Xây dựng văn hóa số trong giáo dục
Giáo dục và đào tạo là một lĩnh vực tiên phong trong chương trình chuyển đổi số quốc gia. Với đặc thù sản phẩm đầu ra là chất lượng nguồn nhân lực trẻ, chủ trương ưu tiên chuyển đổi số trong giáo dục của Chính phủ là một chủ trương mang tính chiến lược, thay đổi từ gốc.
Theo đó, bên cạnh việc cung cấp cho giáo viên, học sinh kiến thức, kỹ năng trên nền tảng số, ngành giáo dục còn phải cung cấp nguồn nhân lực có khả năng nhận diện rủi ro, kỹ năng nhận thức, bản lĩnh chính trị vững vàng trong quá trình ứng xử, tương tác trên môi trường mạng.
1. Thực trạng chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo
Chú trọng triển khai chuyển đổi số trên toàn ngành nhưng chưa xác định được danh mục cơ sở dữ liệu và danh mục dữ liệu mở [1]
Báo cáo Tóm tắt Chuyển đổi số quốc gia năm 2023 tại Phiên họp 7 của Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số đã đánh giá về kết quả thực hiện chuyển đổi số năm 2023 với nhiều chỉ số khả quan với 102/126 nhiệm vụ đã hoàn thành theo kế hoạch. Các cơ quan nhà nước đã đưa vào vận hành, khai thác 7 cơ sở dữ liệu quốc gia.
Về số liệu cụ thể, có 64% các bộ, tỉnh đã xác định danh mục cơ sở dữ liệu nhưng không có Bộ Giáo dục và Đào tạo trong danh sách này. Việc công bố kế hoạch và danh mục dữ liệu mở của các bộ, tỉnh trong năm 2023 đã tăng mạnh từ 9% lên 52% so với năm 2022 nhưng trong danh sách những đơn vị công bố chưa có tên Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Theo thông tin từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, để nâng cao năng lực chuyển đổi số trong ngành giáo dục, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022 - 2025, định hướng đến năm 2030”. Ngành này chú trọng đến việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu ngành trong năm 2023, hoàn tất định danh điện tử cho học sinh; xây dựng nền tảng học liệu, kho học liệu số quốc gia, ưu tiên xây dựng một phần hệ thống bài giảng, bài học, tài liệu tham khảo phục vụ học sinh tự học, thầy cô giáo tham khảo, sau đó mở rộng và hoàn thiện từng bước; đối với phát triển năng lực, năm 2023, Bộ Giáo dục và Đào tạo chú trọng xây dựng chuẩn năng lực số cho học sinh, sinh viên, giáo viên, trên cơ sở đó xây dựng giáo trình, tài liệu, tổ chức triển khai bồi dưỡng, lồng ghép vào chương trình giảng dạy ở cơ sở [2]. Tuy nhiên, không có công bố nào từ Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc xác định danh mục cơ sở dữ liệu hoặc công bố kế hoạch, danh mục dữ liệu mở của ngành.
Nền tảng quản trị cơ sở giáo dục đã triển khai đến 100% trường học, ứng dụng hồ sơ điện tử, ứng dụng tương tác nền tảng số được ưu tiên nhưng chưa có kế hoạch xây dựng văn hóa số
Một số dữ liệu từ các báo cáo gần đây cho thấy ngành giáo dục đã thực hiện chuyển đổi số mạnh mẽ trên toàn hệ thống. Những nền tảng quản trị cơ sở giáo dục triển khai tới 100% trường học - các phần mềm kết nối thông suốt với cơ sở dữ liệu (CSDL) giáo dục địa phương và CSDL ngành: Phần mềm quản lý học sinh (quản lý hồ sơ, kết quả học tập, sức khỏe), quản lý đội ngũ cán bộ, quản lý cơ sở vật chất, quản lý thông tin y tế trường học, quản lý kế toán. Việc triển khai các ứng dụng hồ sơ điện tử cũng được ưu tiên, như sổ điểm điện tử, học bạ điện tử (áp dụng chứng thư số); triển khai ứng dụng kết nối, tương tác, trao đổi thông tin giữa phụ huynh với cơ sở giáo dục trên nền tảng số, khuyến khích áp dụng các giải pháp miễn phí như tin nhắn OTT, email, ứng dụng trên thiết bị di động và website giáo dục.
