Phát huy vai trò tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trong bối cảnh mới
Trong tiến trình đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước, việc huy động trí tuệ, tâm huyết và trách nhiệm của đội ngũ trí thức tham gia hoạch định chủ trương, chính sách, xây dựng pháp luật và triển khai các chương trình, dự án phát triển là yêu cầu khách quan.
Với chức năng tập hợp, đoàn kết và phát huy sức sáng tạo của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã từng bước khẳng định vai trò thông qua hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội, góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho quá trình xem xét, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.
1. Một phương thức phát huy trí tuệ và trách nhiệm của đội ngũ trí thức
Hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội (TVPB&GĐXH) là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam). Xét về chức năng, tư vấn góp phần đề xuất phương án và giải pháp; phản biện xem xét vấn đề từ nhiều chiều, chỉ ra cơ sở khoa học, tác động và những điểm cần hoàn thiện; giám định xã hội góp phần đánh giá mức độ phù hợp, tính khả thi và hiệu quả của chương trình, đề án, dự án. Ba hoạt động có quan hệ chặt chẽ, cùng hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả quản trị quốc gia.
Thực tiễn 43 năm xây dựng và phát triển cho thấy TVPB&GĐXH đã góp phần tạo nên vị thế, uy tín của Liên hiệp Hội Việt Nam, đồng thời thể hiện trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lợi thế nổi bật của Liên hiệp Hội Việt Nam là khả năng tập hợp nguồn lực trí tuệ đa ngành, quy tụ các nhà khoa học, chuyên gia và nhà quản lý có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn - đây là cơ sở để tổ chức nghiên cứu, đánh giá và đề xuất giải pháp đối với những vấn đề lớn của quốc gia, ngành, lĩnh vực và địa phương.
Giá trị của TVPB&GĐXH trước hết được thể hiện ở chất lượng luận cứ, tính độc lập, khách quan và khả năng đưa ra kiến nghị có thể thực hiện được. Phản biện khoa học không đồng nhất với phản đối, cũng không thay thế thẩm quyền quyết định của cơ quan quản lý; đó là quá trình cung cấp thêm căn cứ, phương án và góc nhìn để cơ quan có thẩm quyền cân nhắc đầy đủ hơn trước khi quyết định.
2. Những kết quả và dấu ấn nổi bật
Nhiệm kỳ khóa VIII của Liên hiệp Hội Việt Nam (từ năm 2021 đến nay) đánh dấu bước phát triển quan trọng của hoạt động TVPB&GĐXH. Nội dung và phương thức tổ chức từng bước được đổi mới, gắn chặt hơn với những vấn đề lớn và yêu cầu thực tiễn của đất nước. Nếu trước đây hoạt động chủ yếu tập trung vào các chương trình, dự án đầu tư và quy hoạch phát triển, thì trong khóa VIII phạm vi tư vấn, phản biện đã được mở rộng sang thể chế, chính sách và pháp luật của nhiều ngành, lĩnh vực.
Giai đoạn 2021 - 2025, Liên hiệp Hội Việt Nam đã triển khai 296 nhiệm vụ TVPB&GĐXH từ nguồn kinh phí ngân sách nhà nước ở Trung ương, trong đó Cơ quan Trung ương Liên hiệp Hội Việt Nam trực tiếp triển khai 153 nhiệm vụ và phối hợp, hỗ trợ các hội ngành toàn quốc, Liên hiệp Hội địa phương và các tổ chức khoa học, công nghệ thực hiện 145 nhiệm vụ. Bên cạnh các nhiệm vụ theo kế hoạch, Liên hiệp Hội Việt Nam còn tham gia góp ý nhiều dự thảo chủ trương, chính sách, đề án, chương trình và văn bản quan trọng theo đề nghị của các cơ quan Đảng, Nhà nước, bộ, ngành và địa phương.
Trước yêu cầu hoàn thiện thể chế phát triển, Liên hiệp Hội Việt Nam đã tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học và diễn đàn để lấy ý kiến đội ngũ trí thức về việc triển khai các chỉ thị, nghị quyết quan trọng của Đảng[1]; Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; các quy hoạch phát triển hạ tầng giao thông[2]; chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; chuyển đổi số quốc gia; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; bảo vệ môi trường; ứng phó với biến đổi khí hậu; các dự án luật và chính sách lớn có tác động đến đời sống kinh tế - xã hội.
