Quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển xã hội bền vững trong tư duy phát triển mới của Đảng

Trong giai đoạn phát triển mới, quản lý hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội ngày càng trở thành những yêu cầu có tính nền tảng đối với phát triển đất nước. Đây không phải là những vấn đề mới xuất hiện, mà là những nội dung đã được Đảng từng bước bổ sung, phát triển trong quá trình đổi mới và trước những yêu cầu mới của thực tiễn.

Từ Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, đến các văn kiện Đại hội XIII, Đại hội XIV và các chủ trương, kết luận mới của Trung ương, nhận thức về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội ngày càng toàn diện hơn.

Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV

Điểm đáng chú ý là tư duy của Đảng về những vấn đề này không phát triển theo hướng bổ sung đơn thuần ngày càng nhiều mục tiêu về tài nguyên, môi trường hay khí hậu, mà ngày càng làm rõ hơn mối quan hệ giữa các mục tiêu đó với mô hình phát triển đất nước. Từ yêu cầu chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường được đặt ra trong Nghị quyết số 24-NQ/TW, tư duy tiếp tục được phát triển theo hướng chủ động phòng ngừa, nâng cao khả năng chống chịu trước thiên tai, biến đổi khí hậu; gắn bảo vệ môi trường với chất lượng tăng trưởng, phát triển bền vững; đồng thời đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí ngày càng quan trọng trong nâng cao năng lực quản lý và dự báo.

Đặc biệt, Kết luận số 75-KL/TW, ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới tiếp tục phát triển và cụ thể hóa tư duy đó trong bối cảnh mới. Việc Trung ương ban hành một kết luận chuyên đề về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu ngay trong nhiệm kỳ khóa XIV cho thấy đây ngày càng được nhìn nhận không chỉ là yêu cầu của một lĩnh vực quản lý, mà là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với mô hình phát triển và chất lượng tăng trưởng của đất nước.

Từ đó có thể thấy một dòng phát triển tương đối rõ trong tư duy của Đảng: từ quản lý từng nguồn lực, từng vấn đề sang quản trị tổng thể các quan hệ phát triển; từ xử lý hậu quả sang chủ động phòng ngừa, thích ứng và nâng cao khả năng chống chịu; từ khai thác dựa nhiều vào nguồn lực tự nhiên sang phát huy mạnh hơn nguồn lực tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và dữ liệu.

Từ khai thác tài nguyên sang quản lý và sử dụng bền vững

Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Quy mô và tiềm lực nền kinh tế ngày càng được nâng cao, đời sống nhân dân được cải thiện, kết cấu hạ tầng được đầu tư, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo từng bước trở thành động lực quan trọng của phát triển. Tuy nhiên, quá trình phát triển cũng đặt ra những vấn đề mới về hiệu quả sử dụng tài nguyên, chất lượng môi trường, biến đổi khí hậu và khả năng chống chịu của nền kinh tế - xã hội[1].

Trong quá trình đó, nhận thức về tài nguyên cũng từng bước được phát triển. Từ chỗ tài nguyên chủ yếu được nhìn nhận như nguồn lực đầu vào cho tăng trưởng, yêu cầu đặt ra ngày càng rõ hơn về quản lý, bảo vệ, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững, bảo đảm lợi ích lâu dài và lợi ích giữa các thế hệ. Nghị quyết số 24-NQ/TW đã đặt vấn đề tăng cường quản lý tài nguyên, coi tài nguyên là nguồn lực quan trọng của đất nước, đồng thời yêu cầu khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững.

Trước bối cảnh đó, tư duy phát triển cần có sự chuyển biến tương ứng. Nghiên cứu Văn kiện Đại hội XIV cho thấy sự chuyển dịch rõ nét từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu; từ khai thác tài nguyên sang quản lý tài nguyên bền vững; từ quản lý phân tán sang quản lý tích hợp; từ xử lý ô nhiễm sau khi phát sinh sang phòng ngừa, kiểm soát rủi ro từ sớm; từ ứng phó bị động sang chủ động thích ứng và nâng cao khả năng chống chịu[2].

Theo hướng tiếp cận này, tài nguyên thiên nhiên không chỉ là nguồn lực đầu vào cho tăng trưởng mà còn phải được nhìn nhận như một loại tài sản chiến lược quốc gia, gắn với trách nhiệm bảo đảm lợi ích lâu dài và lợi ích giữa các thế hệ. Việc quản lý đất đai, nước, khoáng sản, rừng, biển và đa dạng sinh học cần được thực hiện trên cơ sở tổng thể, gắn với bảo vệ môi trường, an ninh tài nguyên, biến đổi khí hậu và phát triển xã hội.

