích cực so với cùng kỳ năm 2022. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2023, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt mốc52,4 triệu người, tăng hơn 666,5 triệu người so với năm 2022; tỷ trọng tham gia lực lượng lao động là 68,9%, tăng 0,3 điểm phần trăm so với năm trước. Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm năm 2023 đạt 51,3 triệu người, tăng 683,0 nghìn người (tương ứng tăng 1,35%) so với năm 2022. Tính chung năm 2023, lực lượng lao động đã quađào tạo cóbằng, chứng chỉ ước tính là khoảng14,1 triệu người, chiếm tỷ lệ 27,6%, tăng 0,6 điểm phần trăm so với năm 2022.Thu nhập bình quân tháng của lao động làm công hưởng lương năm 2023 là 8,0 triệu đồng, tăng 5,8%, tương ứng tăng khoảng 433 nghìn đồng so với năm trước. Tuy nhiên, sự phát triển chưa cân đối của TTLĐ đã có ảnh hưởng đến thực hiện SDG, như:

(1) Chất lượng cung lao động còn nhiều bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng cầu lao động của một TTLĐ hiện đại, linh hoạt, bền vững và hội nhập[3]. Thực tế, các doanh nghiệp tốn rất nhiều thời gian và chi phí đào tạo, trong khi Nhà nước cũng tốn chi phí xây dựng trường lớp, duy trì bộ máy,nhưng không thể chiêu sinh. Đáng lo ngại, nhiều cơ sở giáo dục, đào tạo nghề không được cấp phép thành lập, nhưng tự trao bằng, chứng chỉ sai quy định, đào tạo thiếu bài bàn, thiếu chuyên môn, gây hậu quả xấu khi học viên ra hành nghề.

(2) Tỷ lệ lao động ở khu vực phi chính thức có sự lệch pha khá lớn so với khu vực chính thức. Điều này không chỉ dẫn đến sự bất ổn định của TTLĐ, mà còn khiến cơ hội việc làm của nhiều người lao động phi chính thức rơi vào tình trạng bấp bênh, điều kiện làm việc và quyền lao động không được bảo đảm, cuộc sống khó khăn.

(3) Sự chuyển dịch cơ cấu ngành giữa khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; khu vực công nghiệp và xây dựng; khu vực dịch vụ đã chậm lại. Nếu các năm 2020 và 2022, tỷ trọng lao động trong ngành Nông nghiệp giảm lần lượt là 1 điểm và 1,6 điểm phần trăm, thì đến năm 2023 chỉ giảm 0,6 điểm phần trăm.

(4) Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên còn cao. Số thanh niên từ 15 - 24 tuổi thất nghiệp năm 2023 khoảng 437.300 người, chiếm 41,3% tổng số người thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên năm 2023 là 7,63%[4].

(5) Số lao động không sử dụng hết tiềm năng cao. Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng năm 2023 là 4,3%[5]. Điều này phản ánh tình trạng dư cung về lao động, cũng như mức độ “lệch pha” giữa cung và cầu lao động trên thị trường. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế phát triển bình thường, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng luôn tồn tại và thường tăng cao khi thị trường chịu các cú sốc về kinh tế - xã hội.

Quảng Ninh là một trong những địa phương có tốc độ phát triển kinh tế mạnh của cả nước.

Thứ hai, về mô hình quản lý giáo dục chậm đổi mới

Thời gian qua, ngành Giáo dục đã đạt được một số kết quả nhất định. Chất lượng giáo dục phổ thông cả đại trà và mũi nhọn đều được nâng lên, được quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Nhiều chỉ số về giáo dục phổ thông của Việt Nam được đánh giá cao trong khu vực, như: Tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99%[6]; tỷ lệ học sinh đi học và hoàn thành chương trình tiểu học sau 5 năm đạt 92,08%, đứng ở tốp đầu của khối ASEAN; chương trình đánh giá kết quả học tập tiểu học các nước Đông Nam Á (SEA PLM) năm 2019 đứng vào tốp đầu các nước ASEAN. Tự chủ đại học được đẩy mạnh, chất lượng đào tạo đại học có nhiều chuyển biến tích cực[7]. Bên cạnh những mặt tích cực, ngành Giáo dục còn một số tồn tại, hạn chế:

(1) Tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ vẫn chưa được giải quyết triệt để ở một số địa phương; chất lượng đội ngũ giáo viên chưa đồng đều giữa các vùng miền.

(2) Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông ở một số địa phương chưa phù hợp, còn tình trạng thiếu trường, lớp ở một số khu đô thị, khu công nghiệp; thiếu đất cho xây dựng trường học, đặc biệt là ở các thành phố lớn; quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học và sư phạm còn chậm.

