Công tác dân vận của Đảng - nhân tố chiến lược củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới
Trong suốt chặng đường lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định công tác dân vận là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam khẳng định: mọi thắng lợi của cách mạng đều bắt nguồn từ sức mạnh của Nhân dân, từ mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với Nhân dân và từ khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Bước vào kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, hùng cường của dân tộc, đất nước đứng trước những thời cơ lớn đan xen với nhiều khó khăn, thách thức mới. Quá trình chuyển đổi số, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế sâu rộng, đổi mới mô hình quản trị quốc gia và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, nhận thức và tâm trạng của Nhân dân. Điều đó đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác dân vận của Đảng cả về tư duy, nội dung, phương thức và tổ chức thực hiện.
1. Công tác dân vận - tư tưởng nhất quán, xuyên xuốt của Đảng từ khi ra đời đến nay
Ngay từ khi thành lập Đảng (năm 1930), công tác vận động quần chúng đã được Đảng ta xác định là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng khẳng định nhiệm vụ tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân, lấy liên minh công - nông làm nền tảng dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân để đấu tranh giành độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Ngày 15/10/1930, Hội nghị Trung ương lần thứ nhất quyết định thành lập các ban chuyên môn về vận động quần chúng (tiền thân của Ban Dân vận Trung ương). Từ đó, ngày 15/10 hằng năm trở thành Ngày truyền thống công tác Dân vận của Đảng.
Trải qua các thời kỳ cách mạng, công tác dân vận luôn góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác: từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; từ Đại thắng mùa Xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước đến những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 40 năm đổi mới. Điểm chung của mọi thắng lợi ấy là sự đồng lòng của Nhân dân, là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho toàn bộ công tác dân vận của Đảng. Trong bài báo “Dân vận” đăng trên Báo Sự Thật ngày 15/10/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và đoàn thể đã giao cho”[1]. Người đồng thời chỉ rõ: “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”[2]. Những luận điểm đó không chỉ mang giá trị lý luận sâu sắc mà còn là sự kết tinh từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, khẳng định vai trò quyết định của Nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng.
Kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, trong những năm gần đây, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng về công tác dân vận, tiêu biểu như Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”; Quyết định số 23-QĐ/TW, ngày 30/7/2021 của Bộ Chính trị ban hành Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị. Đặc biệt, việc hợp nhất Ban Tuyên giáo Trung ương và Ban Dân vận Trung ương thành Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương là bước đổi mới quan trọng về tổ chức và tư duy lãnh đạo; thể hiện yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa công tác tư tưởng với công tác vận động quần chúng, giữa định hướng nhận thức với tổ chức hành động, giữa “ý Đảng” với “lòng Dân” trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
2. Yêu cầu đổi mới công tác dân vận trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Thế giới đang biến đổi nhanh chóng, phức tạp và khó lường dưới tác động của cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, biến đổi khí hậu, các nguy cơ an ninh phi truyền thống và sự dịch chuyển mạnh mẽ của chuỗi giá trị toàn cầu. Trong nước, bên cạnh những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 40 năm đổi mới, đất nước cũng đang đối mặt với nhiều yêu cầu mới về đổi mới mô hình tăng trưởng, hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản trị quốc gia, bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững ổn định chính trị và củng cố niềm tin xã hội. Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu đến năm 2030 nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Đây là khát vọng lớn lao, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu rất cao đối với năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống chính trị.
Trong bối cảnh đó, để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, yêu cầu có ý nghĩa quyết định là phải tiếp tục củng cố vững chắc mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Công tác dân vận của Đảng vì vậy đứng trước những yêu cầu mới, cấp bách và toàn diện.
Thứ nhất, sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng và công nghệ số đang làm thay đổi căn bản phương thức tiếp cận thông tin và tương tác xã hội. Internet, mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo và truyền thông số tạo điều kiện để người dân tham gia ngày càng sâu rộng vào đời sống chính trị - xã hội. Tuy nhiên, đây cũng là môi trường để các thế lực thù địch, phản động gia tăng hoạt động chống phá; phát tán thông tin sai trái, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kích động tâm lý hoài nghi, chia rẽ, làm xói mòn niềm tin xã hội. Điều đó đòi hỏi công tác dân vận phải đổi mới mạnh mẽ cả nội dung, phương thức và tư duy tiếp cận; chuyển từ bị động phản ứng sang chủ động định hướng và dẫn dắt thông tin; từ tuyên truyền một chiều sang đối thoại hai chiều, đa chiều.
Thứ hai, quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng đang làm cho cơ cấu xã hội biến đổi nhanh chóng. Sự đa dạng về lợi ích xã hội, phân hóa giàu nghèo, di cư lao động, già hóa dân số cùng các vấn đề về an sinh xã hội, môi trường và chất lượng cuộc sống đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với công tác dân vận. Nhân dân không chỉ quan tâm đến tăng trưởng kinh tế mà còn đòi hỏi ngày càng cao về công bằng xã hội, chất lượng quản trị, minh bạch thông tin và quyền tham gia vào quá trình hoạch định chính sách. Vì vậy, công tác dân vận phải thực sự gần dân, sát dân, hiểu dân; kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân để tham mưu cho Đảng và Nhà nước ban hành chủ trương, chính sách phù hợp.