Đây là sự thay đổi có ý nghĩa quan trọng về tư duy quản lý. Đối với tài nguyên đất, yêu cầu không chỉ là khai thác quỹ đất để phục vụ tăng trưởng mà phải nâng cao hiệu quả sử dụng, hạn chế lãng phí, suy thoái và gắn quản lý đất với bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu và bảo đảm công bằng xã hội. Đối với tài nguyên nước, quản lý cần chuyển mạnh sang cách tiếp cận tổng hợp theo lưu vực, bảo đảm an ninh nguồn nước, hài hòa giữa nhu cầu phát triển và duy trì chức năng của hệ sinh thái[3]. Đối với khoáng sản, khai thác phải đi đôi với sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và phục hồi môi trường sau khai thác[4].

Cùng với đó, kinh tế tuần hoàn được xác định là một hướng đi quan trọng nhằm kéo dài vòng đời vật liệu, tái sử dụng, tái chế và phục hồi tài nguyên. Từ mô hình truyền thống “khai thác - sản xuất - tiêu dùng - thải bỏ”, phát triển kinh tế cần từng bước chuyển sang mô hình coi chất thải của quá trình này là đầu vào của quá trình khác, qua đó vừa giảm áp lực lên tài nguyên nguyên sinh, vừa tạo động lực cho đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Như vậy, vấn đề đặt ra không chỉ là khai thác tài nguyên hiệu quả hơn mà là thay đổi cách thức nhìn nhận và quản trị nguồn lực tự nhiên trong tổng thể mô hình phát triển. Tài nguyên phải được bảo toàn, sử dụng tiết kiệm, phát huy giá trị và được đặt trong mối quan hệ với sức chịu tải của môi trường, yêu cầu thích ứng với biến đổi khí hậu và lợi ích lâu dài của đất nước.

Sản xuất năng lượng điện gió ở Nhà máy Điện gió Hòa Bình 5

Bảo vệ môi trường phải được đặt ngay từ đầu trong quá trình phát triển

Cùng với sự phát triển trong nhận thức về tài nguyên, tư duy về bảo vệ môi trường cũng từng bước chuyển từ xử lý hậu quả sang chủ động phòng ngừa. Nghị quyết số 24-NQ/TW đã xác định bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững, nhấn mạnh yêu cầu phòng ngừa, kiểm soát và khắc phục ô nhiễm, bảo vệ hệ sinh thái và đa dạng sinh học.

Đại hội XIII tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Trong quá trình đó, bảo vệ môi trường ngày càng gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, sử dụng hiệu quả tài nguyên và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Đại hội XIV tiếp tục khẳng định yêu cầu không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế, đồng thời nhấn mạnh bảo vệ môi trường là một trong những điều kiện quan trọng của phát triển bền vững. Yêu cầu bảo vệ môi trường ngày càng được đặt ngay trong quá trình hoạch định và tổ chức phát triển, thay vì chỉ được xem xét khi những tác động tiêu cực đã xuất hiện. Theo đó, các yêu cầu về môi trường cần được tích hợp ngay trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các quyết định đầu tư. Kiểm soát ô nhiễm từ nguồn, phục hồi hệ sinh thái suy thoái, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển kinh tế xanh và sản xuất - tiêu dùng bền vững trở thành những thành tố gắn bó chặt chẽ với mô hình phát triển mới.

Đây cũng là điểm cho thấy sự phát triển trong tư duy quản lý: bảo vệ môi trường không còn được đặt bên ngoài hoặc sau quá trình phát triển, mà ngày càng trở thành một bộ phận cấu thành của chính quá trình phát triển. Nói cách khác, yêu cầu môi trường phải được tính đến ngay từ khi xác định mục tiêu, lựa chọn phương án và tổ chức thực hiện các hoạt động phát triển.

