Làn sóng già hóa dân số trên thế giới hiện nay và những yếu tố ảnh hưởng

Tình trạng già hóa dân số đang ngày một gia tăng trên phạm vi toàn cầu, đặt ra nhiều thách thức đối với chính phủ các nước. Tỷ lệ sinh thấp và dân số già hóa đặt ra mối lo ngại về thiếu hụt nguồn nhân lực, làm tăng chi phí trợ cấp xã hội, gây thêm áp lực cho hệ thống y tế, đồng thời giảm triển vọng tăng trưởng của nhiều nền kinh tế.

1. Thế giới đối mặt với làn sóng già hóa dân số

Vấn đề già hóa dân số là một trong những xu hướng nổi bật, đáng quan tâm của thế kỷ XXI, thể hiện ở việc gia tăng tỷ lệ người cao tuổi (NCT) trong tổng dân số một quốc gia hoặc khu vực; có tác động sâu rộng tới mọi mặt đời sống nhân loại. Đây cũng là kết quả tất yếu của quá trình chuyển đổi nhân khẩu học[1]đang diễn ra phổ biến, biểu hiện ở việc tầng lớp NCT gia tăng mạnh do tỷ suất sinh giảm và tuổi thọ trung bình tăng lên. Ngược về quá khứ, năm 1950, thế giới có khoảng 200 triệu người trên 60 tuổi, đến năm 2020, có đến 727 triệu người từ 65 tuổi trở lên và theo dự báo, con số này có thể tăng gấp đôi vào năm 2050 (khoảng 1,5 tỷ người)[2]; ở các vùng ít phát triển hơn, độ tuổi trung vị sẽ tăng từ 26 tuổi (năm 2010) lên 35 tuổi (năm 2050)[3].

Hiện nay, về phân loại hiện tượng già hóa dân số: Một số nhà nghiên cứu phân chia mức độ già hóa tương ứng với các nội dung cụ thể: Dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm 7% - 9,9% tổng dân số được coi là “già hóa”; từ 10% - 19,9% gọi là dân số “già”; từ 20% - 29,9% là dân số “rất già” và trên 30% là dân số “siêu già”[4]. Mỗi quốc gia đều có mức độ và tốc độ già hóa dân số khác nhau, những nơi quá trình này diễn ra muộn sẽ có ít thời gian để đối phó với các tác động hơn; trong ba thập kỷ tới, tỷ lệ NCT tăng nhanh chóng, tuy nhiên, chỉ có một số ít quốc gia đủ khả năng xác định nhóm dân cư cao tuổi nào sẽ có thể sinh sống trong điều kiện sức khỏe ổn định hay là đau ốm, bệnh tật (thông thường, kéo dài tuổi thọ phần nào đồng nghĩa với kéo dài tình trạng sức khỏe kém trong giai đoạn suy kiệt của cơ thể)[5].

Người cao tuổi ở Mỹ

Bên cạnh đó, sự gia tăng tỷ lệ người già trong dân số sẽ gây áp lực mạnh mẽ lên các hoạt động, kế hoạch chi tiêu công, bởi chính quyền các quốc gia phải chi trả lượng lương hưu lớn và trong thời gian dài hơn[6]. Theo đó, với đặc điểm về thể chất, sức khỏe của NCT, nhu cầu chăm sóc y tế và bảo trợ xã hội cũng tăng lên[7]. Chính vì vậy, già hóa dân số yêu cầu chính quyền các quốc gia phải có kế hoạch, giải pháp tháo gỡ toàn diện, bảo đảm ổn định, đáp ứng yêu cầu về sức khỏe cộng đồng cũng như phát triển bền vững kinh tế - xã hội[8].

Những nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng già hóa dân số, đó là: Thứ nhất, tuổi thọ trung bình tăng trên toàn cầu, dẫn đến sự già đi nhanh chóng của dân số toàn thế giới. Thứ hai, đây là kết quả tất yếu của xu hướng giảm sinh, đặc biệt khi điều kiện sống ngày càng được cải thiện, khiến tỷ lệ NCT cao hơn hẳn so với tầng lớp trẻ em[9].

