Xây dựng hệ giá trị văn hóa số ở Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi số

“Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” do Thủ tướng Chính phủ ban hành năm 2020 đã đặt mục tiêu Việt Nam trở thành quốc gia số, phát triển môi trường số an toàn, nhân văn, rộng khắp, trong đó, vấn đề nhận thức có ý nghĩa quyết định, người dân là trung tâm của chuyển đổi số.

Từ những số liệu định lượng kết quả chuyển đổi số của Việt Nam, bài viết này phân tích thực trạng của văn hóa số Việt Nam, từ đó chỉ ra tầm quan trọng của việc xây dựng hệ giá trị văn hóa số trên cơ sở tiếp biến hệ giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời đưa ra giải pháp xây dựng hệ giá trị này.

Hội nghị - Hội thảo Chuyển đổi số ngành văn hóa, thể thao và du lịch.

1. Chuyển đổi số quốc gia tác động mạnh mẽ đến hệ giá trị văn hóa Việt Nam

- Lượng người dùng tăng nhanh tạo nên văn hóa số:

Năm 2023, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới xếp hạng chỉ số Đổi mới sáng tạo của Việt Nam đứng thứ 46, tăng 2 bậc so với năm 2022 và liên tiếp duy trì trong nhóm 50 nước dẫn đầu từ năm 2018 đến nay. Theo báo cáo mới đây của Ủy ban chuyển đổi số quốc gia, Việt Nam nằm trong nhóm 10 nước dẫn đầu về số lượng lượt tải mới ứng dụng trên thiết bị di động trong 2 năm liên tiếp (2022, 2023). Số lượng người dùng trên các nền tảng số Việt Nam tăng trưởng 46% so với năm 2022, trong đó nổi bật là ứng dụng Zalo được trên 74 triệu người dùng thường xuyên hằng tháng. Có 60 ứng dụng trên 01 triệu người dùng hàng tháng. Trong đó: 44 ứng dụng có từ 01 - 05 triệu người dùng hằng tháng, 16 ứng dụng di động có trên 05 triệu tài khoản người dùng sử dụng hàng tháng. Thời gian sử dụng trung bình nền tảng số Việt Nam vào khoảng 2,4 giờ/ngày. Theo đó, việc giao tiếp văn hóa số trên môi trường mạng trở nên tất yếu và chiếm một vị trí quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống người dân hiện nay.

- Đặt ra yêu cầu quản trị các giá trị văn hóa số:

Nhìn từ góc độ quản lý chuyển đổi số, với việc giao tiếp văn hóa số trên môi trường mạng trở nên tất yếu và chiếm một vị trí quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống người Việt hiện nay đã đặt ra yêu cầu quản trị các giá trị văn hóa số.

Việc xây dựng các giá trị văn hóa số hứa hẹn là một trong những điều kiện tác động mạnh mẽ, tích cực đến toàn xã hội, trong đó có chất lượng giáo dục, đến việc dạy và học cũng như đổi mới phương pháp giáo dục trên nhiều kênh khác nhau: nhà trường, gia đình, người dạy, người học, nhà quản lý, xã hội,… Tuy nhiên, hiện đang thiếu một bộ tiêu chí nhận diện đồng bộ về văn hóa số để từ đó, công dân số có thể tự điều chỉnh hành vi và mức độ ứng xử văn hóa trên môi trường mạng. Điều đáng quan tâm và lo ngại là nhận thức của người dùng, nhất là lớp người trẻ với ưu điểm tiếp cận nhanh với môi trường mạng nhưng khả năng nhận diện rủi ro lại thiên về cảm tính và thường là diễn ra chậm, muộn (nhận thức sau khi đã có hậu quả). Mạng xã hội, bên cạnh nhiều tiện ích, cũng mang lại cho con người một số bất cập, ví dụ như: bị xâm phạm quyền riêng tư, xúc phạm và bôi nhọ danh dự, nguy cơ bảo mật, bị quấy rối[1]