Kết luận số 75-KL/TW, ngày 28/7/2026 tiếp tục nâng yêu cầu này lên một bước mới khi đặt bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong bối cảnh của “thời kỳ mới”. Kết luận được ban hành trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, với yêu cầu vừa đẩy nhanh tăng trưởng, vừa chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng xanh, bền vững và nâng cao chất lượng tăng trưởng. Theo đó, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu cần được đặt ở vị trí phù hợp trong các quyết định phát triển, gắn với chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp và nâng cao khả năng chống chịu. Điểm cần nhấn mạnh là Kết luận số 75-KL/TW không tách bảo vệ môi trường khỏi bài toán phát triển, mà đặt vấn đề môi trường trong chính yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng và chuyển đổi mô hình phát triển. Đây là một bước phát triển đáng chú ý trong tư duy: từ yêu cầu “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng” tiến tới yêu cầu bảo vệ môi trường phải trở thành một thành tố của chất lượng tăng trưởng và một nền tảng của mô hình phát triển mới.

Biến đổi khí hậu càng làm rõ hơn yêu cầu này. Những hiện tượng như xâm nhập mặn, hạn hán, bão lũ cực đoan, sạt lở, suy giảm nguồn nước đang cho thấy rủi ro khí hậu có thể tác động trực tiếp đến sản xuất, cơ sở hạ tầng, sinh kế và ổn định xã hội. Vì vậy, nâng cao năng lực dự báo, phòng ngừa, thích ứng và khả năng chống chịu của hệ thống phát triển là yêu cầu ngày càng cấp thiết.

Từ Nghị quyết số 24-NQ/TW đến Chỉ thị số 42-CT/TW, ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, có thể thấy rõ sự chuyển dịch từ yêu cầu “ứng phó” sang nhấn mạnh “chủ động phòng ngừa”, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, giảm thiểu thiệt hại và bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhà nước và nhân dân.

Sau một thời gian triển khai Chỉ thị số 42-CT/TW, Kết luận số 213-KL/TW, ngày 21/11/2025 của Ban Bí thư tiếp tục yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai. Đây là bước tiếp nối quan trọng, cho thấy yêu cầu chủ động phòng ngừa, dự báo, cảnh báo và nâng cao năng lực của cả hệ thống ngày càng được đặt ở vị trí trọng tâm. Nếu Chỉ thị số 42-CT/TW nhấn mạnh việc chuyển mạnh sang chủ động phòng ngừa và nâng cao năng lực ứng phó, thì Kết luận số 213-KL/TW tiếp tục đặt yêu cầu trong bối cảnh mới, gắn công tác phòng, chống thiên tai với quy hoạch, phát triển hạ tầng, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và năng lực quản lý; phương thức tiếp cận cũng từng bước chuyển từ ứng phó với từng sự kiện sang quản trị rủi ro thiên tai và nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống.

Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050 đã xác định rõ yêu cầu chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm mức độ dễ bị tổn thương và tổn thất do khí hậu, đồng thời tăng cường giảm phát thải khí nhà kính[5]. Cùng với đó, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050 xác định tăng trưởng xanh là phương thức quan trọng để thực hiện phát triển nhanh và bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm phát thải[6].

Như vậy, thích ứng với biến đổi khí hậu ngày càng được đặt trong một tư duy rộng hơn về khả năng chống chịu của nền kinh tế - xã hội. Mục tiêu không chỉ là giảm thiệt hại khi thiên tai xảy ra, mà phải chủ động nhận diện nguy cơ, dự báo diễn biến, chuẩn bị năng lực và tổ chức nguồn lực để giảm thiểu tác động ngay từ trước khi rủi ro trở thành tổn thất.

Phát triển bền vững phải lấy con người làm trung tâm

Một điểm quan trọng trong tư duy phát triển được làm rõ trong các văn kiện của Đảng là mối quan hệ hữu cơ giữa tài nguyên - môi trường - xã hội. Tài nguyên là nền tảng vật chất của phát triển; môi trường là điều kiện tồn tại và phát triển; còn con người vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu và động lực của quá trình phát triển.

Do đó, phát triển bền vững không thể chỉ được đánh giá bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế. Chất lượng môi trường, hiệu quả sử dụng tài nguyên, khả năng chống chịu của nền kinh tế và mức độ bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội phải trở thành những tiêu chí quan trọng của chất lượng phát triển.

Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh quan điểm lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển. Điều đó đặt ra yêu cầu gắn quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu với những vấn đề trực tiếp liên quan đến đời sống nhân dân như sức khỏe, việc làm, sinh kế, điều kiện sống và khả năng chống chịu trước các cú sốc kinh tế, xã hội, thiên tai và biến đổi khí hậu.