Thực tế trên thế giới hiện nay, hiện tượng già hóa dân số diễn ra sớm nhất ở các nước trình độ phát triển cao, nhưng có tốc độ gia tăng nhanh hơn ở các vùng ít phát triển hơn[10] (trong tương lai, quá trình già hóa có xu hướng giảm đáng kể ở châu Âu và diễn ra mạnh mẽ ở các nước châu Á). Châu Âu và Bắc Mỹ là hai khu vực có tỷ lệ NCT cao nhất; trong khi đó, Bắc Phi, Tây Á và các nước châu Phi ở vùng cận Sahara dự kiến có tốc độ gia tăng nhanh nhất về số lượng NCT trong ba thập kỷ tới[11]. Về tổng thể, theo dự báo, tuổi thọ trung bình toàn cầu dự kiến sẽ đạt 77,2 vào năm 2050 nhờ những tiến bộ của y học, điều kiện vệ sinh, sinh hoạt và dinh dưỡng được cải thiện, cụ thể: châu Á sẽ đạt 78 tuổi; khu vực Bắc Mỹ, châu Mỹ Latinh, châu Âu và châu Đại Dương sẽ đạt khoảng từ 81 đến 84 tuổi; mặc dù châu Phi vẫn có tuổi thọ trung bình thấp hơn mức trung bình của thế giới nhưng sẽ tăng mạnh lên 66 tuổi (năm 2030) và gần 70 tuổi (năm 2050)[12].

Tại châu Âu là khu vực phải đối mặt với tình trạng lão hóa dân số từ nhiều thập niên trước, đến nay, dân số châu Âu đang già đi nhanh chóng do tỷ lệ sinh thấp, trong khi tuổi thọ trung bình ngày càng tăng. Theo dự kiến đến năm 2050, khoảng 30% dân số châu Âu sẽ là NCT[13], đặt ra nhiều vấn đề trong hoạch định chính sách, chương trình hỗ trợ bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội. Ở châu Á, tỷ lệ người già đang gia tăng nhanh chóng, trong khi tỷ lệ sinh giảm ở nhiều nước, do đó, nhiều quốc gia đang phải “căng mình” để xử lý những hệ lụy do tác động của quá trình già hóa dân số. Ví dụ, Nhật Bản là quốc gia có tỷ lệ dân số ở mức siêu già, nhóm dân số cao tuổi đạt khoảng 36,2 triệu người, chiếm 29% tổng dân số (năm 2022); dự báo đến năm 2030, nhóm dân số cao tuổi sẽ tăng lên khoảng 37,3 triệu người, chiếm tới 31% tổng dân số và sẽ là 40% vào năm 2060[14],... Đáng chú ý, tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên đang làm việc đã lên tới 8,62 triệu người, trong đó có 3,5 triệu phụ nữ, nhưng Nhật Bản sẽ vẫn thiếu khoảng 6,44 triệu lao động vào năm 2030[15]. Trong khi đó, năm 2020, dân số của Trung Quốc đạt mốc 1,411 tỷ người (tăng 72 triệu người so với năm 2010); dân số trong độ tuổi lao động (từ 15 - 59 tuổi) giảm xuống còn 894 triệu người, trong đó, người từ 60 tuổi trở lên tăng đến 264 triệu người (chiếm 18,7% dân số), từ 65 tuổi trở lên đạt 190 triệu người (chiếm 13,5% dân số), từ 80 tuổi trở lên đạt 35,8 triệu người (chiếm 2,54% tổng dân số)[16],… Như vậy, lần đầu tiên sau hơn 60 năm, Trung Quốc đối diện với sự sụt giảm dân số, khởi đầu giai đoạn khủng hoảng dân số.

