Thách thức của già hóa dân số đối với phát triển bền vững ở Việt Nam
Bước sang thế kỷ XXI, dân số Việt Nam xuất hiện nhiều xu hướng chưa từng có tác động mạnh mẽ theo cả hai hướng tích cực và như tiêu cực đến phát triển nhanh, bền vững của nước ta. Chính vì vậy, cần tính toán đầy đủ những xu hướng biến đổi dân số ở nước ta vào chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, đặc biệt chú ý xu hướng dân số Việt Nam đang già hóa nhanh tác động đến phát triển bền vững.
Chính sách dân số đã được Đảng và Nhà nước ta chú trọng suốt hơn 60 năm qua. Mở đầu là Quyết định 216/CP, ngày 26/12/1961 của Hội đồng Chính phủ về việc sinh đẻ có hướng dẫn, với mục đích: “Vì sức khoẻ của người mẹ, vì hạnh phúc và hoà thuận của gia đình, vì để cho việc nuôi dạy con cái được chu đáo”. Do hoàn cảnh chiến tranh, công tác này chưa được đẩy mạnh. Ngay sau khi hòa bình lập lại trên cả nước, Đại hội Đảng lần thứ IV, năm 1976, đã nhấn mạnh chủ trương “Đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, kiên quyết giảm dần tốc độ tăng dân số hàng năm”[1]. Từ đó, vấn đề dân số được đề cập ở văn kiện của tất cả các kỷ Đại hội Đảng và các văn kiện quan trọng khác của Đảng. Đặc biệt, đến nay Ban chấp hành Trung ương đã có 2 nghị quyết chuyên đề về công tác dân số. Đầu tiên là Nghị quyết số 04-NQ/HNTW của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương (khoá VII) về chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình và gần đây là Nghị quyết số 21/NQ-TW của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương (khoá XII) về chính sách dân số trong tình hình mới. Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, việc kiên trì và đẩy mạnh chính sách dân số trong hơn nửa thế kỷ qua, tình hình dân số nước ta đã có nhiều thay đổi căn bản. Tuy nhiên, xu hướng dân số Việt Nam đang già hóa nhanh tác động đến phát triển bền vững là một trong những vấn đề đáng quan tâm hiện nay.
1. Việt Nam - quốc gia già hóa nhanh
Pháp luật Việt Nam quy định những người từ đủ 60 tuổi trở lên là người cao tuổi. Đây là một bộ phận dân số ngày càng lớn, có nhiều đặc trưng chung của tổng thể dân số nhưng cũng mang nhiều nét đặc thù.
Cùng với xu hướng chung của thế giới, người cao tuổi Việt Nam không ngừng tăng lên cả về số lượng và tỷ lệ (Bảng 1). Khi tỷ lệ người cao tuổi đạt mức 10% tổng dân số, người ta nói rằng: Dân số đã bắt đầu bước vào quá trình già hóa. Nếu tỷ lệ người cao tuổi chạm “ngưỡng” 20%, quốc gia được gọi là có “dân số già” và nếu tỷ lệ này đạt tới 30% thì gọi là dân số “rất già”, còn từ 35% trở lên thì gọi là “siêu già”!
Theo thống kê, năm 2011, Việt Nam đã bước vào giai đoạn già hoá dân số và dự báo, năm 2038 sẽ trở thành nước có “dân số già”.
Điều đáng chú ý là: Quá trình già hóa của nước ta chỉ diễn ra trong 27 năm (2011 - 2038) là dân số đã đạt đến ngưỡng “dân số già”. Trong khi đó, Pháp phải mất 115 năm, Thụy Điển 85 năm, Úc 73 năm, Mỹ: 69 năm và Nhật 26 năm. Điều này cho thấy, nhịp độ già hóa ở nước ta diễn ra rất nhanh và nhanh hơn nhiều so với các nước đã phát triển.
