Nhận diện và phòng, chống luận điệu xuyên tạc Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo

Ngày 22/8/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW); Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị là cột mốc chiến lược, tạo đột phá về tư duy và thể chế cho giáo dục Việt Nam.

Đây là Nghị quyết tiếp nối và bổ sung mạnh mẽ cho “Bộ tứ trụ cột” chiến lược, tạo nên một chỉnh thể thống nhất, mũi đột phá để hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm[1] xây dựng một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, trường tồn và bền vững.

Tuy nhiên, lợi dụng sự kiện này, các thế lực thù địch, phản động đã ra sức xuyên tạc chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo, chúng cho rằng: “Việc tự chủ đại học ở Việt Nam đặt dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước thông qua các chủ trương, đường lối đã ảnh hưởng đến giáo dục đa nguyên, tự do, khai phóng”;“Tự chủ đại học làm mất tự do học thuật”, “Giáo dục chạy theo thành tích, bỏ quên đạo đức”, “chưa giải quyết những vấn đề còn tồn đọng ở hiện tại là học phí tăng, phân biệt đối xử, bạo lực học đường thì sao thực hiện được những mục tiêu xa hơn”,…

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngành giáo dục cần thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng

Sự cần thiết ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta đang diễn ra trong bối cảnh cuộc Cách mạng 4.0 và hội nhập quốc tế diễn ra toàn diện và sâu rộngtrên toàn cầu; đòi hỏiđất nước phải phát triển nhanh và bền vững nhằm thực hiện hai mục tiêu chiến lược 100 năm mà Đảng ta đã đặt ra. Trong bối cảnh đó, đột phá phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và đội ngũ nhân tài đã trở thành yêu cầu tất yếu, cấp bách, khách quan.Thời gian qua, Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản để lãnh đạo, chỉ đạophát triển giáo dục, đào tạo; tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, việc triển khai thực hiện trong thực tế gặp nhiều vướng mắc, cần điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh mới.Từ tình hình trên, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và trực tiếp là Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo tập trung xây dựng và ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW, trong đó đề ra những chủ trương, quyết sách mạnh mẽ hơn để khai thông điểm nghẽn, tạo đột phá phát triển, hiện đại hóa, chấn hưng nền giáo dục nước nhàhướng tới thực hiện thành công 2 mục tiêu chiến lược 100 năm. Điểm đột phá ấn tượng nhất trong Nghị quyết số 71-NQ/TW là đột phá về tư duy, nhận thức và quyết tâm, quyết liệt thay đổi mạnh mẽ về thể chế trong giáo dục và đào tạo; khẳng định giáo dục đào tạo không chỉ là quốc sách quan trọng hàng đầu, mà còn là nhân tố quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc. Điều này thể hiện rằng, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt và kỳ vọng lớn lao cho nền giáo dục và đào tạo.

Xác định giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng và là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, những năm qua, Đảng và cả hệ thống chính trị luôn đặc biệt quan tâm và tập trung đầu tư rất lớn cho nền giáo dục nước nhà. Nhờ vậy, những năm qua, giáo dục Việt Nam đã không ngừng đổi mới, đạt được nhiều bước tiến đột phá, kiến tạo một nền giáo dục toàn diện, sẵn sàng thích ứng với sự phát triển của thời đại; có những bước phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước. Từ một đất nước có 95% người dân mù chữ, số lượng trí thức ít ỏi, số trường đại học đếm trên đầu ngón taykhi đất nước mới giành được độc lập; đến nay, nền giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất đáng tự hào;hiện nay cả nước có trên 52.000 trường học với 65% đạt chuẩn quốc gia, nhiều trường hiện đại khang trang; toàn quốc có 1.213 trường phổ thông dân tộc bán trú ở 29 tỉnh/thành phố, với quy mô khoảng 300 nghìn học sinh, 2.145 trường phổ thông có học sinh bán trú ở 38 tỉnh/thành phố với quy mô khoảng 215.000 học sinh;nước ta đã phổ cập giáo dục từ mẫu giáo đến hết trung học cơ sở; chất lượng giáo dục phổ thông không ngừng được nâng cao, nằm trong nhóm các nước có nền giáo dục phổ thông tốt nhất thế giới. Lực lượng 1,6 triệu nhà giáo được đào tạo bài bản, với nhiều giáo viên ưu tú ngang tầm quốc tế. Hệ thống đại học, cao đẳng, trung cấp nghề với 243 trường đại học, hơn 800 trường cao đẳng và trung cấp, dù còn nhiều khó khăn, nhưng đã có những trường lọt top 500 thế giới, đào tạo đa ngành nghề, đóng góp 75% sản phẩm khoa học của cả nước.Nước ta liên tục nằm trong top 10 quốc gia có kết quả xuất sắc tại các kỳ thi Olympic quốc tế.