2. Những tác động, ảnh hưởng của quá trình già hóa dân số

Một là, già hóa dân số gây ra sự thiếu hụt nguồn nhân lực lao động khiến nhiều nước phải điều chỉnh chính sách nhập cư, thuê lao động nước ngoài dẫn tới việc hình thành các nhóm lao động có sự khác biệt về văn hóa; nguy cơ xảy ra tình trạng văn hóa ngoại lai xâm nhập, áp đảo văn hóa nội sinh. Mặt khác, tổng số NCT tăng, tỷ suất sinh giảm gây khó khăn trong việc truyền tiếp, kế thừa, gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống, tiềm ẩn vấn đề đứt gãy về mặt văn hóa, ảnh hưởng nghiêm trọng tới bản sắc và sự phát triển bền vững của mỗi cộng đồng, quốc gia - dân tộc. Bên cạnh đó, nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng - an ninh tại các quốc gia cũng bị ảnh hưởng; quá trình tuyển quân và tuyển dụng nhân lực vào quân đội, lực lượng vũ trang sẽ bị giảm sút, hao hụt, khó khăn. Ví dụ: Giai đoạn 2002 - 2022, quy mô quân đội Hàn Quốc đã giảm 27,6%, khiến quốc gia này phải áp dụng phương án kéo dài thời gian tại ngũ của quân nhân (nam giới Hàn Quốc phải hoàn thành nghĩa vụ quân sự bắt buộc từ 18 - 21 tháng và trở thành lính dự bị trong vòng 8 năm sau đó), đồng thời Chính phủ cũng tính toán phương án tuyển nữ giới vào quân đội cùng với đầu tư, áp dụng công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh[17].

Hai là, già hóa dân số là yếu tố kích thích nhu cầu bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội đối với NCT, từ đó, tạo sức ép lớn đối với hệ thống y tế và ngân sách mỗi quốc gia ở mọi cấp hành chính. Ở các nước phát triển, theo ước tính năm 2010, cứ 4 người trong độ tuổi lao động (15 tuổi - 64 tuổi) sẽ hỗ trợ 1 NCT (từ 65 tuổi trở lên); tuy nhiên, tỷ lệ này được dự đoán sẽ giảm xuống còn 3 người trong độ tuổi lao động/1 NCT vào năm 2025[18]. Ví dụ, Nhật Bản là nước có tỷ lệ dân số trên 65 tuổi chiếm 25,1%, khoản chi tiêu an sinh xã hội trong tổng thu nhập quốc dân của nước này đã tăng từ 13,7% (năm 1985) lên 22,8% GDP (năm 2012), khoảng 109,5 nghìn tỷ Yên (trong đó, lương hưu chiếm khoảng 11,2%; chi phí dịch vụ y tế chiếm 7,3%; các chế độ phúc lợi xã hội chiếm 4,3%).

Người cao tuổi gìn giữ và trao truyền các giá trị văn hóa cho thế hệ mai sau

Ba là, tuổi cao khiến sức khỏe thể chất, tinh thần của NCT suy giảm, gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp, di chuyển và có thể bị rơi vào tình cảnh cô đơn, sống tách biệt về mặt xã hội; khó tiếp cận các dịch vụ an sinh; đồng thời, dễ trở thành nạn nhân của các vụ lừa đảo, nhất là lừa đảo sử dụng công nghệ cao. Theo những thống kê gần đây, người dân Mỹ đã mất hơn 1 tỷ USD vì lừa đảo qua mạng; phần lớn nạn nhân là phụ nữ trên 40 tuổi góa chồng hoặc đã ly dị và là người già yếu.

Bốn là, cơ cấu dân số thay đổi khiến quá trình phân phối quyền lực và lựa chọn ứng viên, đại biểu đại diện cho Nhân dân ở các khu vực hành chính trong hệ thống chính trị bị ảnh hưởng, tác động trực tiếp đến quyết sách các quốc gia và vùng lãnh thổ. Bên cạnh đó, khi tỷ lệ NCT gia tăng, tỷ suất sinh giảm sẽ dẫn đến thiếu hụt nguồn lao động trầm trọng ở nhiều nơi, tạo sức ép, thách thức về điều chỉnh thị trường lao động, việc làm; giải quyết xung đột, mâu thuẫn giữa các thế hệ trong thời kỳ dân số già; kìm hãm tốc độ tăng trưởng kinh tế, năng suất sản xuất và đổi mới, suy giảm năng lực cạnh tranh. Ví dụ: Tại Pháp, theo dự báo, đến năm 2030, trung bình mỗi năm, nước này chỉ có khoảng 640.000 thanh niên gia nhập thị trường lao động, trong khi có đến 760 nghìn vị trí tuyển dụng[19]; tại Nhật Bản, tỷ lệ lao động lớn tuổi hiện ở mức cao trong các ngành, dẫn đến tình trạng thiếu nhân lực trầm trọng, như ngành xây dựng và điều dưỡng (15%), ngành vận tải (hơn 10%), tài xế ta xi, xe bus (chiếm tới 30%)[20].

