Tập trung tham mưu giải quyết các vấn đề dân số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Xây dựng hệ thống an sinh xã hội toàn diện, hoàn thiện các chính sách dân số theo hướng khuyến sinh; nghiên cứu và can thiệp vào nguyên nhân người trẻ trì hoãn sinh con; giảm áp lực và gánh nặng khi sinh con và nuôi con nhỏ.

1. Những thách thức đối với dân số Việt Nam hiện nay

Dân số vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của mỗi quốc gia, dân số là “mẫu số chung” cho mọi bài toán phát triển kinh tế - xã hội; quy mô, cơ cấu và chất lượng dân số là nền tảng cốt lõi chi phối an sinh xã hội, giáo dục, y tế và hoạch định chiến lược chính sách vĩ mô. Tuy nhiên, hiện nay dân số Việt Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn, gồm: mức sinh xuống thấp, già hóa dân số nhanh, mất cân bằng giới tính khi sinh và chất lượng dân số chưa cao.

Chính sách dân số ở Việt Nam: Từ “sinh đẻ có hướng dẫn” đến “dân số và phát triển”

1.1. Mức sinh xuống thấp

Mức sinh là một trong những chỉ báo nhân khẩu học quan trọng nhất, không chỉ góp phần quyết định quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số mà còn tác động mạnh đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Nếu mức sinh quá cao so với mức chết sẽ dẫn đến bùng nổ dân số, dễ làm suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên, thách thức các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Ngược lại, nếu mức sinh quá thấp sẽ dẫn đến nguy cơ già hóa dân số nhanh, thiếu hụt lực lượng lao động, suy giảm tăng trưởng kinh tế và nhiều vấn đề xã hội khác. Ở Việt Nam hiện nay, tổng tỷ suất sinh năm 2025 là 1,93 con/phụ nữ, thấp hơn mức sinh thay thế là 2,1. Nếu mức sinh duy trì thấp trong thời gian dài sẽ ảnh hưởng đến quy mô và cơ cấu tuổi của dân số trong tương lai, làm suy giảm nhóm dân số trong độ tuổi lao động, thúc đẩy quá trình già hóa dân số và gây áp lực lớn lên hệ thống an sinh xã hội, y tế và chăm sóc người cao tuổi.

Nguyên nhân khiến mức sinh xuống thấp: (1) Điều kiện sống được cải thiện, học vấn nâng cao khiến người trẻ, đặc biệt là phụ nữ, tập trung phát triển sự nghiệp, kết hôn và sinh con muộn, sinh ít hoặc không sinh con. (2) Áp lực kinh tế với chi phí sinh hoạt, nhà ở, nuôi dưỡng và giáo dục con cái ngày càng cao buộc các gia đình trẻ cân nhắc sinh con ít hơn. (3) Các chính sách hỗ trợ gia đình có con nhỏ, đặc biệt tại các khu vực kinh tế, khu công nghiệp, còn hạn chế. (4) Tỷ lệ phá thai và vô sinh, đặc biệt là vô sinh thứ phát, ngày càng gia tăng, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh con của các cặp vợ chồng[1]. (5) Nguồn kinh phí đầu tư vào công tác dân số giảm sau khi kết thúc các chương trình mục tiêu quốc gia[2].

Ngoài ra, hiện nay có sự chênh lệch đáng kể về mức sinh giữa các vùng, miền: một số nơi có mức sinh khá cao như vùng Trung du miền núi phía Bắc (Điện Biên 2,6 con/phụ nữ; Tuyên Quang 2,55; Lào Cai 2,5), Tây Nguyên (2,43 con/phụ nữ); một số địa phương lại có mức sinh rất thấp như Thành phố Hồ Chí Minh (1,43 con/phụ nữ, thấp nhất cả nước), Cần Thơ (1,55), Cà Mau (1,58) và Hà Nội (1,86)[3].

Yêu cầu đặt ra là duy trì mức sinh thay thế, không để mức sinh xuống quá thấp và giữ vững mức sinh đồng đều giữa các vùng, khu vực, nhất là ở các thành phố lớn và vùng kinh tế trọng điểm.