Đổi mới giáo dục đại học gắn với tăng cường tự chủ đã tạo ra động lực mới, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực; nghiên cứu khoa học, nhất là công bố khoa học quốc tế tăng mạnh; một số cơ sở giáo dục đại học được xếp hạng trong nhóm đại học tốt nhất khu vực châu Á và thế giới. Hệ thống các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện đã được ban hành tương đối toàn diện, bao quát; thể chế, chính sách tiếp tục được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho đổi mới giáo dục và đào tạo; công tác quản lý giáo dục và quản trị nhà trường có chuyển biến tích cực theo hướng tăng cường phân cấp quản lý, giao quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình. Ngành giáo dục đã phối hợp với các cơ quan chức năng nhằm tạo dựng môi trường học tập an toàn, lành mạnh và thân thiện; chủ động kiểm tra, giám sát để phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi phân biệt đối xử, bạo lực học đường. Đặc biệt, thực hiện Kết luận số 91KL/TW, ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị, cả nước sẽáp dụng miễn toàn bộ học phí đối với trẻ mầm non, học sinh phổ thông và người học chương trình giáo dục phổ thông từ đầu năm học mới 2025-2026. Đây không chỉ là một chính sách giáo dục mà còn là một bước tiến quan trọng thể hiện tinh thần “lấy dân làm gốc”, vì tương lai con em và sự phát triển bền vững của quốc gia chứ không phải là: “Việc tự chủ đại học ở Việt Nam đặt dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước thông qua các chủ trương, đường lối đã ảnh hưởng đến giáo dục đa nguyên, tự do, khai phóng” như các thế lực thù địch đã rêu rao. Đó là những cơ sở quan trọng nhằm triển khai hiện thực hóa các mục tiêu màNghị quyết số 71-NQ/TW đã đề ra, càng không phải là việc“chưa giải quyết những vấn đề còn tồn đọng ở hiện tại là học phí tăng, phân biệt đối xử học sinh, bạo lực học đường thì sao thực hiện được những mục tiêu xa hơn”mà kẻ địch đã xuyên tạc.

Học sinh Trường THCS Chương Dương (phường Hồng Hà, Hà Nội) trong giờ giáo dục STEM.

Tuy nhiên, lĩnh vực giáo dục và đào tạo cũng còn những tồn tại, hạn chế nhất định, đó là: Đầu tư cho giáo dục đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới và phát triển; mức tăng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục, đào tạo nhiều năm thấp hơn mức tăng trưởng GDP cả nước; tiếp cận giáo dục còn chênh lệch đáng kể giữa các vùng miền, nhóm đối tượng; đội ngũ nhà giáo và điều kiện học tập ở nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu; giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp có khoảng cách lớn so với các nước tiên tiến; trình độ, kỹ năng của lực lượng lao động còn thấp, đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ mỏng; môi trường giáo dục nhà trường chịu tác động từ cơ chế thị trường ở một số phương diện tiêu cực; gắn kết giữa nhà trường, doanh nghiệp, Nhà nước chưa thực sự chặt chẽ. Nguyên nhân của những hạn chế đó là: Nhận thức, tư duy về giáo dục và đào tạo chưa đầy đủ, thống nhất; thể chế, chính sách về giáo dục và đào tạo chậm đổi mới, chưa đồng bộ; ngân sách nhà nước chi cho giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu, trong khi các nguồn lực xã hội còn hạn chế; quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo chưa thực sự hiệu quả, phù hợp với thực tế, chưa thông suốt; tâm lý trọng địa vị trong xã hội còn nặng nề, chính sách sử dụng cán bộ còn coi trọng bằng cấp hơn thực lực.