3. Ứng phó của các quốc gia về già hóa dân số

Thứ nhất, khuyến khích, thúc đẩy sự tham gia của một bộ phận dân cư vào các hoạt động kinh tế - xã hội

Đa số các quốc gia, đứng trước tình trạng thiếu hụt lao động, đã và đang nới rộng thời gian làm việc, bằng cách quy định tuổi về hưu muộn hơn so với trước đây. Đặc biệt, trong những ngành lao động trí óc, thời gian làm việc có thể kéo dài hơn. Ở một số quốc gia, tuổi về hưu của lao động trí thức có thể lên đến 70 tuổi.

Mặc dù vậy, vẫn còn nhiều tranh luận về việc kéo dài thời gian trong độ tuổi lao động ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là trong một số ngành có tính độc hại hoặc đòi hỏi cường độ lao động cao.

Tại một số quốc gia, do đặc điểm văn hoá quy định, một bộ phận không nhỏ lực lượng lao động nữ đã từng không tham gia vào thị trường lao động. Chẳng hạn như Nhật Bản, việc khuyến khích lao động nữ tham gia làm việc chính thức, thay vì làm việc bán thời gian, tận dụng những khoảng thời gian không dành cho chăm sóc gia đình, đã được áp dụng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều câu hỏi liên quan đến vấn đề công bằng giữa các lao động theo giới, cũng như vấn đề đào tạo để lao động nữ ở Nhật Bản có thể tham gia các công việc của các doanh nghiệp như các lao động nam.

Thứ hai, đẩy mạnh phát triển khu vực kinh tế bạc

Khu vực kinh tế bạc là hệ thống các ngành sản xuất, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người già. Ở các nền kinh tế có xu hướng già hoá dân số, với sự gia tăng của người già, khu vực kinh tế bạc được đánh giá là có tiềm năng lớn, bởi sức tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ của khu vực này. Báo cáo của nhiều chuyên gia cho thấy, nếu coi khu vực kinh tế bạc của EU là một nền kinh tế thì đó là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới, sau nền kinh tế Mỹ và Trung Quốc. Theo dự báo, khu vực kinh tế bạc của EU có tốc độ tăng trưởng bình quân 5% mỗi năm và đến năm 2025, quy mô của khu vực kinh tế bạc EU sẽ đạt 5,7 nghìn tỷ Euro.

Việc khuyến khích phát triển các ngành sản xuất và dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng, nhu cầu văn hoá và chăm sóc sức khoẻ của người già (trên 50 tuổi) được xem là một trong những chính sách vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa bảo đảm được các mục tiêu chăm sóc người già trong bối cảnh ứng phó với tình trạng già hoá dân số và thiếu hụt lao động của nhiều quốc gia trên thế giới.

Mặc dù vậy, cũng cần lưu ý rằng, tiềm năng của khu vực kinh tế bạc dựa vào nhiều yếu tố, trong đó có năng suất lao động và thu nhập của người lao động. Với các quốc gia phát triển, lao động có năng suất cao giúp cho người lao động khi về già có một khoản tiết kiệm đáng kể, có thể chi trả được các khoản chi phí mua sắm hàng hoá, dịch vụ, nhất là dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, dịch vụ văn hoá, giải trí. Đây là thách thức lớn đối với các nền kinh tế chưa đạt được trình độ phát triển nhưng đã rơi vào tình trạng già hoá dân số.