1.2. Già hóa dân số nhanh

Việt Nam là một trong các quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Người từ 60 tuổi trở lên chiếm 14,5% tổng dân số vào năm 2025 và dự báo đến năm 2050 con số này sẽ tăng lên hơn 25%. Dự báo đến năm 2036, Việt Nam bước vào thời kỳ dân số già, chuyển từ xã hội “già hóa” sang xã hội “già”. Sự thay đổi nhân khẩu học này không chỉ do giảm tỷ lệ tử vong và tăng tuổi thọ mà phần lớn là do mức sinh giảm mạnh trong các thập kỷ qua.

Dự báo, tới năm 2051, dân số nước ta sẽ bắt đầu tăng trưởng âm

Già hóa dân số nhanh dẫn đến tình trạng thiếu lao động trong tương lai và nhu cầu an sinh xã hội ngày càng tăng, đặc biệt đối với phụ nữ lớn tuổi. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đạt hơn 74 tuổi nhưng tuổi sống khỏe mạnh chỉ khoảng 65 tuổi[4], tức là trung bình mỗi người có gần 10 năm phải chịu đựng bệnh tật giai đoạn cuối đời. Hệ thống an sinh xã hội tuy tương đối phát triển nhưng cần tăng cường khả năng tiếp cận và mở rộng phạm vi áp dụng cho người cao tuổi. Ở Việt Nam, người cao tuổi thường nhận được sự chăm sóc từ các thành viên trong gia đình, tuy nhiên hỗ trợ từ phía gia đình ngày càng trở nên khó khăn, đặc biệt là ở khu vực thành thị, do mô hình gia đình nhiều thế hệ ngày càng ít đi. Tuy nhiên, sự chuẩn bị cho một xã hội có dân số già hiện còn hạn chế cả về phương diện chính sách, pháp luật, cơ sở vật chất kỹ thuật và tâm lý xã hội.

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để bảo đảm an sinh cho người già, phát huy khả năng của người cao tuổi và duy trì sự hòa thuận giữa các thế hệ.

1.3. Mất cân bằng giới tính khi sinh

Sự mất cân bằng giới tính ở trẻ sơ sinh sẽ tất yếu dẫn đến nhiều hệ lụy xã hội nghiêm trọng: khó khăn trong việc kết hôn; nguy cơ lan rộng các bệnh lây truyền qua đường tình dục do tình trạng quan hệ tình dục ngoài hôn nhân và mại dâm khó kiểm soát; gia tăng tội phạm xã hội như lừa đảo, bắt cóc, buôn bán phụ nữ; phụ nữ có nguy cơ bị ép buộc sinh thêm con hoặc phá thai lựa chọn giới tính.

Vấn đề cần giải quyết là làm thế nào để giữ được sự cân bằng giới tính trong điều kiện tư tưởng trọng nam vẫn còn ảnh hưởng, bất bình đẳng giới còn tồn tại, kỹ thuật hỗ trợ sinh con trai ngày càng phát triển và phổ biến, trong khi xu hướng sinh ít con ngày càng rõ hơn.

1.4. Chất lượng dân số chưa cao

Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam chưa cao và còn chậm được cải thiện. Tầm vóc, thể lực của người Việt Nam tuy có cải thiện nhưng còn chậm; tỷ lệ bệnh, tật bẩm sinh còn cao, làm suy giảm chất lượng dân số về thể chất của các thế hệ tương lai và để lại hậu quả nặng nề cho gia đình và xã hội. Nguyên nhân chủ yếu là do hạn chế trong tiếp cận tư vấn, khám sức khỏe trước hôn nhân; hoạt động tầm soát, chẩn đoán và điều trị sớm bệnh, tật trước sinh và sơ sinh còn chưa được phổ cập rộng rãi; nguồn lực đầu tư cho công tác dân số còn thấp, chưa tương xứng với yêu cầu trong giai đoạn mới.