(3) Chất lượng giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học mặc dù đã được nâng lên, nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; việc thực hiện đào tạo liên thông giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học còn hạn chế.

(4) Hệ thống quản lý, quản trị, kết nối, khai thác dữ liệu ngành phục vụ công tác quản lý, điều hành, dạy học còn chưa đồng bộ; một số nơi hạ tầng công nghệ thông tin, thiết bị kết nối còn thiếu, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn,chưa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số…

Thứ ba, về vấn đề dân số ảnh hưởng đến PTBV

Công tác dân số của nước ta những năm qua đã đạt những thành tựu rất đáng tự hào. Từ việc trung bình mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh sản có 6,4 con năm 1960 giảm xuống còn 2,09 con năm 2006 (đạt mức sinh thay thế) và duy trì liên tục đến nay. Tử vong mẹ giảm từ 165/100.000 năm 2000 xuống còn 46/100.000 trẻ đẻ sống năm 2022[8]. Năm 2022, tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi giảm khá nhanh, xuống còn12,1 phần nghìn; tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi giảm xuống 18,9 phần nghìn[9], đưa Việt Nam thành 1 trong 5 nước đang phát triển có mức tử vong bà mẹ, trẻ em giảm nhanh nhất trên thế giới. Tuổi thọ bình quân của người dân tăng lên, đạt 73,7 tuổi vào năm 2023[10]. Những kết quả quan trọng này đã đóng góp đáng kể vào thành tựu phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới, nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân.Điều này cũng cho thấy, khả năng hoàn thành một số mục tiêu PTBV theo lộ trình đến năm 2030 của Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề dân số hiện cũng đang gặp 5 thách thức lớn đối với PTBV như:

(1) Di dân chưa phù hợp. Sự xuất hiện vấn đề di cư tự do, do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, dẫn đến hệ quả tất yếu là khó kiểm soát về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Điều này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến thực hiện SDG[11].

(2) Mất cân bằng giới tính tăng cao. Tỷ số giới tính khi sinh (SRB) có xu hướng tăng ở tất cả các tầng lớp nhân dân, các nhóm kinh tế - xã hội, có thể gây nhiều hệ lụy trong tương lai, như: Bất bình đẳng giới tăng cao; cơ cấu dân số không phù hợp, thiếu hụt nữ giới ở một số nhóm tuổi... Điều này, dưới góc nhìn của quản lý về phát triển xã hội, mất cân bằng giới tính tăng cao sẽ khiến Việt Nam khó có thể đạt được SDG.

(3) Quy mô dân số và mật độ dân số gia tăng, phân bố không đồng đều gây khó khăn cho quá trình PTBV. Theo dự báo, năm 2024, dân số của Việt Nam có thể sẽ tăng thêm 638.730 người và đạt 99.808.889 người vào đầu năm 2025[12]. Gia tăng dân số dẫn đến lực lượng lao động lớn và tăng nhanh, gây sức ép đối với việc làm, y tế, giáo dục và các vấn đề xã hội khác.Mặt khác, quy mô dân số tăng nhanh làm gia tăng tốc độ khai thác tài nguyên (đất, rừng, nước...). Khi tài nguyên cạn kiệt, môi trường ô nhiễm, khí hậu biến đổi nhanh sẽ gián tiếp ảnh hưởng đến quy mô, chất lượng dân số.

(4) Tốc độ già hóa dân số tăng nhanh. Già hóa dân số và cơ cấu dân số già không hợp lý sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội, như: Thiếu lực lượng lao động, năng suất lao động giảm; nguy cơ gia tăng đói nghèo và bất bình đẳng giới, hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi quá tải.Nếu không có chính sách thích ứng với già hóa dân số trong tương lai, sẽ không đạt được mục tiêu PTBV.

(5) Chất lượng dân số thấp, chỉ số phát triển con người (HDI), đặc biệt là tầm vóc và thể lực chậm được cải thiện. Nước ta vẫn là một trong 15 quốc gia có chiều cao thấp nhất thế giới. Trong 30 năm qua, chiều cao trung bình của thanh niên Việt Nam chỉ tăng được 3cm.

          2. Khuyến nghị và giải pháp

Từ tình hình về những vấn đề xã hội quan trọng đặt trong mối quan hệ PTBV tại Việt Nam nêu trên có thể khuyến nghị và đề xuất một số giải phápnhằm phát triển trong thời gian tới, như sau:

Một là, về lao động - việc làm

- Có chính sách khuyến khích hình thành và phát triển nhanh TTLĐ trình độ cao (lao động có kỹ năng trình độ cao, lao động lành nghề), tạo môi trường cho lao động chất lượng cao tự do di chuyển giữa các ngành, vùng và lĩnh vực nhằm thúc đẩy chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế và lao động theo hướng hiện đại, phát triển kinh tế tri thức, tham gia tích cực vào chuỗi giá trị toàn cầu và phân công lao động quốc tế.