Nhưng, ngay cả khi ngành giáo dục triển khai một số dịch vụ công trực tuyến mức độ toàn trình như đăng kí thi tốt nghiệp trung học phổ thông, nguyện vọng xét tuyển vào đại học hoặc hướng đến toàn trình như dịch vụ công nhận văn bằng chứng chỉ… thì những nỗ lực của ngành giáo dục trong chuyển đổi số vẫn đang dừng lại ở việc sử dụng các ứng dụng công nghệ số, chưa thấy một công bố nào về chủ trương kiến tạo văn hóa số trên môi trường số.
Với công chức, viên chức làm việc trên môi trường số, ngành giáo dục chú trọng cơ sở dữ liệu và kỹ năng sử dụng các sản phẩm dịch vụ số, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá mức độ sử dụng trên môi trường số [3] nhưng chưa xây dựng bộ tiêu chí văn hóa số áp dụng đối với công chức, viên chức, người lao động trong ngành.
Với người dạy, người học và chương trình đào tạo các bậc học, hiện chưa có nội dung đào tạo về văn hóa số trong chương trình đào tạo, trong khi lớp trẻ hiện nay tiếp cận và sử dụng các ứng dụng công nghệ số rất nhiều và từ sớm (ứng dụng đặt xe, ứng dụng đặt đồ ăn, ứng dụng đón trẻ, thương mại điện tử, dịch vụ giao hàng…).
Đặt vào thực tế, sự hình thành ý thức, chuẩn mực, đạo đức, kỹ năng ứng xử văn hóa trên môi trường số là yếu tố then chốt tạo nên chất lượng chuyển đổi số, do vậy, việc nhanh chóng triển khai văn hóa số trong chuyển đổi số của ngành giáo dục là một nội dung cấp thiết nhưng chưa được chú ý đúng mức.
2. Tầm quan trọng của văn hóa số trong giáo dục đào tạo và giải pháp xây dựng
Tầm quan trọng của văn hóa số trong giáo dục đào tạo
Trước hết, nếu ngành giáo dục định rõ những tiêu chí về chuẩn mực ứng xử, đạo đức, giao tiếp trên môi trường số, sẽ giúp cho người học - các công dân số - ý thức được việc gì được làm/nên làm và việc gì không được làm/không nên làm trong quá trình tương tác của họ. Ở lứa tuổi học sinh, sinh viên đang học để trưởng thành, việc định hướng ứng xử, giáo dục nhân cách thông qua các bộ quy tắc, bài giảng của giáo viên có tác dụng hữu hiệu. Với độ phủ sóng của các ứng dụng tương tác gia đình - nhà trường trên nền tảng số miễn phí hiện nay, giáo dục văn hóa ứng xử trên môi trường mạng từ nhà trường đến gia đình là việc thuận lợi, không còn bất kì rào cản thông tin nào và sẽ tạo sức lan tỏa mạnh mẽ nếu đi đúng cách.
Mặt khác, tốc độ, thời gian tương tác của người học trên môi trường mạng mỗi ngày một tăng, nên văn hóa số trong giáo dục và đào tạo trở nên rất cần thiết. Thực tế cho thấy nếu giáo dục văn hóa số không bắt kịp tốc độ phát triển như vũ bão của công nghệ số, thì những hệ lụy kiểu “tay nhanh hơn não”, “đám đông”, “ném đá”, “tạo trend” của giới trẻ có thể trở thành một làn sóng “độc” rất khó kiểm soát.
Việc chú trọng giáo dục nhận thức chân thiện mỹ, tình yêu nước, lòng trung thành với lý tưởng, tình cảm gia đình, nhân ái, sống yêu thương sẻ chia trên cơ sở tiếp biến văn hóa truyền thống - thông qua các nền tảng số, là một cơ hội tốt để định hướng giáo dục tư tưởng cho các công dân số trẻ. Đây là một giác độ quan trọng của văn hóa số.
Với công chức, viên chức làm việc trên môi trường số, lề lối tác phong, giao diện trên môi trường số, bản lĩnh nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của công chức, viên chức, người lao động ngành giáo dục trên môi trường số cần được quy định, hướng dẫn, chế tài và đưa vào thi đua khen thưởng nhằm đảm bảo sức lan tỏa văn hóa số của người làm giáo dục, đáp ứng kỳ vọng của Chính phủ khi để giáo dục ưu tiên triển khai chuyển đổi số.