Thứ ba, quá trình đổi mới tổ chức bộ máy và chuyển đổi mô hình quản trị quốc gia đang tạo ra những tác động sâu rộng trong xã hội. Việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, sắp xếp đơn vị hành chính, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; cùng với triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đang tạo ra những chuyển động lớn về nhận thức, phương thức quản lý và tổ chức xã hội. Để các chủ trương đúng đắn đó nhanh chóng đi vào cuộc sống, phải có sự đồng thuận, ủng hộ và tham gia tích cực của Nhân dân. Đây chính là nhiệm vụ trọng tâm của công tác dân vận trong giai đoạn hiện nay.
Thứ tư, yêu cầu phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và củng cố niềm tin xã hội ngày càng trở nên cấp thiết. Trong điều kiện hiện nay, Nhân dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn phải thực sự trở thành chủ thể tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện chủ trương, chính sách. Công tác dân vận, vì thế, phải góp phần phát huy quyền làm chủ của Nhân dân theo phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Mọi chủ trương, chính sách muốn đi vào cuộc sống đều phải xuất phát từ lợi ích chính đáng của Nhân dân, được Nhân dân đồng thuận và tích cực tham gia thực hiện.
3. Tuyên truyền, vận động Nhân dân hiểu đúng, tin và đi theo Đảng - nhiệm vụ cốt lõi của công tác dân vận
Trong kỷ nguyên mới, nhiệm vụ cốt lõi của công tác dân vận là làm cho Nhân dân hiểu đúng, hiểu sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; từ đó củng cố niềm tin, phát huy tinh thần trách nhiệm và khơi dậy khát vọng cống hiến vì sự phát triển của đất nước. Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó, cần tập trung vào một số nội dung trọng tâm sau:
Một là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức tuyên truyền, vận động. Phải khắc phục tình trạng tuyên truyền một chiều, hình thức, thiếu sức thuyết phục. Nội dung tuyên truyền phải gắn với đời sống và những vấn đề thiết thân của Nhân dân; làm rõ lợi ích trực tiếp và lâu dài mà các chủ trương, chính sách mang lại. Phương thức tuyên truyền cần đa dạng, linh hoạt; kết hợp hài hòa giữa phương thức truyền thống với phương thức hiện đại; chủ động chiếm lĩnh không gian mạng; phát huy vai trò của báo chí, truyền thông số và mạng xã hội trong lan tỏa thông tin tích cực, định hướng dư luận xã hội. Công tác dân vận phải chuyển mạnh từ “truyền đạt thông tin” sang “thuyết phục và tạo đồng thuận”; từ “nói cho dân nghe” sang “lắng nghe dân nói”; lấy hiệu quả thực chất và niềm tin xã hội làm thước đo.
Hai là, nâng cao chất lượng dân vận trong các cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự là một chủ thể làm công tác dân vận; phải gần dân, trọng dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân. Cần kiên quyết khắc phục tình trạng quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của Nhân dân; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - những yếu tố trực tiếp làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh”[3]. Đó vừa là chuẩn mực đạo đức, vừa là nguyên tắc hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong công tác dân vận.
Ba là, phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Phải thực hiện đầy đủ phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; tạo điều kiện để Nhân dân tham gia ngày càng sâu rộng, thực chất vào quá trình xây dựng, thực thi và giám sát chủ trương, chính sách. Khi Nhân dân thực sự được tham gia, được lắng nghe và được thụ hưởng thành quả phát triển thì quyết sách của Đảng sẽ trở thành sức mạnh vật chất trong đời sống xã hội.
Bốn là, đẩy mạnh phong trào thi đua “Dân vận khéo”. Cần gắn phong trào “Dân vận khéo” với các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động lớn của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Chú trọng phát hiện, biểu dương, nhân rộng các mô hình hay, cách làm sáng tạo, các điển hình tiên tiến trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW; khơi dậy ý chí tự lực, tự cường, khát vọng cống hiến và tinh thần trách nhiệm vì lợi ích chung. Đồng thời, cần quán triệt sâu sắc phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”; chủ động đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Năm là, tăng cường công tác dân vận đối với các địa bàn, lĩnh vực và nhóm xã hội đặc thù. Cần quan tâm hơn nữa đến công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; đối với đồng bào có đạo, công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, thanh niên, phụ nữ, người cao tuổi và người Việt Nam ở nước ngoài. Phải có phương thức tiếp cận phù hợp với từng đối tượng, từng địa bàn; phát huy vai trò của người có uy tín, già làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo và lực lượng nòng cốt trong cộng đồng. Đối với những vấn đề phức tạp, như: đất đai, giải phóng mặt bằng, tái định cư, sắp xếp đơn vị hành chính, tinh gọn tổ chức bộ máy…, công tác dân vận phải thực sự đi trước một bước; tăng cường đối thoại, giải thích, vận động; bảo đảm công khai, minh bạch và hài hòa lợi ích.