- Tăng cường đầu tư, phát triển các ngành kinh tế tạo nhiều việc làm bền vững. Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế gắn với PTBV theo hướng nâng cao chất lượng, tạo nhiều việc làm mới có năng suất, chất lượng cao. Đầu tư nguồn lực cho các chương trình, dự án tạo nhiều việc làm bền vững. Đa dạng hóa các nguồn tín dụng để tạo việc làm mới, sáng tạo, chất lượng cao, bền vững; việc làm xanh; việc làm cho đối tượng yếu thế, vùng sâu vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số.

- Đầu tư phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng của TTLĐ (hệ thống dự báo cung - cầu lao động, cơ sở dữ liệu lớn TTLĐ, thông tin TTLĐ và dịch vụ việc làm) hiện đại, áp dụng công nghệ cao. Hệ thống này cần được phát triển rộng khắp trên cả nước, được chuyển đổi số để kết nối, liên thông TTLĐ trong nước và kết nối với TTLĐ quốc tế.

Hai là, về giáo dục

- Trao quyền tự chủ, đồng thời phân bổrõ ràng chức năng, quyền hạn trong công tác quản lý giáo dục; Liên tục rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh thể chế, chính sách, luật pháp thuộc nội dung quản lý giáo dục; Làm rõ trách nhiệm của việc quản lý nhà nước với công tác tự chủ của cơ sở giáo dục.

-Hoàn thiện các nội dung thể chế để xây dựng các định mức, không cào bằng các vùng miền khác nhau. Đối với các địa phương, cần đẩy mạnh sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông gắn với nâng cao chất lượng giáo dục, hình thành trường phổ thông nhiều cấp. Đồng thời, rà soát, sắp xếp, điều chỉnh lại mô hình lớp học một cách hợp lý, thu gọn các điểm trường trên nguyên tắc thuận lợi cho người dân và phù hợp với điều kiện thực tế của vùng, miền, địa phương.

- Chủ động linh hoạt trong việc bố trí, sử dụng chỉ tiêu biên chế tự chủ; khắc phục tình trạng thừa, thiếu giáo viên khi thay đổi quy mô học sinh giữa các năm học.

- Xây dựng cơ chế, chính sách đào tạo cũng như đãi ngộ hợp lý với đội ngũ quản lý cũng như đội ngũ giảng dạy trực tiếp. Đồng thời, cần có quy định cụ thể về chế độ, kinh phí, lộ trình, cam kết đào tạo theo nhiều cấp độ cho đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy, giúp họ có cơ hội tiếp cận với kiến thức hiện tại và chuyên sâu.

- Thực hiện quy hoạch mạng lướicơ sở giáo dục nghề nghiệp theo lộ trình mang tính mở, yêu cầu đạt tiêu chuẩn quy định về bảo đảm quy mô, cơ cấuvề ngành, nghề phù hợp tình hình phát triển kinh tế của đất nước, tuy nhiên cũng cần có sự phân cấp về chất lượng, chú trọng giáo dục nguồn nhân lực chất lượng cao.

- Các cơ sở giáo dục đồng bộ triển khai áp dụng Khung trình độ quốc giađã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Bên cạnh đó, xây dựng các chuẩn đầu ra phù hợp với cơ sở giáo dục theo Khung trình độ quốc gia có tham chiếu các tiêu chuẩn năng lực của các nước trong khu vực và quốc tế.

Ba là, về dân số

- Điều chỉnh chính sách dân số và phát triển theo hướng duy trì mức tăng quy mô dân số hợp lý, đảm bảo sự ổn định của mức sinh thay thế. Ðối với các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, nơi có tỷ lệ sinh cao, cần có chính sách hạn chế sinh con để đạt được sự cân bằng về tỷ lệ giới tính khi sinh và tạo ra cơ hội cho quy mô dân số và sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong khi đó, các vùng như Ðông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, nơi có tỷ lệ sinh thấp hơn, cần áp dụng chính sách khuyến khích sinh con để tăng tỷ lệ giới tính khi sinh. Ngoài ra, nhóm dân tộc ít người có nguy cơ giảm, cần từng bước can thiệp điều chỉnh mức sinh.

- Điều chỉnh chính sách dân số và phát triển theo hướng bảo đảm sự công bằng trong tỷ lệ giới tính khi sinh với 104 - 107 bé trai/100 bé gái. Cần sửa đổi, bổ sung pháp luật về Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Trẻ em theo hướng tiệm cận với các nước phát triển.