Thứ ba, khuyến khích lao động nước ngoài

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, một số quốc gia và cộng đồng kinh tế đã có những chính sách nhằm tạo thuận lợi cho việc di chuyển lao động, nhất là lao động có tay nghề, có kỹ năng, nhằm đáp ứng nhu cầu lao động của mỗi nền kinh tế. Các quốc gia thuộc khu vực ASEAN cũng đã có sự đồng thuận trong việc cho người lao động thuộc 8 ngành cụ thể di chuyển thuận lợi, tìm kiếm cơ hội việc làm ở các quốc gia khác. Nhật Bản đã kết hợp giữa việc thu hút lưu học sinh đến nước này du học, đồng thời tạo điều kiện (có giới hạn về thời gian) cho các du học sinh tham gia vào thị trường lao động. Một số quốc gia khác cũng có các chính sách thu hút lao động nước ngoài hoạt động trong những ngành cụ thể, trong đó có dịch vụ hộ lý - vừa đáp ứng nhu cầu lao động, vừa kết hợp với việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho người già.

Mặc dù các chính sách đó có những tác dụng nhất định, nhưng một số báo cáo cũng cho thấy những vấn đề phát sinh như xung đột văn hoá giữa lao động nhập cư với lao động bản địa, vấn đề bất đồng ngôn ngữ... ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sống, môi trường làm việc, đến năng suất lao động và hiệu quả.

Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong các doanh nghiệp và đào tạo nghề

Thiếu hụt lực lượng lao động, đặc biệt là lao động có tay nghề do già hoá dân số đã ảnh hưởng đến khả năng duy trì năng lực cạnh tranh và phát triển của doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, đặc biệt trong bối cảnh ảnh hưởng khó lường của các dịch bệnh, nhiều quốc gia đã và đang khuyến khích các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ, nhất là công nghệ rôbốt vào các hoạt động sản xuất, nhằm giảm nhu cầu sử dụng lao động trong doanh nghiệp.

Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ rôbốt cũng có tính hai mặt, bên cạnh khắc phục tình trạng thiếu hụt lao động do già hoá dân số gây ra, thì lại tạo ra những áp lực giải quyết lao động thất nghiệp, nhất là ở các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi, trong đó có Việt Nam. Một bộ phận của lực lượng lao động phổ thông không được đào tạo và không được trang bị các kỹ năng, năng lực để tham gia vào các nhà máy có công nghệ tự động, hoặc tham gia vào các ngành lao động khác. Bởi vậy, song song với các chính sách khuyến khích, hỗ trợ ứng dụng công nghệ rôbốt vào sản xuất, cần có các chính sách hỗ trợ lao động chuyển đổi nghề hoặc các chính sách giúp người lao động nâng cao được năng suất để nâng cao thu nhập của bản thân và gia đình.

Năng suất là yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển; giúp người lao động có thu nhập đảm bảo cho cuộc sống cá nhân và gia đình. Một số nghiên cứu của các chuyên gia thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, trên cơ sở nghiên cứu so sánh giữa các quốc gia và nghiên cứu về Việt Nam, đã khuyến nghị cần có sự theo dõi về lao động việc làm, sử dụng chỉ báo lao động có năng suất. Bởi đây là yếu tố có ảnh hưởng đến chất lượng của tăng trưởng trong bối cảnh già hoá dân số, dịch bệnh và cách mạng công nghiệp đang thay đổi hoạt động kinh tế - xã hội.

Thứ năm, khuyến khích, tạo điều kiện cho các gia đình trẻ sinh con

Nhiều quốc gia đã và đang triển khai hệ thống các chính sách nhằm khuyến khích thanh niên kết hôn và sinh con. Hệ thống các giải pháp đó bao gồm: (i) Hỗ trợ về tài chính một lần cho các gia đình khi sinh con; (ii) Hỗ trợ y tế chăm sóc sức khoẻ bà mẹ; (iii) Tuyên truyền qua các phương tiện truyền thông nhằm thay đổi nhận thức của các gia đình trong vấn đề sinh con và nuôi dưỡng con cái. Một số quốc gia còn đưa ra chính sách hỗ trợ một phần chi phí học tập cho các gia đình trẻ khi con cái đến tuổi đi học tiểu học; một số thành phố đưa ra chính sách chăm sóc y tế miễn phí cho trẻ em đến trên 7 tuổi, bao gồm cả các chi phí liên quan đến nha khoa.