Tầm quan trọng của Nghị quyết đối với sự phát triển đất nước

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, kinh tế tri thức, khoa học công nghệ và chuyển đổi số phát triển mạnh mẽ, với mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước công nghiệp hiện đại, đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao; giáo dục và đào tạo càng phải giữ vững vị trí quốc sách hàng đầu, trở thành động lực then chốt để phát triển đất nước, có thể khẳng định, Nghị quyết 71-NQ/TW ra đời đã kế thừa Nghị quyết 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế và Kết luận 91-KL/TW, ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW. Nghị quyết 71-NQ/TW đã thể hiện đột phá về tư duy, nhận thức và quyết tâm, quyết liệt thay đổi mạnh mẽ thể chế trong giáo dục, đào tạo, khẳng định giáo dục và đào tạo không chỉ là quốc sách quan trọng hàng đầu, mà còn là nhân tố quyết định tương lai, vận mệnh của cả dân tộc.

So với Nghị quyết 29-NQ/TW, Nghị quyết 71-NQ/TW chuyển trọng tâm từ “đổi mới căn bản, toàn diện” sang “đột phá chiến lược” trong giáo dục. Tinh thần này thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng ta, đó là coi giáo dục và đào tạo là trọng tâm của Chiến lược phát triển quốc gia trong thời kỳ Cách mạng 4.0 và hội nhập sâu rộng. Nghị quyết 71-NQ/TW mở rộng không gian phát triển giáo dục ra ngoài phạm vi nhà trường, kết nối chặt chẽ với khoa học, công nghệ, kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số. Điểm mới trong Nghị quyết 71-NQ/TW là sự cân bằng giữa giáo dục đại chúng và giáo dục tinh hoa, nhấn mạnh giáo dục toàn diện: đức - trí - thể - mỹ; lấy giá trị con người làm nền tảng. Thành tích chỉ là thước đo một phần, điều cốt yếu là đào tạo những công dân có tài và có đức.Nghị quyết còn nhấn mạnh phải đồng thời bảo đảm tính phổ cập, công bằng giáo dục toàn dân và chú trọng đào tạo nhân tài, nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Yêu cầu xây dựng đề án đào tạo tài năng tại các cơ sở giáo dục, nhằm khắc phục quan niệm trước đây vốn thiên về “phổ cập hóa” mà thiếu quan tâm đến bồi dưỡng đội ngũ tinh hoa. Đây là bước chuyển tư duy quan trọng: Giáo dục vừa phải bảo đảm công bằng xã hội, vừa tạo môi trường cho những cá nhân tài năng phát triển. Đổi mới thể chế với tư duy theo hướng thay vì quản lý, phải kiến tạo, với những cơ chế chính sách đặc thù, vượt trội để các nhà trường, các cơ sở giáo dục và đào tạo thu hút được mọi nguồn lực cho sự phát triển, nâng cao chất lượng đào tạo và sự tăng trưởng của nhà trường, hội nhập với trình độ và chuẩn mực quốc tế, chứ không phải là “Giáo dục chạy theo thành tích, bỏ quên đạo đức” như kẻ địch đã rêu rao, xuyên tạc. 