2. Những thách thức của già hóa đối với phát triển bền vững
Thứ nhất, người cao tuổi ở nước ta chủ yếu sống ở nông thôn, đa số không có thu nhập thường xuyên
Tổng điều tra Dân số năm 2019 cho thấy: 67,2 % người cao tuổi sống ở nông thôn. Tổng cục Thống kê dự báo: Đến giữa thế kỷ, tỷ lệ này vẫn chiếm khoảng 56%. Cư trú ở nông thôn, nên thế hệ cao tuổi ngày nay phần lớn làm nông nghiệp, là nông dân, hầu hết không có lương hưu. Năm 2021, chỉ có 23% người cao tuổi hưởng lương hưu hoặc trợ cấp từ nguồn Quỹ Bảo hiểm xã hội. Theo dự báo đến năm 2060 cũng chỉ có 10 triệu người hưởng hưu[2], chiếm 31,8% người cao tuổi. Như vậy, an ninh thu nhập của người cao tuổi không chỉ là thách thức hiện nay mà còn cả trong tương lai xa.
Thứ hai, sức khoẻ người cao tuổi không ngừng được cải thiện nhưng vẫn chưa tốt
Cùng với sự phát triển nhanh của nền kinh tế và sự tiến bộ xã hội, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam năm 2021 đã đạt 73,6 năm, cao hơn thế giới (71 năm). Sức khỏe người cao tuổi được cải thiện rõ rệt. Tuổi thọ tăng thêm của những người đạt 65 tuổi trung bình là 16,4 năm (thế giới 16,2 năm). Tình trạng sức khỏe do người cao tuổi tự đánh giá cũng tiến triển tốt dần lên (Bảng 2).
Mặc dù so với thế giới, tuổi thọ trung bình của dân số Việt Nam cao hơn nhưng tuổi thọ khỏe mạnh lại thấp hơn. Năm 2019, nam 60 tuổi của Việt Nam bình quân sống thêm được 12,9 năm khỏe mạnh; nữ là 16,4 năm; các số tương ứng của thế giới là 14,8 và 16,6 năm[3].
Tình trạng người cao tuổi mắc bệnh khá phổ biến, chẳng hạn: 48,5% người cao tuổi bị viêm khớp, đau dây thần kinh hoặc thấp khớp; 40,9% bị tăng huyết áp; 37,5% bị đau nhức cơ thể (thường xuyên); 30,3% bị đau lưng mạn tính; 18,8% bị bệnh về tiêu hóa[4];… người cao tuổi vẫn thường có hành vi có hại cho sức khỏe, như lạm dụng rượu, bia và hút thuốc lá, thuốc lào,…
Thứ ba, cứ 100 người cao tuổi thì có 38 người tham gia lực lượng lao động
Tuổi thọ, tuổi thọ khỏe mạnh ngày càng cao, tỷ lệ có thu nhập thường xuyên và mức hưởng thấp nên nhiều người cao tuổi có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc. Theo Tổng điều tra Dân số 2019, khoảng 4,41 triệu người cao tuổi tham gia lực lượng lao động, chiếm 7,9% lực lượng lao động của cả nước và bằng 38% số người cao tuổi. Khu vực nông thôn, lực lượng lao động cao tuổi chiếm 9,2% lực lượng lao động của khu vực, còn ở đô thị, tỷ lệ này là 5,2%. Năm 2020, số người cao tuổi có việc làm chiếm 8,7% tổng số lao động có việc làm của cả nước, với số tuyệt đối là 4,7 triệu người.[5]
Hàng triệu người cao tuổi đang hoạt động kinh tế vừa phản ảnh khả năng, vừa phản ảnh nhu cầu có việc làm của người cao tuổi, đồng thời là đóng góp lớn cho nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, phần lớn người cao tuổi tham gia lực lượng lao động khó khăn trong tiếp cận việc làm (81,8% đối với nam giới và 69% đối với nữ giới[6]).
Việc làm cho người cao tuổi chẳng những có ý nghĩa kinh tế, an ninh thu nhập, sức khỏe, nhân văn đối với người cao tuổi, giảm bớt khó khăn cho gia đình có người cao tuổi mà còn đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế quốc gia.