Tuy nhiên, có rất nhiều các yếu tố ảnh hưởng đến các gia đình trẻ do đó, hiệu quả của hệ thống chính sách ở nhiều quốc gia còn hạn chế, đó là: 

(i) Sự thay đổi nhận thức của giới trẻ ngày nay về việc sinh con và về số con trong một gia đình là cả một quá trình lâu dài, được củng cố qua nhiều thế hệ, và độ trễ giữa đỉnh của của tỷ lệ sinh, do đó, khó có thể kỳ vọng tất cả vào các chính sách tuyên truyền. Chính vì vậy, việc theo dõi tổng tỷ suất sinh qua các năm là một nhiệm vụ quan trọng, bởi theo nhiều chuyên gia, khi tổng tỷ suất sinh giảm dưới một ngưỡng nhất định, khó có chính sách nào có thể đảo ngược được tình trạng sinh đẻ suy giảm đó. 

(ii) Gánh nặng ngân sách tài trợ cho các chương trình này trong bối cảnh lực lượng lao động suy giảm và những đóng góp từ thuế - bao gồm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp - suy giảm. Đặc biệt, với các quốc gia áp dụng cơ chế thu thuế thu nhập cá nhân cả ở cấp Trung ương và cấp địa phương, gánh nặng thuế đối với lực lượng lao động có thể gây ra những tác động tiêu cực, khiến các lao động nói chung và lao động có kỹ năng (có thu nhập cao) sẽ tìm đến những thành phố mới, thậm chí là quốc gia mới có mức thuế thấp hơn để sinh sống và làm việc. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, việc di chuyển lao động thuận lợi khiến cho việc áp đặt các thuế suất thuế thu nhập cá nhân nhằm đảm bảo nguồn thu ngân sách, từ đó đảm bảo chi ngân sách cho các chương trình trở nên khó khăn hơn.

Công Hoàng

[1] Hướng tới cuộc sống lâu dài và nhiều gia đình hơn.

[2]Xem: United Nations: World population ageing 2020 highlights: Living arrangements of older persons (Tạm dịch: Những điểm chính về vấn đề hóa dân số thế giới năm 2020: Sắp xếp lại cuộc sống cho người cao tuổi), New York, 2020,tr.3, https://www.un.org/development/desa/pd/sites/www.un.org.development.desa.pd/files/undesa_pd-2020_world_population_ageing_highlights.pdf

[3]Xem: United Nations: World Ageing Population 2013 (Tạm dịch: Già hóa dân số thế giới năm 2013), New York, 2013, tr. 20, https://digitallibrary.un.org/record/826632?v=pdf

[4]Xem: Trương Thị Ngọc Lan - Phạm Thị Giang: “Thích ứng với già hóa dân số ở Việt Nam”, Tạp chí Quản lý nhà nước, ngày 26-11-2020, https://www.quanlynhanuoc.vn/2020/11/26/thich-ung-voi-gia-hoa-dan-so-o-viet-nam/#:~:text=(Quanlynhanuoc)%20%E2%80%93%20M%E1%BB%99t%20trong%20nh%E1%BB%AFng,s%E1%BB%B1%20ph%C3%A1t%20tri%E1%BB%83n%20b%E1%BB%81n%20v%E1%BB%AFng

[5]Xem: J. Fries: “Aging, natural death, and the compression of morbidity” (Tạm dịch: Già hóa - cái chết tự nhiên và sức ép của bệnh tật), The New England Journal of Medicine, ngày 17-7-1980, https://www.researchgate.net/publication/15816171_Aging_Natural_Death_and_the_Compression_of_Morbidity

[6]Xem: M. VerbiČ: “The ageing population and the associated challenges of the Slovenian pension system” (Tạm dịch: Dân số già và những thách thức tác động đến hệ thống lương hưu ở Slovenia), Financial theory and practice, 2008, số 32, tr. 321 - 338