Kết luận số 75-KL/TW tiếp tục làm rõ hơn ý nghĩa của yêu cầu này khi đặt mục tiêu cải thiện thực chất chất lượng môi trường sống của nhân dân, nâng cao năng lực chống chịu trước biến đổi khí hậu và hướng tới xây dựng hệ thống quản trị môi trường hiện đại. Theo đó, bảo vệ môi trường không chỉ là bảo vệ tài nguyên thiên nhiên hay kiểm soát ô nhiễm, mà trực tiếp gắn với chất lượng cuộc sống và lợi ích của nhân dân.

Theo cách tiếp cận này, quản lý tài nguyên không chỉ nhằm bảo đảm nguồn lực cho sản xuất mà còn phải bảo đảm lợi ích lâu dài của xã hội và các thế hệ tương lai. Chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là yêu cầu bảo vệ sinh kế, giảm tổn thương và bảo đảm ổn định xã hội.

Cùng với đó là yêu cầu hiện đại hóa quản trị xã hội, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao tính công khai, minh bạch và khả năng tiếp cận bình đẳng đối với các dịch vụ cơ bản. Phát triển nông thôn hiện đại, đô thị hóa bền vững, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền và bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau là những nội dung có quan hệ trực tiếp với mục tiêu phát triển bền vững.

Như vậy, tư duy phát triển mới không đặt kinh tế, môi trường và xã hội ở ba “ngăn” riêng biệt mà yêu cầu xử lý trong một chỉnh thể thống nhất. Tăng trưởng kinh tế phải tạo ra chất lượng cuộc sống tốt hơn; bảo vệ môi trường phải trở thành một phần của chiến lược tăng trưởng; còn chính sách xã hội phải góp phần nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng và tạo nền tảng cho phát triển dài hạn.

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt

Để hiện thực hóa những yêu cầu trên, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có vai trò đặc biệt quan trọng. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là một đột phá quan trọng, tạo động lực phát triển mới cho đất nước[7]. Đối với lĩnh vực tài nguyên, môi trường và phòng, chống thiên tai, ý nghĩa của Nghị quyết số 57-NQ/TW không chỉ nằm ở việc đưa thêm công nghệ vào từng khâu công việc, mà quan trọng hơn là tạo điều kiện hình thành phương thức quản lý, dự báo và ra quyết định dựa nhiều hơn trên dữ liệu, tri thức khoa học và công nghệ.

Trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, các công nghệ như viễn thám, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, hệ thống thông tin địa lý, quan trắc tự động và mô hình dự báo cho phép nâng cao năng lực giám sát, phân tích, dự báo và hỗ trợ ra quyết định. Quản lý tài nguyên trong tương lai sẽ ngày càng dựa trên dữ liệu và khả năng phân tích, dự báo theo thời gian thực; bảo vệ môi trường không chỉ dựa vào kiểm tra, xử lý mà còn phải dựa vào khả năng giám sát liên tục và phát hiện sớm; phòng, chống thiên tai không chỉ dựa vào ứng phó mà phải dựa vào hệ thống quan trắc, mô hình hóa, cảnh báo và hỗ trợ quyết định.

Trong mối quan hệ đó, Kết luận số 75-KL/TW có thể được nhìn nhận như một bước tiếp nối quan trọng: những yêu cầu về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới không thể thực hiện hiệu quả nếu thiếu năng lực khoa học, công nghệ, dữ liệu, dự báo và đổi mới sáng tạo. Nói cách khác, khoa học và công nghệ ngày càng trở thành một bộ phận cấu thành của năng lực quản trị môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, chứ không chỉ là công cụ hỗ trợ cho quản lý.

Đây cũng là lĩnh vực Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam có truyền thống và năng lực nghiên cứu nổi bật. Trong nhiều thập niên, Viện đã triển khai các chương trình điều tra tổng hợp Tây Nguyên, điều tra biển và thềm lục địa, xây dựng Atlas quốc gia; phát triển công nghệ vệ tinh, viễn thám phục vụ giám sát tài nguyên, môi trường và phòng, chống thiên tai. Những kết quả như VNREDSat-1, các chương trình nghiên cứu môi trường, xử lý ô nhiễm, quan trắc và cảnh báo thiên tai đã góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho quản lý và hoạch định chính sách[8].

Trong giai đoạn 2020 - 2025, Viện Hàn lâm được cấp 292 bằng độc quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời tiếp tục duy trì vị thế là một trong những cơ quan nghiên cứu hàng đầu cả nước về công bố quốc tế và nghiên cứu cơ bản. Trong chuyển đổi số, Viện cũng đã triển khai nhiều hướng nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, viễn thám và mô hình hóa phục vụ các bài toán phát triển quốc gia.