Với người dạy, người học và chương trình đào tạo các bậc học, việc bản lĩnh ứng xử theo chuẩn mực, đạo đức của con em chúng ta trên môi trường mạng hiện nay đang thả nổi, chủ yếu do gia đình quản lý, thiếu vai trò nhà trường (giáo dục) nếu đó là những hoạt động trên môi trường mạng, đó là điều rất đáng lo ngại. Việc đưa các tiết học về văn hóa ứng xử trên môi trường số là việc làm cấp bách trước mắt. Đội ngũ giáo viên, giảng viên cũng cần được tập huấn về chuẩn mực giao tiếp, về văn hóa số nói chung và ứng dụng văn hóa số trong giáo dục nói riêng, để có kiến thức bắt kịp với công nghệ số, tác động tinh thần tích cực đến học sinh và gia đình các em trong quá trình giáo dục ngày một đa chiều và mở như hiện nay.
Giải pháp xây dựng văn hóa số trong giáo dục
Thứ nhất, xây dựng Bộ tiêu chí phổ cập kỹ năng số của ngành giáo dục: Muốn văn hóa số có tác dụng, thì việc sử dụng các nền tảng số phải thành thạo. Tập huấn sử dụng và sử dụng các nền tảng quốc gia về giáo dục là điều kiện bắt buộc, song hành với văn hóa số. Tổ chức triển khai các chương trình phát triển văn hóa số sâu rộng trong cơ sở giáo dục, người dạy, người học. Tuyên truyền, hướng dẫn và khuyến khích người dân truy cập internet, đăng kí tài khoản và sử dụng các dịch vụ số, trọng tâm là dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ giáo dục, mua bán trực tuyến, mạng xã hội, thanh toán điện tử, khai thác tài nguyên, tiện ích số. Hướng dẫn công chức, viên chức, người lao động, người học kỹ năng an toàn, bảo mật thông tin để tự bảo vệ tài khoản, dữ liệu của mình trên không gian số. Phát triển nền tảng khảo sát người dùng, thu thập ý kiến người dùng, tạo kênh độc lập tổng hợp ý kiến người dân liên quan đến các vấn đề về giáo dục,…
Thứ hai, xây dựng “Bộ quy tắc ứng xử trên môi trường số” cho công chức, viên chức, người lao động làm việc trong ngành giáo dục. Trong đó chú trọng quy định về giao diện, lề lối tác phong, giao tiếp, ứng xử với đồng nghiệp, cấp trên, với người dân và doanh nghiệp… trên môi trường làm việc số. Từ đó, xây dựng hướng dẫn thực hiện văn hóa số đối với đảng viên, tổ chức đảng.
Thứ ba, xây dựng lộ trình để khẩn trương đưa vào chương trình đào tạo các bậc học những nội dung về văn hóa số, chú trọng mục tiêu xây dựng chuẩn mực đạo đức, ứng xử, bản lĩnh chính trị và nhận thức chân thiện mỹ trên môi trường mạng cho cả người dạy và người học. Trong đó, quan tâm việc xây dựng các tiêu chí bổ trợ nhằm chia sẻ, lan tỏa tới người học, người dạy, các công chức, viên chức, người lao động ngành giáo dục về các nét đẹp của hệ giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trên không gian mạng: Khai thác những ưu thế về non sông đất nước, những nét đẹp văn hóa nghệ thuật từ dân gian đến hiện đại nhằm làm nổi bật hình ảnh đẹp đẽ, sinh động của văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam.Bản lĩnh sống và tinh thần đoàn kết, yêu nước, tương thân tương ái của người Việt Nam xưa và nay.
Có thể nói, việc nhận diện, xây dựng bộ quy tắc, bộ tiêu chí văn hóa số ngành giáo dục là việc cần làm sớm để đảm bảo đáp ứng đổi mới căn bản, toàn diện, từ gốc, đặc biệt, để bắt kịp xu hướng chuyển dịch của thời đại số một cách bài bản, tổng quát. Qua đó, các nhà quản lý giáo dục từ trung ương đến địa phương có thể nắm bắt, phối hợp để triển khai xây dựng văn hóa số ngành giáo dục, bắt nguồn từ hệ giá trị văn hóa truyền thống, nhằm quản trị, định hướng tư tưởng, thái độ sống cho sản phẩm giáo dục là các công dân số - lực lượng lao động mới tương lai - đang ngày một đông đảo, trẻ hóa và tương tác toàn cầu.
TS. Nguyễn Thị Bích Hồng
Bộ Giáo dục và Đào tạo
[1] Báo cáo Tóm tắt Chuyển đổi số quốc gia năm 2023
[2] https://moet.gov.vn/giaoducquocdan/tang-cuong-ung-dung-cntt
[3] Bộ GDĐT đã Ban hành bộ tiêu chí đánh giá ứng dụng CNTT và chuyển đổi số cho các cơ sở giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên, bộ tiêu chí đánh giá ứng dụng CNTT và chuyển đổi số cho các cơ sở giáo dục đại học.