2. Giải pháp tham mưu giải quyết các vấn đề dân số hiện nay

2.1. Về vấn đề mức sinh giảm

Cần tập trung các giải pháp để duy trì mức sinh thay thế và giữ vững mức sinh đồng đều giữa các vùng, khu vực:

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong bối cảnh chuyển đổi số; tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân số, đặc biệt truyền thông về giá trị của gia đình, lợi ích của việc sinh con và nuôi dạy con tốt. Hình thức tuyên truyền phải phong phú, sáng tạo, phù hợp với xu thế truyền thông hiện đại và nhu cầu tiếp nhận thông tin của người dân; tổ chức các chiến dịch truyền thông quy mô lớn, có trọng tâm, phát triển các sản phẩm truyền thông đa phương tiện, đa nền tảng phù hợp với từng vùng, từng nhóm đối tượng, đặc biệt là thanh niên, các cặp vợ chồng trẻ và người trong độ tuổi sinh đẻ.

Xây dựng hệ thống an sinh xã hội toàn diện, hoàn thiện các chính sách dân số theo hướng khuyến sinh; nghiên cứu và can thiệp vào nguyên nhân người trẻ trì hoãn sinh con; giảm áp lực và gánh nặng khi sinh con và nuôi con nhỏ.

2.2. Về vấn đề già hóa dân số

Cần tập trung các giải pháp để thích ứng với già hóa dân số:

Bảo vệ sức khỏe để giảm chi phí khám, chữa bệnh.

Chi phí điều trị cho người cao tuổi thường cao gấp 8 - 10 lần người trẻ; mặc dù người cao tuổi chiếm khoảng 16% dân số nhưng sử dụng tới trên 50% chi phí điều trị mỗi năm. Vì vậy, cần:

Đẩy mạnh truyền thông để mọi người biết “lo cho tuổi già ngay từ khi còn trẻ”: không hút thuốc, hạn chế rượu bia, an toàn khi tham gia giao thông và chủ động chăm sóc sức khỏe để tránh bệnh tật, thương tật và tàn phế. Phổ biến kiến thức, kinh nghiệm thích ứng với xã hội già hóa, để các thế hệ vượt qua sự khác biệt, sống hòa hợp trong gia đình và ngoài xã hội. Đặc biệt, người từ 40 tuổi trở lên cần được trang bị kiến thức về chăm sóc sức khỏe, việc làm và tài chính để chuẩn bị cho tuổi già.

Chú trọng quản lý và kiểm soát các bệnh mạn tính; ứng dụng các kỹ thuật mới trong chẩn đoán và điều trị sớm, điều trị lâu dài các bệnh mạn tính; xây dựng và củng cố mạng lưới y tế chăm sóc sức khỏe người cao tuổi.

Từng bước xây dựng hệ thống bệnh viện và tổ chức nghiên cứu lão khoa trên phạm vi cả nước; phát triển các chương trình đào tạo điều dưỡng lão khoa phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương.

Đa dạng hóa việc tổ chức cuộc sống, nơi ở và chăm sóc người cao tuổi; có chính sách khuyến khích đẩy mạnh xã hội hóa chăm sóc người cao tuổi; hỗ trợ các Trung tâm bảo trợ xã hội, Trung tâm chăm sóc người cao tuổi do tư nhân xây dựng; kết hợp khuyến khích chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng và từng bước mở rộng dịch vụ chăm sóc tại nhà.

Khuyến khích, hỗ trợ tạo việc làm phù hợp cho người cao tuổi còn khả năng và có nhu cầu làm việc.

Cần có chính sách khuyến khích các cơ sở, đặc biệt là cơ sở ngoài nhà nước, sử dụng lao động người cao tuổi; thành lập các Trung tâm thông tin, tư vấn và giới thiệu việc làm phù hợp cho người cao tuổi.

Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa các hình thức bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội, nhất là đối với nhóm người cao tuổi yếu thế; mở rộng và tiến tới phổ cập hệ thống bảo đảm mức sống tối thiểu cho mọi người cao tuổi.

Nâng cao năng suất lao động xã hội.