Những kết quả đó cho thấy vai trò của khoa học không chỉ dừng ở việc tạo ra tri thức mới mà ngày càng phải gắn trực tiếp với yêu cầu thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học cho hoạch định chính sách, hỗ trợ địa phương và doanh nghiệp giải quyết những vấn đề cụ thể về tài nguyên, môi trường, năng lượng, biến đổi khí hậu và phát triển xã hội.

Trong giai đoạn mới, yêu cầu đặt ra cao hơn là phải biến tri thức và công nghệ thành năng lực giải quyết vấn đề của quốc gia. Từ nghiên cứu cơ bản để hiểu quy luật, đến quan trắc và xây dựng dữ liệu; từ dữ liệu đến mô hình hóa, dự báo; từ kết quả dự báo đến quyết định quản lý và giải pháp công nghệ - đó là một chuỗi liên kết cần được tổ chức ngày càng chặt chẽ hơn.

Đưa tư duy phát triển bền vững vào thực tiễn bằng hành động đồng bộ

Một trong những yêu cầu quan trọng để thực hiện hiệu quả các định hướng của Đại hội XIV là đổi mới phương thức quản lý và tăng cường liên kết giữa các chủ thể. Các vấn đề về tài nguyên, môi trường, khí hậu và xã hội ngày càng có tính liên ngành, liên vùng, vì vậy không thể giải quyết hiệu quả bằng tư duy quản lý phân tán.

Đây cũng là sự tiếp nối và phát triển một yêu cầu đã được đặt ra từ Nghị quyết số 24-NQ/TW, đó là quản lý tổng hợp, thống nhất, liên ngành, liên vùng đối với biến đổi khí hậu, tài nguyên và môi trường. Điểm mới trong giai đoạn hiện nay là yêu cầu này phải được thực hiện trong một bối cảnh phát triển phức tạp hơn, với sự hỗ trợ ngày càng mạnh của khoa học, công nghệ, dữ liệu và chuyển đổi số.

Kết luận số 75-KL/TW tiếp tục đặt yêu cầu bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong tổng thể quá trình phát triển, gắn với nâng cao chất lượng tăng trưởng, chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp và nâng cao năng lực chống chịu. Điều đó đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp, các địa phương và các chủ thể của nền kinh tế, đồng thời phải gắn mục tiêu môi trường với quy hoạch, đầu tư và tổ chức phát triển.

Hoàn thiện thể chế, tăng cường phối hợp liên ngành, liên vùng; lồng ghép các mục tiêu môi trường và khí hậu vào quy hoạch; phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; tăng cường hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức khoa học và người dân là những yêu cầu có ý nghĩa quyết định.

Đối với khoa học và công nghệ, vấn đề đặt ra không chỉ là nâng cao năng lực nghiên cứu mà còn phải tạo ra sự kết nối chặt chẽ hơn giữa nghiên cứu - ứng dụng - chuyển giao - thị trường. Thực tiễn của Viện Hàn lâm cho thấy nhiều kết quả nghiên cứu có giá trị đang được ứng dụng trong quan trắc môi trường, dự báo thiên tai, xử lý ô nhiễm, quản lý tài nguyên và phát triển nông nghiệp, nhưng dư địa để thương mại hóa và mở rộng quy mô ứng dụng còn rất lớn.

Vì vậy, trong giai đoạn tới, cần tiếp tục đổi mới cơ chế tổ chức và tài chính cho khoa học, thúc đẩy các chương trình nghiên cứu liên ngành quy mô lớn, tăng cường liên kết viện - trường - doanh nghiệp - địa phương, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và mở rộng hợp tác quốc tế. Đây là những điều kiện cần thiết để khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực trực tiếp của mô hình tăng trưởng mới.

Quan trọng hơn, cần hình thành năng lực dự báo và chủ động hành động. Đối với những vấn đề có tính hệ thống như biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên, thiên tai hay suy thoái môi trường, hiệu quả quản lý phụ thuộc ngày càng nhiều vào khả năng nhận diện sớm nguy cơ, đánh giá tác động, dự báo xu hướng và chuẩn bị các phương án ứng phó. Đây chính là nơi khoa học, công nghệ và dữ liệu phải được kết nối trực tiếp với năng lực quản trị và ra quyết định.

Hướng tới một Việt Nam phát triển nhanh, xanh và bền vững

Nhìn tổng thể, quá trình phát triển các quan điểm của Đảng về tài nguyên, môi trường, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững cho thấy một dòng tư duy ngày càng được bổ sung và hoàn thiện.

