Phát huy quan điểm, chủ trương về xây dựng Đảng tại Hội nghị Trung ương 8, khóa I (tháng 5/1941) nhằm tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng trong tình hình mới
Hội nghị Trung ương 8, khóa I, (tháng 5/1941) là một sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng đối với cách mạng Việt Nam. Hội nghị bàn nhiều vấn đề rất quan trọng, trong đó nhiệm vụ xây dựng Đảng là một trong những nội dung được Hội nghị bàn đến. Những quan điểm chủ trương về công tác xây dựng Đảng được bàn tại Hội nghị đến nay 85 năm vẫn còn có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Hội nghị Trung ương 8, khóa I (tháng 5/1941) là một dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử Đảng Cộng sản Đông Dương, đánh dấu sự hoàn chỉnh chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và chuẩn bị trực tiếp cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong tổng thể những quyết sách lớn ấy, nội dung về “Vấn đề Đảng” có giá trị rất sâu sắc, thể hiện tư duy xây dựng Đảng vừa cấp bách, vừa căn cơ, vừa sát thực tiễn cách mạng. Hội nghị đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế trong hoạt động của Đảng lúc bấy giờ như: thiếu cán bộ chỉ đạo, thiếu cán bộ chuyên môn, thành phần vô sản trong Đảng còn ít, phong trào cách mạng phát triển không đều, công tác liên lạc, tuyên truyền, vận động quần chúng còn nhiều khó khăn. Từ đó, Hội nghị đặt ra yêu cầu phải gấp rút đào tạo cán bộ, củng cố tổ chức, phát triển các ngành công tác chuyên môn, tăng cường vận động quần chúng, phát triển phong trào cách mạng rộng khắp và làm cho Đảng đủ năng lực lãnh đạo cách mạng đi đến thắng lợi. Những quan điểm, chủ trương ấy không chỉ có giá trị lịch sử, mà còn mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, nhất là yêu cầu vận hành chính quyền địa phương hai cấp, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên và củng cố niềm tin của Nhân dân, việc nghiên cứu, phát huy giá trị của Hội nghị Trung ương 8 khóa I càng có ý nghĩa thiết thực.
1. Quan điểm, chủ trương về xây dựng Đảng tại Hội nghị Trung ương 8 khóa I (tháng 5/1941)
Hội nghị Trung ương 8, khóa I diễn ra từ ngày 10 đến 19/5/1941 tại Pác Bó, Cao Bằng, dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đây là hội nghị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và chuẩn bị trực tiếp cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong tổng thể các quyết sách lớn đó, công tác xây dựng Đảng được Hội nghị đặc biệt chú trọng, nhằm bảo đảm Đảng đủ năng lực lãnh đạo sự nghiệp cách mạng dân tộc đi đến thắng lợi.
Một là, Hội nghị nhìn thẳng vào những hạn chế, khuyết điểm trong hoạt động của Đảng để đặt ra yêu cầu chỉnh đốn, củng cố Đảng. Hội nghị chỉ rõ, từ khi chiến tranh nổ ra ở châu Âu, tình hình Đông Dương biến đổi nhanh chóng; tuy Đảng đã lãnh đạo được nhiều cuộc đấu tranh, nhưng cũng bỏ lỡ nhiều cơ hội tốt, chưa lãnh đạo cuộc đấu tranh kịch liệt kịp với tình hình. Hội nghị chỉ ra còn có nhiều khuyết điểm như “thiếu cán bộ chỉ đạo, thiếu cán bộ chuyên môn, thành phần vô sản trong Đảng còn ít, phát triển cách mạng không đều”[1]. Đây là cách đặt vấn đề rất nghiêm túc, thể hiện tinh thần tự phê bình, tự sửa chữa, coi việc xây dựng Đảng là điều kiện trực tiếp để nâng cao năng lực lãnh đạo cách mạng.