Một trong những nguyên nhân khiến năng suất lao động của nước ta còn thấp là lao động chủ yếu ở khu vực nông thôn, trình độ chuyên môn kỹ thuật hạn chế, làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp có năng suất thấp. Do vậy cần dịch chuyển nhanh lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ; đa dạng hóa các hình thức đào tạo chuyên môn, kỹ thuật cho người cao tuổi tại cộng đồng và tại các cơ sở giáo dục, đào tạo; nghiên cứu và học tập kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực này.

Hỗ trợ và khuyến khích phát triển dịch vụ chăm sóc người cao tuổi.

Nhân lực chăm sóc người cao tuổi tại gia đình ngày càng khó khăn (do ít con; con cháu di cư làm ăn xa; phụ nữ tham gia hoạt động kinh tế, xã hội nhiều hơn). Vì vậy, cần có chính sách hỗ trợ và khuyến khích đa dạng hóa hình thức chăm sóc người cao tuổi; hình thành và phát triển hình thức “dịch vụ chăm sóc người cao tuổi” bên cạnh hình thức truyền thống; khuyến khích xây dựng và phát triển các Trung tâm nuôi dưỡng, chăm sóc người cao tuổi thông qua các chính sách về đất đai, vay vốn và đào tạo nguồn nhân lực.

Đồng thời, cần nghiên cứu toàn diện xu hướng già hóa dân số, hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia làm nền tảng cho việc xây dựng và thực thi chính sách, chiến lược thích ứng với già hóa, phát huy nguồn lực người cao tuổi và phát triển bền vững đất nước.

2.3. Về vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh

Có nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh như ảnh hưởng của tư tưởng trọng nam, trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn hạn chế, lạm dụng thành tựu khoa học kỹ thuật để lựa chọn giới tính thai nhi, mức sinh thấp. Vì vậy, cần triển khai cả một hệ thống giải pháp, vừa cấp bách vừa lâu dài:

Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục.

Tư tưởng “trọng nam hơn nữ” đã hình thành từ lâu đời và ăn sâu trong tiềm thức của nhiều người. Để thay đổi được nhận thức đó, cần ứng dụng mạnh mẽ các nền tảng số và phương tiện truyền thông hiện đại; triển khai các hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông với nội dung và hình thức phù hợp từng vùng, từng nhóm đối tượng nhằm tăng cường nhận thức và thực hiện hành vi về bình đẳng giới. Phê phán mạnh mẽ những hủ tục biểu hiện trọng nam hơn nữ; nêu gương phụ nữ, gia đình chỉ có con gái thành đạt, hạnh phúc.

Tăng cường giám sát việc thực thi pháp luật.

Cần tiếp tục tăng cường giám sát việc thực thi pháp luật liên quan đến lựa chọn giới tính thai nhi; xử phạt nghiêm khắc các hành vi vi phạm.

Đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội, hoàn thiện chính sách an sinh xã hội.

Thúc đẩy bình đẳng giới, nâng cao quyền năng của phụ nữ, tạo điều kiện và cơ hội cho phụ nữ và trẻ em gái tiếp cận các cơ hội và nguồn lực phát triển.

Hoàn thiện chính sách an sinh xã hội để người cao tuổi an tâm khi về già dù chỉ có con gái, bao gồm: chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người cao tuổi; hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng; giáo dục ý thức bình đẳng trong phụng dưỡng cha mẹ giữa con trai và con gái. Nhà nước khuyến khích và hỗ trợ hình thành, phát triển đa dạng các trung tâm nuôi dưỡng, chăm sóc người cao tuổi.

Việc đảm bảo cân bằng giới tính theo quy luật sinh sản tự nhiên là cần thiết nhưng vô cùng nan giải, không thể thành công trong “một sớm, một chiều”. Vì vậy, các cấp ủy đảng, chính quyền phải nâng cao nhận thức về hệ lụy xã hội của mất cân bằng giới tính khi sinh; theo dõi sát sao và kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo đề xuất các giải pháp phù hợp khi phát hiện vấn đề trên địa bàn.