Ở các địa phương, cơ sở mặc dù quá trình chuyển đổi số đã diễn ra khá nhanh nhưng bộ tiêu chí văn hóa số chưa được các cấp ủy, chính quyền quan tâm, chú trọng. Đơn cử như, ngày 08/5/2023, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh mới ban hành “Bộ Tiêu chí văn hóa số của người Quảng Ninh văn minh, lịch sự trên môi trường số” theo Quyết định số 1151/QĐ-UBND. Theo đó, Bộ Tiêu chí nhằm xây dựng, dần hình thành các giá trị chuẩn mực đạo đức, lối hành xử có văn hóa trên mạng xã hội; từng bước giáo dục ý thức, tạo thói quen tích cực trong các hành vi ứng xử của người Quảng Ninh trên môi trường số có văn hóa, văn minh, lịch sự, an toàn, lành mạnh. Cốt lõi là 4 tiêu chí: Thượng tôn pháp luật, Văn hóa, An toàn, Trách nhiệm cùng những nguyên tắc khuyến nghị các tổ chức, cá nhân nên, không nên làm trên môi trường số[2]. Hiện đây là Bộ Tiêu chí văn hóa số trên môi trường số duy nhất được ban hành.

- Hệ giá trị văn hóa Việt Nam với phương thức lan tỏa kiểu truyền thống

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh trong phát biểu tại Hội nghị văn hóa toàn quốc tổ chức tại Hà Nội ngày 24/11/2021: Việt Nam là một đất nước có hơn 4 nghìn năm lịch sử, trải qua không biết bao nhiêu sự biến đổi, thăng trầm do thiên nhiên và con người gây ra, đã tích lũy, tạo ra và phát huy được nhiều giá trị, bản sắc văn hóa riêng của Dân tộc, làm nên hồn cốt của Dân tộc; đồng thời tiếp thu và góp phần đóng góp vào nền văn hóa chung của nhân loại[3], hướng đến một dân tộc xứng danh có văn hóa cần chú trọng xây dựng văn hóa ứng xử lành mạnh trong xã hội, phát huy giá trị tích cực về thuần phong, mỹ tục; nêu cao tinh thần tương thân, tương ái, đoàn kết; trọng tình nghĩa, trọng công lý và đạo lý xã hội, đồng thời quan tâm hơn nữa đến việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị/hệ giá trị văn hóa dân tộc, giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các vùng, miền của đồng bào các dân tộc, kết hợp với tiếp thu tinh hoa văn hóa của thời đại; phát triển “sức mạnh mềm” của văn hóa Việt Nam, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia trong hiện tại và tương lai.

Có thể nói, hệ giá trị văn hóa Việt Nam vừa mang nét chung phổ quát của hệ giá trị văn hóa nhân loại, vừa hàm chứa tính đặc thù của truyền thống văn hóa Việt là văn hóa của cộng đồng quốc gia đa dân tộc, có đặc thù kinh tế nông nghiệp, có điều kiện tự nhiên, xã hội, phong tục tập quán và tín ngưỡng lâu đời.

Sân khấu hát bội giữa trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh hiện đại

Những giá trị văn hóa Việt Nam tồn tại tự nhiên trong tinh thần và hành vi, ứng xử của người Việt Nam. Trải qua thời gian, sự thay đổi về thể chế, kinh tế, chính trị xã hội đã kéo theo sự tiếp biến văn hóa từ truyền thống tới hiện đại. Theo đó, bên cạnh những giá trị bền vững, được vun đắp, không thể phủ nhận những khoảng trống, khoảng hẫng văn hóa giữa các thế hệ người Việt hiện nay. Đó là diễn biến tự nhiên, hợp quy luật. Và điều chỉnh khoảng trống đó là trách nhiệm của nhà quản lý, cũng là trách nhiệm của từng thế hệ người Việt yêu nước, trọng trí tuệ, trân trọng hệ giá trị văn hóa Việt Nam.

Phương thức truyền tải văn hóa truyền thống là dạy dỗ, lưu truyền từ thế hệ trước đến thế hệ sau trong gia đình (“gia phong”), qua các nghi lễ, hoạt động tín ngưỡng địa phương, qua tác phẩm văn hóa nghệ thuật, qua giáo dục, qua truyền thông,… Đó là một quá trình “cộng cư, cộng mệnh, cộng cảm” giữa những con người cùng cộng đồng, họ lan tỏa cho nhau, chia sẻ, giám sát hoặc vận động nhau cùng giữ gìn giá trị văn hóa chung. Đó là nguyên do để hệ giá trị văn hóa Việt Nam thực sự là một “sức mạnh mềm” đối với con người Việt, đi đâu cũng nhắc nhớ về nguồn cội, giữ gìn bản sắc văn hóa người Việt.