Nghị quyết 71-NQ/TW là văn kiện mang tính định hướng, tạo vận hội lịch sử cho giáo dục Việt Nam, đã khẳng định bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ và toàn diện cho các cơ sở giáo dục đại học, không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính. Đó cũng là mong mỏi của các cơ sở giáo dục đại học. Các nội dung mang tính đột phá từ Nghị quyết thể hiện sự chăm lo thiết thực cho từng người dân, khẳng định khát vọng hùng cường, phồn vinh cho dân tộc.Nghị quyết 71-NQ/TW cũng thay đổi căn bản tư duy đầu tư tài chính cho giáo dục đại học tới tầm và vượt trội; thiết thực chăm lo cho đội ngũ giảng viên, hỗ trợ tài chính và tạo cơ hội học tập cho mọi người.Bên cạnh đó, Nghị quyết 71-NQ/TW cùng với Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia sẽ là cơ sở chính trị quan trọng chỉ đạo xây dựng những mô hình đại học mới - đại học đổi mới sáng tạo, trở thành nòng cốt và đầu tàu đổi mới, đưa giáo dục Việt Nam, trong đó và trước hết là giáo dục đại học cất cánh thực hiện khát vọng quốc gia giàu mạnh, hùng cường, trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.

Điểm nhấn khác biệt từ Nghị quyết 71-NQ/TW là chính sách ưu đãi đặc thù, vượt trội cho đội ngũ nhà giáo; nâng phụ cấp ưu đãi nghề đối với cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông lên tối thiểu 70% cho giáo viên, tối thiểu 30% cho nhân viên, 100% cho giáo viên ở khu vực đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.Đây là minh chứng rõ ràng rằng Nghị quyết không chỉ hướng đến “đỉnh cao” hội nhập, mà còn chăm lo cho giáo dục từ gốc rễ, bảo đảm công bằng và khích lệ đội ngũ nhà giáo. Trên thực tế, tự chủ đại học ở Việt Nam gắn với trách nhiệm giải trình và định hướng xã hội chủ nghĩa; đây là cơ chế khuyến khích sáng tạo, hội nhập quốc tế nhưng vẫn bảo vệ lợi ích dân tộc. Nghị quyết 71-NQ/TW quy định chi ngân sách cho giáo dục đạt tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước, có cơ chế học bổng, tín dụng ưu đãi, hỗ trợ học sinh nghèo, đây là sự bảo đảm công bằng, không để ai bị bỏ lại phía sau trên hành trình tiếp nhận tri thức.

Để đạt được những mục tiêu chiến lược với tầm nhìn dài hạn, Nghị quyết 71-NQ/TW đã đề ra 08 nhóm nhiệm vụ, giải pháp để tổ chức triển khai thực hiện. Sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 71-NQ/TW, Chính phủ đã khẩn trương ban hành Chương trình hành động để thực hiện Nghị quyết 71 với 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn, cụ thể hóa thành 36 mục tiêu và 151 nhiệm vụ. Trong đó, đã phân công cụ thể các nhiệm vụ cho từng bộ, ngành, địa phương với tinh thần “6 rõ: Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả” và bảo đảm nguồn lực thực hiện.

Có thể khẳng định, Nghị quyết 71-NQ/TW đã trở thành“khoán 10” trong ngành giáo dục, đem lại những phát triển mạnh mẽ và đột phá cho nền giáo dục đào tạo của nước ta, là cơ sở hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam có hệ thống giáo dục quốc dân hiện đạiđứng vào nhóm 20 quốc gia hàng đầu thế giới. Nghị quyết 71-NQ/TW đã định vị lại hệ thống giáo dục Việt Nam với tầm nhìn dài hạn, giải pháp toàn diện và định lượng rõ ràng, thể hiện tư duy chiến lược và khát vọng phát triển giáo dục nước ta lên một tầm cao mới.

Đại tá Nguyễn Thanh Bình

Bộ Công an

[1] Hai mục tiêu: Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng - là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước CHXHCN Việt Nam - trở thành nước phát triển, thu nhập cao.