4. Giải pháp nâng cao chất lượng công tác dân vận của Đảng trong kỷ nguyên mới
Để đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, công tác dân vận cần tiếp tục được đổi mới toàn diện cả về tư duy, nội dung, phương thức và tổ chức thực hiện.
Một là, phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy dân vận theo hướng lấy Nhân dân làm trung tâm, chủ thể và mục tiêu của sự phát triển. Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ lợi ích chính đáng của Nhân dân, vì hạnh phúc của Nhân dân. Công tác dân vận không chỉ dừng ở vận động Nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng mà còn phải phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân trong xây dựng và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách.
Hai là, phải đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác dân vận. Trong kỷ nguyên số, làm chủ không gian mạng đồng nghĩa với tạo lợi thế trong định hướng dư luận xã hội. Vì vậy, công tác dân vận cần tăng cường ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng số trong nắm bắt, phân tích, dự báo tình hình Nhân dân và dư luận xã hội; nâng cao khả năng phản ứng nhanh trước các tình huống truyền thông phức tạp. Đồng thời, cần xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận có năng lực số, kỹ năng truyền thông hiện đại và khả năng đối thoại xã hội.
Ba là, phải xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận thực sự “vừa hồng, vừa chuyên”. Đội ngũ cán bộ dân vận phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, tư duy đổi mới, phong cách gần dân, trọng dân; có kỹ năng đối thoại, thuyết phục và xử lý tình huống xã hội. Cần chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ người dân tộc thiểu số, cán bộ ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận am hiểu công nghệ, có khả năng thích ứng với môi trường truyền thông số.
Bốn là, cần tăng cường phối hợp giữa công tác dân vận với công tác tuyên giáo, truyền thông, mặt trận và công tác đoàn thể. Công tác dân vận không phải là nhiệm vụ riêng của cơ quan làm công tác dân vận mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Vì vậy, phải xây dựng cơ chế phối hợp đồng bộ, thống nhất giữa các lực lượng làm công tác tư tưởng, tuyên truyền, vận động quần chúng; bảo đảm thông tin nhất quán, hành động đồng bộ và hiệu quả lan tỏa cao.
Năm là, cần coi trọng tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về công tác dân vận trong điều kiện mới. Mỗi mô hình hay, mỗi kinh nghiệm thực tiễn trong vận động Nhân dân tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, chuyển đổi số, giải phóng mặt bằng, ứng phó thiên tai, dịch bệnh,… đều cần được nghiên cứu, hệ thống hóa và phát triển thành bài học lý luận - thực tiễn. Người làm công tác dân vận phải thực sự tiên phong, bám sát thực tiễn, lắng nghe Nhân dân; phát hiện vấn đề mới từ thực tiễn để tham mưu cho Đảng và Nhà nước ban hành chủ trương, chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh một chân lý sâu sắc: khi nào Đảng giữ vững được mối quan hệ gắn bó máu thịt với Nhân dân thì khi đó cách mạng giành được thắng lợi to lớn; khi nào xa rời dân, không dựa vào dân thì khi đó sẽ gặp khó khăn. Bước vào kỷ nguyên vươn mình, để hiện thực hóa khát vọng phát triển giàu mạnh, hùng cường của dân tộc, công tác dân vận của Đảng càng phải được đặc biệt coi trọng và đổi mới mạnh mẽ. Đây không chỉ là nhiệm vụ chính trị thường xuyên mà còn là điều kiện quan trọng để củng cố niềm tin xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo động lực thực hiện khát vọng phát triển đất nước. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức sâu sắc rằng công tác dân vận không phải là việc riêng của cơ quan làm công tác dân vận hay các tổ chức đoàn thể, mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Phải làm cho “ý Đảng” thực sự gặp gỡ “lòng Dân”, để mọi chủ trương của Đảng trở thành hành động tự giác của Nhân dân; để sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Với truyền thống vẻ vang hơn 96 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng; với bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng vươn lên của dân tộc Việt Nam; với niềm tin son sắt của Nhân dân đối với Đảng, chúng ta tin tưởng rằng công tác dân vận sẽ tiếp tục phát huy vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 đưa nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, xây dựng thành công nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, hùng cường.
TS. Vũ Phú Dũng
Ban Tuyên giáo Trung ương
[1] Bài viết “Dân vận” đăng trên báo Sự thật, số 120; Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t6, tr.232 - 234.
[2] Sách đã dẫn.
[3] Trích thư: “Gửi Ủy ban nhân dân các Kỳ, Tỉnh, huyện và làng” của Bác, Hồ Chí Minh tuyển tập, tập 1, NXB Sự thật, Hà Nội 1980.