Trước các kỳ họp của Quốc hội khóa XV, Liên hiệp Hội Việt Nam đã phối hợp tổ chức nhiều hoạt động lấy ý kiến đội ngũ trí thức, tập hợp kiến nghị và đề xuất của các nhà khoa học để gửi tới Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan liên quan, qua đó tiếng nói của giới khoa học được phản ánh thêm vào quá trình xây dựng chính sách, pháp luật.
Vai trò của các hội thành viên và Liên hiệp Hội địa phương cũng ngày càng rõ hơn. Với lợi thế am hiểu chuyên môn và thực tiễn địa bàn, nhiều Liên hiệp Hội địa phương đã trở thành địa chỉ tham vấn của cấp ủy, chính quyền trong quá trình xây dựng chương trình, đề án phát triển. Các Liên hiệp Hội Phú Thọ, Hà Nội, Sơn La, Thanh Hóa, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau... thường xuyên thực hiện nhiệm vụ TVPB&GĐXH theo đặt hàng của cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương. Nhiều hội ngành toàn quốc cũng phát huy thế mạnh chuyên môn, cung cấp thêm cơ sở khoa học để lựa chọn phương án kỹ thuật, hoàn thiện quy trình quản lý và nâng cao hiệu quả đầu tư.
Những kết quả trên cho thấy hoạt động TVPB&GĐXH đã được mở rộng cả về phạm vi, chủ thể tham gia và phương thức tổ chức. Quan trọng hơn, hoạt động này tiếp tục khẳng định Liên hiệp Hội Việt Nam là tổ chức đại diện cho tiếng nói của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, bổ sung cơ sở khoa học cho quá trình ra quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
3. Yêu cầu đổi mới trong bối cảnh mới
Cơ sở chính trị, pháp lý cho hoạt động TVPB&GĐXH ngày càng được hoàn thiện.[3] Đặc biệt, Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới yêu cầu: “Tạo điều kiện cho các hội trí thức, đội ngũ trí thức đóng góp ý kiến, tham gia hoạt động tư vấn, giám sát, phản biện, giám định xã hội”. Đây là định hướng quan trọng để tiếp tục thể chế hóa vai trò của các hội trí thức và phát huy hiệu quả nguồn lực trí tuệ trong quá trình xây dựng, thực thi chính sách.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia tiếp tục đặt ra yêu cầu phát huy mạnh mẽ vai trò của đội ngũ trí thức. Thực hiện chủ trương này, Liên hiệp Hội Việt Nam đã ban hành kế hoạch triển khai, trong đó xác định nghiên cứu, tư vấn chính sách và tham gia phản biện các vấn đề phát triển là những nhiệm vụ trọng tâm.
Bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế tri thức, hội nhập quốc tế sâu rộng cùng những vấn đề ngày càng phức tạp về môi trường, năng lượng, biến đổi khí hậu và quản trị xã hội đòi hỏi hoạt động TVPB&GĐXH phải kịp thời, có chiều sâu và dựa trên bằng chứng. Nhiều vấn đề vượt ra ngoài phạm vi của một ngành, một địa phương, đòi hỏi cách tiếp cận liên ngành, kết hợp dữ liệu khoa học với thông tin thực tiễn và đánh giá đầy đủ tác động kinh tế, xã hội, môi trường.
Từ yêu cầu đó, phương thức hoạt động cần chuyển rõ hơn từ tiếp nhận yêu cầu sang chủ động phát hiện, dự báo và đề xuất vấn đề cần nghiên cứu; từ tập hợp ý kiến sang phân tích chính sách có căn cứ; từ tổ chức theo từng nhiệm vụ riêng lẻ sang xây dựng mạng lưới chuyên gia và cơ sở dữ liệu có khả năng huy động nhanh. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ, cơ chế tài chính và phương thức tiếp nhận, phản hồi đối với kiến nghị sau tư vấn, phản biện.
4. Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động
Phát huy kết quả đã đạt được, Liên hiệp Hội Việt Nam cần tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; nâng cao chất lượng TVPB&GĐXH; qua đó đóng góp thiết thực vào xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế tri thức, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Trọng tâm là thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Một là, chuyển mạnh từ phản biện theo yêu cầu sang chủ động phát hiện, dự báo và đề xuất nhiệm vụ. Liên hiệp Hội Việt Nam và các hội thành viên cần thường xuyên theo dõi thực tiễn, nhận diện sớm những vấn đề bất cập hoặc có tác động lâu dài để kiến nghị nghiên cứu, phản biện. Nội dung ưu tiên cần tập trung vào phát triển kinh tế - xã hội, môi trường, an ninh năng lượng, giáo dục, y tế, phát triển nguồn nhân lực và chất lượng cuộc sống của nhân dân; đồng thời lựa chọn đúng vấn đề mà đội ngũ chuyên gia của hệ thống có thế mạnh và có thể tạo ra giá trị tư vấn rõ ràng.
Hai là, nâng cao tính chuyên nghiệp và chất lượng khoa học của sản phẩm tư vấn, phản biện. Cần chuẩn hóa quy trình từ lựa chọn vấn đề, xây dựng đề cương, thu thập dữ liệu, lựa chọn chuyên gia đến thẩm định và hoàn thiện kiến nghị; coi trọng dữ liệu lớn (Big Data), mô hình thực chứng và phương pháp đánh giá tác động. Cùng với xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên gia, dữ liệu khoa học và dữ liệu thực tiễn, cần hình thành các nhóm chuyên gia liên ngành có khả năng xử lý nhanh vấn đề mới phát sinh. Đội ngũ làm công tác TVPB&GĐXH và chuyên gia tham gia phản biện cần được bồi dưỡng về phân tích chính sách, đánh giá tác động, phương pháp nghiên cứu liên ngành và kỹ năng trình bày kiến nghị ngắn gọn, rõ căn cứ, rõ phương án.
Ba là, hoàn thiện cơ chế, chính sách và tăng cường liên kết nguồn lực. Liên hiệp Hội Việt Nam cần tiếp tục đề xuất cơ chế tài chính phù hợp, cơ chế đặt hàng và giao nhiệm vụ ổn định; thúc đẩy các hội thành viên ký kết chương trình hợp tác dài hạn với bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh. Đồng thời, cần đa dạng hóa nguồn lực xã hội hóa bên cạnh ngân sách nhà nước, bảo đảm công khai, minh bạch và không làm ảnh hưởng đến tính độc lập, khách quan của hoạt động phản biện. Việc kết nối các hội ngành toàn quốc với Liên hiệp Hội địa phương cần đi vào thực chất, tạo điều kiện huy động đúng chuyên gia, chia sẻ dữ liệu và phát huy đồng thời lợi thế chuyên ngành với hiểu biết thực tiễn địa bàn.
Bốn là, nâng cao hiệu quả truyền thông và cơ chế phản hồi chính sách. Kết quả tư vấn, phản biện cần được chuyển tải bằng hình thức phù hợp tới các cơ quan hoạch định chính sách của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, bộ, ngành, địa phương và công chúng; chú trọng đối thoại trực tiếp, báo cáo tóm tắt chính sách và truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng. Cùng với việc phổ biến kết quả, cần theo dõi quá trình tiếp nhận, giải trình và vận dụng kiến nghị để đánh giá hiệu quả thực chất của từng nhiệm vụ, rút kinh nghiệm và nâng cao chất lượng cho các hoạt động tiếp theo.
Kết luận
Trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra đối với TVPB&GĐXH không dừng ở việc tăng số lượng nhiệm vụ mà phải nâng cao chất lượng luận cứ, tính kịp thời và khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành kiến nghị chính sách khả thi. Thực hiện tốt các giải pháp nêu trên sẽ giúp Liên hiệp Hội Việt Nam phát huy đầy đủ hơn tiềm năng của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, tiếp tục là địa chỉ tin cậy cung cấp cơ sở khoa học cho Đảng, Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện chính sách phát triển đất nước./.
Bùi Kim Tuyến
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
[1] Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
[2] Quy hoạch mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, cảng hàng không và sân bay quốc tế thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn 2045.
[3] Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 16/4/2010 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Quyết định số 14/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.