Trong thời đại công nghệ số, phương thức truyền tải, lan tỏa hệ giá trị văn hóa truyền thống đã và đang bị sức ép bởi sự dịch chuyển mối quan tâm từ đời thực sang không gian mạng. Đây là sự đòi hỏi của thời đại.

2. Một số vấn đề đặt ra trong việc truyền tải, lan tỏa, tiếp biến từ văn hóa truyền thống sang văn hóa số

- Nền tảng số quốc gia đang triển khai chậm:

Qua đánh giá của Ủy ban Quốc gia chuyển đổi số, một trong những hạn chế, tồn tại lớn hiện nay là việc triển khai nền tảng số quốc gia còn chậm. Vào năm 2023, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức Diễn đàn quốc gia về phát triển kinh tế số và xã hội số lần thứ nhất tại thành phố Nam Định, với chủ đề “Mang nền tảng số đến hộ gia đình”. Nhưng sự quan tâm của các bộ, ngành đến vấn đề này còn chưa đầy đủ, chưa coi nền tảng số, dữ liệu số là một loại tài sản mới quan trọng của quốc gia để bảo vệ, giữ vững chủ quyền số quốc gia trên không gian mạng. Theo đó, văn hóa số còn là câu chuyện mới mẻ và chưa tạo được sự chú ý tương xứng.

- Kỹ năng số của người dân còn chưa đồng đều, nhân lực số còn thiếu và yếu:

Năm 2024 được dự báo sẽ là năm ứng dụng mạnh mẽ về trí tuệ nhân tạo và trợ lý ảo. Tuy nhiên, nhân lực số là vấn đề lớn mà tồn tại, hạn chế dai dẳng vẫn là chất lượng đào tạo. Sinh viên đào tạo ra không đáp ứng được yêu cầu về kỹ năng và chuyên môn của nhà tuyển dụng. Mặt khác, kỹ năng số của người dân được cho là một tồn tại, hạn chế lớn trong quá trình chuyển đổi số 4 năm qua. Theo báo cáo của Coursera 2023, Việt Nam xếp hạng 55/100 về chỉ số kỹ năng số toàn cầu. Như vậy, sự thiếu hụt về kỹ năng số cơ bản đồng thời là một chỉ báo về thiếu hụt văn hóa số trong môi trường mạng. Đó là những điểm nghẽn về nhận thức cần phải khai thông nếu muốn lan tỏa hệ giá trị văn hóa số Việt Nam trên không gian mạng, khẳng định bản sắc và bản lĩnh Việt Nam.

3. Giải pháp xây dựng hệ giá trị văn hóa số từ nền tảng văn hóa truyền thống

- Phân định khái niệm văn hóa số:

Cùng với công dân số và kết nối số, văn hóa số là một trong ba đặc trưng cơ bản của xã hội số. Nếu như “công dân số” được đặc trưng bởi danh tính số, phương tiện số, kỹ năng số và tài khoản số; “kết nối số” được đặc trưng bởi khả năng kết nối mạng của người dân, bao gồm tỷ lệ người dân được phủ mạng cáp quang, mạng di động bang thông rộng, tỷ lệ người dùng internet, thì “văn hóa số” được đặc trưng bởi mức độ sử dụng dịch vụ công trực tuyến, mức độ sử dụng dịch vụ số trên mạng, mức độ sử dụng các dịch vụ y tế, giáo dục số của người dân.

Nhìn từ tổng quan, xã hội số phát triển phải đi kèm với tạo dựng các giá trị văn hóa phù hợp với thời đại số, trong đó, mọi người dùng đều có cơ hội tiếp cận, tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa thế giới, làm giàu cho đời sống tinh thần của người Việt Nam. Phát huy sức sáng tạo của người dân trong xã hội số, đồng thời bảo vệ họ trước những nguy cơ, đe dọa trong xã hội số.

Có thể nói, văn hóa số là một thành phần không thể tách rời khỏi xã hội số, nó là mạch ngầm kết nối toàn bộ hoạt động của công dân số trền nền tảng của công nghệ số, tạo nền tảng, bản lĩnh tinh thần của người Việt Nam trên con đường chuyển đổi số. Do vậy, việc phân định rõ khái niệm Văn hóa số là giải pháp đầu tiên để quản trị văn hóa số trong thời đại số.