[7]Xem: M. Bussolo, J. Koettl và E. Sinnott: “Golden aging: Prospects for healthy, active, and prosperous aging in Europe and Central Asia” (Tạm dịch: Già hóa vàng: Triển vọng về tuổi già khỏe mạnh, năng động và thịnh vượng ở châu Âu và Trung Á), The World Bank, Working Paper, 2015; A. Gray: Population Ageing and Health Care Expenditure (Tạm dịch: Già hóa dân số và chi tiêu y tế, chăm sóc sức khỏe), Ageing Horizons, 2019, tr. 15 - 20

[8]Xem: P. Lloyd Sherlock, M. McKee và et al: “Population ageing and health” (Tạm dịch: Già hóa dân số và sức khỏe), The Lancet, ngày 4-4-2012, https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(12)60519-4/fulltext

[9]Một phần là thành tựu trên chặng đường phát triển nhân loại, từ chương trình sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hóa gia đình, tâm lý xã hội, trình độ công nghệ, kinh tế, chính sách dân số, hôn nhân đồng tính, quyền phá thai,…

[10]Xem: United Nations: “World Population Ageing 2013”, Tlđd

[11]Xem: United Nation: World social report 2023: Leaving no one behind in an ageing world (Tạm dịch: Báo cáo tình hình xã hội thế giới năm 2023: Không để ai bị bỏ lại phía sau trong một thế giới già hóa), United Nations Department of Economic and Social Affairs, 2023, tr. 17,  https://www.un-ilibrary.org/content/books/9789210019682/read

[12]Xem: Shogo Kudo, Emmanuel Mutisya và Masafumi Nagao: “Population aging: An emerging research agenda for sustainable development” (Tạm dịch: Già hóa dân số: Một chương trình nghiên cứu mới về phát triển bền vững), Social Sciences, ngày 5-10-2015, https://www.mdpi.com/2076-0760/4/4/940

[13]Xem: “Caring for older people in age-friendly communities” (Tạm dịch: Chăm sóc người cao tuổi trong cộng đồng thân thiện với người già), The Red Cross EU Office, ngày 7-9-2022, https://redcross.eu/latest-news/caring-for-older-people-in-age-friendly-communities_ftn1

[14]Xem: “Việt Nam và Nhật Bản trao đổi kinh nghiệm chăm sóc người cao tuổi”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 29-8-2023, https://dangcongsan.vn/thoi-su/viet-nam-va-nhat-ban-trao-doi-kinh-nghiem-cham-soc-nguoi-cao-tuoi-645280.html

[15]Xem: Bùi Nghĩa, Nguyễn Hữu Hoàng, Nguyễn Thị Hoa: Chính sách đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh,Thành phố Hồ Chí Minh, 2020

[16]Xem: Gia Linh: “Già hóa dân số ở một số nước châu Á”, Tạp chí Con số và sự kiện điện tử, ngày 21-1-2022, https://consosukien.vn/gia-ho-a-dan-so-o-mo-t-so-nuo-c-chau-a.htm

[17]Xem: Cẩm Bình: ““Kẻ thù mới” của quân đội Hàn Quốc”, Tạp chí Một thế giới điện tử, ngày 31-12-2023, https://1thegioi.vn/ke-thu-moi-cua-quan-doi-han-quoc-212564.html

[18]Xem: National Intellegence Council: Global trends 2025: A transformed world (Tạm dịch: Những xu hướng toàn cầu năm 2025: Một thế giới đã thay đổi), Washington DC, tháng 11-2008, tr. 21, https://www.dni.gov/files/documents/Newsroom/Reports%20and%20Pubs/2025_Global_Trends_Final_Report.pdf

[19]Xem: Lâm Anh: “Nỗi lo dân số già của EU”, Báo Quân đội nhân dân điện tử, ngày 11-11-2023, https://www.qdnd.vn/quoc-te/doi-song/noi-lo-dan-so-gia-cua-eu-750847

[20]Xem: Đức Trung: “Gần 40% công ty ở Nhật Bản thuê lao động trên 70 tuổi”, Báo điện tử VNExpress, ngày 26-8-2023, https://vnexpress.net/gan-40-cong-ty-o-nhat-ban-thue-lao-dong-tren-70-tuoi-4642437.html