Thứ tư, phần lớn người cao tuổi sống với con nhưng tỷ lệ này giảm nhanh
Mối liên hệ giữa các thế hệ trong văn hóa truyền thống Việt Nam là “Trẻ cậy cha, già cậy con”, gia đình thường có “tam, tứ đại đồng đường”. Yếu tố văn hóa và yếu tố kinh tế đã trình bày ở trên vẫn thể hiện rõ trong sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi. Khảo sát năm 2018 cho thấy, 61,3% người cao tuổi đang sống cùng ít nhất một người con. Năm 2009, tỷ lệ người cao tuổi ở riêng (sống một mình hoặc chỉ sống với vợ/chồng) là 18,37% đã tăng lên 27,83% năm 2019.[7] Xu hướng này đồng nghĩa với việc người cao tuổi sống cùng con cháu giảm nhanh. Một đặc điểm của thời đại ngày nay là phụ nữ tham gia lực lượng lao động gần ngang bằng với nam giới. Năm 2029, tỷ lệ nữ trong lực lượng lao động của cả nước là 47,3%[8].
Như vậy, việc “tự cung, tự cấp chăm sóc người cao tuổi” sẽ ngày càng khó khăn do thiếu nhân lực gia đình.
Thứ năm, khác biệt thế hệ, mâu thuẫn thế hệ và xung đột thế hệ
Thế hệ tuổi trẻ (sinh sau Đổi mới 1986) và thế hệ cao tuổi (sinh trước năm 1964) ở Việt Nam sinh ra và lớn lên trong bối cảnh hết sức khác biệt, như: Chiến tranh và hòa bình; kinh tế bao cấp, nghèo khó và kinh tế thị trường, khá giả; đóng cửa và mở cửa; thủ công và internet;…
Sự khác biệt nói trên được phản ảnh trong từng gia đình, cộng đồng và xã hội. Nếu không vượt qua được sự khác biệt giữa hai thế hệ, không có sự chia sẻ, thấu hiểu sẽ dẫn đến mâu thuẫn giữa thế hệ trẻ và thế hệ già. Không giải quyết được mâu thuẫn sẽ dẫn đến xung đột. Người cao tuổi yếu thế về nhiều mặt sẽ luôn là nạn nhân của xung đột. “Trong giai đoạn 2009 - 2017, tổng số vụ bạo lực gia đình các địa phương đã phát hiện, tổng hợp báo cáo là 292.268 vụ, tính trung bình mỗi năm tổng hợp được 36.534 vụ bạo lực, nạn nhân là phụ nữ chiếm hơn 70%, trẻ em là 15% và người già khoảng 10%”[9].
GS, TS. Nguyễn Đình Cử
Nguyên Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội
Trường Đại học Kinh tế quốc dân
[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV. NXB Sự thật. Hà Nội, 1977
[2] Nguyễn Vinh Quang. Bảo hiểm xã hội và vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam. Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam. Kỷ yếu hội thảo khoa học thường niên về nghiên cứu con người. Hà Nội 2023
[3] Tổ chức Y tế thế giới (WHO). https://apps.who.int/gho/data/view.main.HALEXv?lang=en
[4] Vũ C.N, Trần T.M, Đặng T.L, Chei C-L, và Saito Y (eds.) (2020), Người cao tuổivà sức khỏe tại Việt Nam. Jakarta: ERIA and Hà Nội: PHAD.
[5] Tổng cục Thống kê. Báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2020.NXB Thống kê. Hà Nội, 2021.
[6] Trịnh Thu Nga, Đỗ Thị Kim Huế. Già hóa dân số và các vấn đề an sinh xã hôi ở VN. Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam. Kỷ yếu hội thảo khoa học thường niên về nghiên cứu con người. Hà Nội 2023.
[7] Nguyễn Thị Ngọc Hà. Mô hình sắp xếp cuôc sống của người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số. Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam. Kỷ yếu hội thảo khoa học thường niên về nghiên cứu con người. Hà Nội 2023.
[8] Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương. Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở 2019. NXB Thống kê. Hà Nội, 12-2019.
[9]Bộ VH, TT và DL. Trang thông tin Vụ Gia đình.Nghiên cứu ở trong nước về phòng, chống bạo lực gia đình.Ngày 25-02-2024. http://giadinh.bvhttdl.gov.vn/nghien-cuu-o-trong-nuoc-ve-phong-chong-bao-luc-gia-dinh/