2.4. Về nâng cao chất lượng dân số

Tập trung vào các giải pháp sau:

Một là, tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, người dân tộc thiểu số, hộ nghèo, cận nghèo, người có công với cách mạng, người khuyết tật để nâng cao chất lượng dân số; xác định nâng cao chất lượng dân số là trách nhiệm của các bộ, ngành, chính quyền địa phương, của mỗi cá nhân, gia đình và toàn xã hội.

Hai là, xây dựng và triển khai chiến lược truyền thông trong bối cảnh chuyển đổi số; đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về nâng cao chất lượng dân số, trọng tâm là Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

Ba là, xây dựng và triển khai cơ chế lồng ghép các yếu tố dân số trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội; đẩy mạnh lồng ghép yếu tố dân số vào kế hoạch phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực.

Bốn là, đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực và thực hiện chuẩn hóa đội ngũ cán bộ dân số các cấp; tăng cường phối hợp liên ngành trong chỉ đạo, điều phối có hiệu quả các hoạt động liên quan đến dân số và phát triển.

Năm là, phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp để thực hiện các biện pháp nâng cao tầm vóc, thể lực và trí tuệ của con người Việt Nam, đặc biệt thông qua hệ thống y tế chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, vị thành niên và người cao tuổi; xây dựng và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân; tăng cường các dịch vụ xã hội chủ yếu có ảnh hưởng tới chất lượng dân số; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học ứng dụng.

Sáu là, Nhà nước tiếp tục triển khai các mô hình, đề án nâng cao chất lượng dân số như sàng lọc trước sinh và sơ sinh; tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân; giảm tỷ lệ tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống; tư vấn và chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng.

3. Nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm của công tác tham mưu về dân số trong thời gian tới

3.1. Nhiệm vụ

Tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng: theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Kết luận số 149-KL/TW, ngày 10/4/2025 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác dân số trong tình hình mới.

Cập nhật tình hình, số liệu, tổng hợp và đề xuất với Lãnh đạo Ban về các nhiệm vụ, giải pháp giải quyết các vấn đề nảy sinh trong lĩnh vực dân số.

3.2. Giải pháp triển khai thực hiện nhiệm vụ

Một là, tập trung tham mưu Lãnh đạo Ban triển khai thực hiện nghiêm túc, đồng bộ các nghị quyết, kết luận của Đảng về lĩnh vực dân số; chú trọng công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, đối thoại chính sách và tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp với đặc điểm dân số Việt Nam; phát hiện vấn đề mới, xây dựng luận cứ khoa học vững chắc để đề xuất chủ trương, chính sách phù hợp tình hình mới, đảm bảo các quyết sách được xây dựng trên nền tảng dữ liệu, bằng chứng thực tiễn và dự báo dài hạn.

Hai là, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác dân số; tăng cường phối hợp với các ban, bộ, ngành, đoàn thể và địa phương trong triển khai các nhiệm vụ về công tác dân số nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp; kịp thời phát hiện, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc từ cơ sở.

Ba là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác tham mưu, tổng hợp, báo cáo và quản lý điều hành. Tăng cường thông tin, tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với đường lối, chủ trương của Đảng về lĩnh vực dân số.

Vụ Y tế và Thể thao

Ban Tuyên giáo Trung ương

[1] Ước tính khoảng 7,7% các cặp vợ chồng ở Việt Nam vô sinh, trong đó vô sinh lần mang thai thứ nhất chiếm hơn 50% tổng số các trường hợp vô sinh và tăng từ 15 – 20% qua mỗi năm.

[2] Chi cho dân số trong chi y tế, dân số và gia đình giảm từ 4% năm 2018 (301 tỷ đồng) xuống 1,4% năm 2022 (41 tỷ đồng); hiện chỉ còn đạt khoảng 15% so với nhu cầu.

[3] Bộ Y tế, Tổng cục Thống kê.

[4] Báo cáo của Cục Dân số, Bộ Y tế.