- Các chính sách về già hóa dân số cần được quan tâm, chú trọng. Tạo điều kiện, khuyến khích người cao tuổi đóng góp nhiều hơn nữa thông qua việc tiếp tục cống hiến sức lao động, chia sẻ, giáo dục kinh nghiệm công tác cho đội ngũ trẻ. Theo đó, cần có chính sách thu hút người cao tuổi, trước hết là nhóm người mới về hưu[13]tiếp tục tham gia vào hoạt động lao động sản xuất, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. Bổ sung, sửa đổi hệ thống chính sách an sinh xã hội, trọng tâm là chính sách lao động - tiền lương và bảo hiểm xã hội nhằm khai thác hiệu quả thời cơ “dân số vàng” ngay từ bây giờ, để dân số cao tuổi Việt Nam giai đoạn năm 2030 - 2045 có tuổi thọ cao và sức khoẻ tốt.

- Điều chỉnh chính sách y tế nhằm nâng cao chất lượng dân số và tận dụng nguồn nhân lực hiệu quả. Theo đó, sự tập trung vào việc phát triển cả về thể lực và trí lực của người dân là điều cần thiết. Đặc biệt, trong bối cảnh của cuộc CMCN 4.0, yếu tố trí tuệ đóng vai trò quan trọng trong việc xác định khả năng sáng tạo lao động của con người.

- Có chính sách di cư thích hợp. Hỗ trợ người di cư trở về quê hương nhằm tận dụng tri thức và kinh nghiệm đã thu nhận được, đồng thời khuyến khích chuyển giao tri thức, kinh nghiệm tới những nhóm xã hội khác tại quê hương. Thiết kế các chính sách hỗ trợ vay vốn, tạo điều kiện giúp các doanh nhân khởi nghiệp ở quê nhà. Nghiên cứu bổ sung chính sách lao động di cư để đảm bảo quyền an sinh xã hội, quyền tiếp cận giáo dục, việc làm; tạo mọi điều kiện để cho người dân có nơi cư trú hợp pháp, đảm bảo công bằng xã hội phát triển sinh kế.

ThS. Phạm Quốc Huy

 

[1] Như: ứng phó với các vấn đề toàn cầu, rủi ro về khí hậu và môi trường, áp lực phải thực hiện các cam kết quốc tế và đảm bảo cân bằng với phát triển, nguồn lực tài chính, cũng như dữ liệu cho giám sát và báo cáo.

[2]https://tapchilaodong.vn/phat-trien-thi-truong-lao-dong-linh-hoat-hieu-qua-ben-vung-trong-boi-canh-moi-1330088.html.

[3]Với khoảng 38 triệu lao động chưa qua đào tạo từ sơ cấp trở lên.

[4]Tổng cục Thống kê (2023), Thông cáo báo chí về tình hình dân số, lao động việc làm quý IV và năm 2023.

[5]Tổng cục Thống kê (2023), Thông cáo báo chí về tình hình dân số, lao động việc làm quý IV và năm 2023.

[6]Đứng thứ 2 khu vực ASEAN, sau Singapore.

[7]https://vietnamnet.vn/bo-truong-phung-xuan-nha-neu-9-thanh-tuu-va-5-han-che-cua-nganh-giao-duc-708724.html.

[8]https://dangcongsan.vn/cham-soc-va-nang-cao-suc-khoe-nhan-dan-trong-tinh-hinh-moi/no-luc-giam-ti-le-tu-vong-me-va-tu-vong-tre-em-648366.html.

[9]Tổng cục Thống kê (2023), Niên giám Thống kê năm 2022, Nxb Thống kê.

[10]Tổng cục Thống kê (2023), Thông cáo báo chí về tình hình dân số, lao động việc làm quý IV và năm 2023.

[11]Tăng cường hoàn thiện chính sách dân số bảo đảm quản lý phát triển xã hội bền vững, Tạp chí Lý luận chính trị, số 542.

[12]https://danso.org/vietnam/#:~:text=D%C3%A2n%20s%E1%BB%91%20Vi%E1%BB%87t%20Nam%20(n%C4%83m%202024%20%C6%B0%E1%BB%9Bc%20t%C3%ADnh%20v%C3%A0%20l%E1%BB%8Bch%20s%E1%BB%AD)&text=Trong%20n%C4%83m%202024%2C%20d%C3%A2n%20s%E1%BB%91,ng%C6%B0%E1%BB%9Di%20ch%E1%BA%BFt%20%C4%91%E1%BA%BFn%20705.124%20ng%C6%B0%E1%BB%9Di.

[13]Những người có khả năng lao động.