Từ Nghị quyết số 24-NQ/TW năm 2013, Đảng đã đặt biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trong một chỉnh thể, nhấn mạnh yêu cầu chủ động ứng phó, quản lý tổng hợp và phát triển bền vững. Đến Chỉ thị số 42-CT/TW năm 2020 và Kết luận số 213-KL/TW năm 2025, yêu cầu chủ động phòng ngừa, dự báo, cảnh báo, nâng cao năng lực ứng phó và khả năng chống chịu trước thiên tai ngày càng được cụ thể hóa. Cùng với đó, Đại hội XIII và Đại hội XIV tiếp tục đưa các yêu cầu về tài nguyên, môi trường, khí hậu và phát triển bền vững vào tổng thể mô hình phát triển đất nước.

Nghị quyết số 57-NQ/TW mở rộng thêm một phương diện quan trọng của tư duy này: khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là động lực tăng trưởng mà còn phải trở thành nền tảng nâng cao năng lực quản trị và giải quyết những vấn đề phát triển phức tạp.

Đặc biệt, Kết luận số 75-KL/TW, ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới là một dấu mốc mới trong quá trình đó. Kết luận đưa yêu cầu bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu vào bối cảnh phát triển mới, gắn với chuyển đổi xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp và xây dựng năng lực quản trị môi trường hiện đại.

Qua đó có thể nhận diện một bước phát triển rõ nét trong tư duy của Đảng: vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu ngày càng không được nhìn nhận như những yêu cầu cần xử lý bên cạnh quá trình phát triển, mà trở thành một bộ phận cấu thành của chính mô hình phát triển. Quản lý tài nguyên không chỉ nhằm khai thác nguồn lực cho tăng trưởng mà phải bảo đảm giá trị lâu dài của nguồn lực; bảo vệ môi trường không chỉ nhằm khắc phục ô nhiễm mà phải góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng và chất lượng cuộc sống; ứng phó với biến đổi khí hậu không chỉ là giảm thiệt hại mà phải hướng tới nâng cao khả năng chống chịu của cả hệ thống.

Từ đó, tư duy phát triển cũng đòi hỏi phương thức quản trị tương ứng: từ quản lý từng lĩnh vực sang quản trị các mối quan hệ phát triển; từ xử lý hậu quả sang chủ động phòng ngừa, dự báo và thích ứng; từ quản lý dựa chủ yếu vào kinh nghiệm và thông tin phân tán sang quản trị dựa nhiều hơn trên dữ liệu, tri thức khoa học, công nghệ và khả năng dự báo; từ khai thác các nguồn lực tự nhiên sang phát huy đồng thời nguồn lực tự nhiên, nguồn lực con người và nguồn lực tri thức.

Mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 đòi hỏi những định hướng đó phải được chuyển hóa thành chương trình, nhiệm vụ, dự án và hành động cụ thể, với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, các cơ quan quản lý, doanh nghiệp, tổ chức khoa học và người dân. Trong đó, năng lực nghiên cứu, dự báo, cung cấp luận cứ khoa học và phát triển các giải pháp công nghệ phải trở thành một bộ phận thiết yếu của năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách.

Phát triển nhanh, nhưng phải bền vững; tăng trưởng kinh tế, nhưng phải gắn với môi trường và tiến bộ xã hội; khai thác nguồn lực, nhưng phải bảo đảm lợi ích lâu dài và liên thế hệ. Quan trọng hơn, để thực hiện được những yêu cầu đó, phương thức phát triển cũng phải thay đổi theo hướng chủ động hơn, tích hợp hơn và dựa nhiều hơn vào tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và dữ liệu. Đây là một trong những nét nổi bật trong quá trình phát triển tư duy của Đảng về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và xây dựng mô hình phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

PGS.TS. Đỗ Văn Mạnh

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

[1] Theo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

[2] GS.TS. Nguyễn Quang Thuấn, “Quan điểm của Đảng về bảo vệ môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Tạp chí Cộng sản, ngày 23/5/2024.

[3] Quyết định số 1622/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

[4] Nghị quyết số 48/NQ-CP của Chính phủ phê duyệt Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

[5] Quyết định số 896/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050.

[6] Quyết định số 1658/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050.

[7] Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

[8] Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Kỷ yếu 50 năm hình thành và phát triển, Nxb. Khoa học tự nhiên và Công nghệ.