- Xây dựng hệ giá trị văn hóa số Việt Nam trên không gian mạng

Các minh chứng cho thấy hệ giá trị văn hóa là một tổ hợp các giá trị văn hóa được sắp xếp lại thành hệ thống theo những nguyên tắc nhất định. Hệ giá trị văn hóa có tính ổn định lớn và tính bền vững tương đối, ảnh hưởng lớn đến cộng đồng và hóa thân vào các giá trị của đời kế tiếp theo quy luật kế thừa và tái tạo. Theo đó, hệ giá trị văn hóa số trước hết cần được nhận diện là tổ hợp các giá trị văn hóa số được sắp xếp, hệ thống theo những nguyên tắc phù hợp với môi trường mạng, công nghệ số và đặc trưng của công dân số, trên cơ sở tiếp biến, tích hợp những giá trị văn hóa truyền thống. Mục tiêu của việc xây dựng hệ giá trị văn hóa số là tạo nên các chuẩn mực xã hội, định hướng cho sự lựa chọn trong hành động của con người, cá nhân và cộng đồng, hướng dẫn các hành vi của công dân số trên không gian mạng. Nó sẽ có hệ giá trị tổng quát và hệ giá trị bộ phận, trên cơ sở tiếp biến văn hóa truyền thống.

Xây dựng các tiêu chí phổ cập kỹ năng số: Là việc tập huấn sử dụng và sử dụng các nền tảng quốc gia và thực hiện văn hóa số thông qua nền tảng số. Tổ chức triển khai các chương trình phát triển văn hóa số sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân. Tuyên truyền, hướng dẫn và khuyến khích người dân truy cập internet, đăng kí tài khoản và sử dụng các dịch vụ số, trọng tâm là dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục, mua bán trực tuyến, mạng xã hội, thanh toán điện tử, khai thác tài nguyên, tiện ích số… Hướng dẫn người dân kỹ năng an toàn, bảo mật thông tin để tự bảo vệ tài khoản, dữ liệu của mình trên không gian số. Phát triển nền tảng khảo sát người dùng, thu thập ý kiến người dùng, tạo kênh độc lập tổng hợp ý kiến người dân liên quan đến mọi vấn đề của đời sống kinh tế, xã hội.

Xây dựng các tiêu chí bổ trợ nhằm chia sẻ, lan tỏa các nét đẹp của hệ giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trên không gian mạng

Khai thác những ưu thế về non sông đất nước, những nét đẹp văn hóa nghệ thuật từ dân gian đến hiện đại nhằm làm nổi bật hình ảnh đẹp đẽ, sinh động của văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam. Bản lĩnh sống và tinh thần đoàn kết, yêu nước, tương thân tương ái của người Việt Nam xưa và nay.

*

*   *

Có thể nói, việc nhận diện, xây dựng bộ quy tắc, bộ tiêu chí cần đạt được của hệ giá trị văn hóa số là điều cần phải làm sớm để bắt kịp xu hướng chuyển dịch của thời đại số một cách bài bản, tổng quát. Từ thực trạng hiện nay, các nhà quản lý từ trung ương đến địa phương có thể nắm bắt, phối hợp để triển khai, cụ thể những giải pháp xây dựng hệ giá trị văn hóa số từ hệ giá trị văn hóa truyền thống, nhằm quản trị, định hướng tư tưởng, thái độ sống của các công dân số đang ngày một đông đảo hơn.

TS. Nguyễn Thị Bích Hồng

Kiểm định viên chất lượng giáo dục

TS. Triệu Quang Minh

Học viện Chính trị Quốc gia Khu vực I

[1] Phạm Tất Dong (2021), Công dân số và văn hóa số, in trong: Kỷ yếu Hội nghị văn hóa toàn quốc – Triển khai thực hiện nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Hà Nội

[2] Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh (quangninh.gov.vn, truy cập: 09:41 ngày 09/01/2024).

[3] Xem: Nguyễn Phú Trọng: “Ra sức xây dựng, giữ gìn và phát huy những giá trị đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Tạp chí Cộng sản, số 979 (12-2021), tr. 4