Hai là, xác định đào tạo cán bộ là công tác gấp rút, không thể chậm trễ. Hội nghị nhấn mạnh: “Việc đào tạo cán bộ nay đã thành công tác gấp rút, không thể bỏ qua một giờ phút. Tất cả các cấp bộ chỉ huy của Đảng phải đặc biệt chú ý công tác này”[2]. Điều đó cho thấy Hội nghị đặc biệt coi trọng công tác cán bộ, nhất là trong bối cảnh Đảng thiếu cán bộ chỉ đạo sau các cuộc khủng bố 1939-1940. Chủ trương đặt ra là các cấp bộ chỉ huy của Đảng phải tìm những đảng viên trung thành, có bảo đảm, có năng lực để mở lớp huấn luyện, đồng thời phải dìu dắt cán bộ trong công tác hằng ngày giữa quần chúng, Hội nghị nhấn mạnh: Phải mau mau tìm ra những đảng viên trung thành có bảo đảm chắc chắn, có năng lực sáng tạo lập ra các lớp huấn luyện. Sự huấn luyện bằng miệng cũng chưa đủ, lại phải dìu dắt các đồng chí ấy trong công tác hằng ngày giữa quảng đại quần chúng, phải trao đổi cho nhau những kinh nghiệm hay, phải đem tình hình thế giới ra thảo luận, phải đập tan những quan niệm sai lầm hẹp hòi, phải làm cho các đồng chí ấy tiến cả về mặt lý thuyết lẫn thực hành công tác[3]. Hội nghị chỉ ra công tác đào tạo cán bộ: rất cần thiết, dù phải đình đốn rất nhiều ngành khác, về việc đào tạo các cán bộ cũng không thể sao lãng được[4]. Như vậy, đào tạo cán bộ không chỉ là học lý thuyết, mà phải gắn với thực hành, rèn luyện trong phong trào cách mạng.
Ba là, chú trọng đào tạo cán bộ chuyên môn cho các lĩnh vực công tác trọng yếu của Đảng. Tại Hội nghị Trung ương 8, khóa I, Đảng đã nhìn rõ một hạn chế rất cụ thể trong công tác tổ chức là tình trạng thiếu cán bộ chuyên môn. Văn kiện chỉ rõ: “các cán bộ chuyên môn lại càng không đủ”, đồng thời phê bình việc “ít chú trọng tổ chức ra các ban chuyên môn cần thiết” như công vận, nông vận, tuyên truyền, làm cho các ngành công tác quan trọng chưa phát triển đầy đủ[5]. Từ nhận định đó, Hội nghị đặt ra yêu cầu phải đào tạo cán bộ chuyên sâu cho từng mặt công tác, không chỉ có cán bộ lãnh đạo chung mà phải có cán bộ am hiểu nghiệp vụ từng ngành. Đặc biệt, văn kiện nhấn mạnh: “trước hết ta phải đào tạo cho kỳ được các ban công vận và binh vận”, đồng thời khẳng định “Ủy ban tuyên truyền chuyên môn cũng cần thiết lắm”[6]. Điều đó cho thấy Hội nghị không xem công tác Đảng là hoạt động chung chung, mà đã đặt vấn đề chuyên môn hóa rất rõ: mỗi lĩnh vực trọng yếu của Đảng phải có tổ chức, cán bộ, phương pháp và năng lực phụ trách tương ứng. Đây là quan điểm có giá trị lâu dài, bởi muốn lãnh đạo phong trào cách mạng rộng lớn, Đảng phải có đội ngũ cán bộ vừa trung thành, vừa thành thạo nghiệp vụ, vừa biết vận động, tổ chức và dẫn dắt quần chúng trong từng lĩnh vực cụ thể.
Bốn là, tăng cường thành phần vô sản trong Đảng, giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Hội nghị đã thẳng thắn chỉ ra sự chưa tương xứng giữa bản chất giai cấp của Đảng với thành phần thực tế trong Đảng lúc bấy giờ. Hội nghị viết: “tuy Đảng ta là đảng của giai cấp vô sản”, nhưng “thành phần của giai cấp vô sản ở trong Đảng rất ít”; đồng thời nêu con số cụ thể: “chỉ có 25% là vô sản, 5% phụ nữ”, còn lại là nông dân và tiểu tư sản[7]. Từ thực trạng ấy, Hội nghị chủ trương phải chú ý bổ sung, phát triển thành phần vô sản trong Đảng, nhất là ở những nơi tập trung công nhân, thành thị, đồn điền, hầm mỏ. Hội nghị nhấn mạnh: “về mặt tổ chức đảng phải chú ý đào tạo giai cấp vô sản đem vào Đảng”[8]. Điểm sâu sắc ở đây là Hội nghị đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, nhưng không vì thế mà xem nhẹ bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Trái lại, trong cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng càng phải củng cố vai trò tiên phong của giai cấp vô sản, bởi đó là cơ sở bảo đảm cho Đảng giữ vững lập trường, bản chất, mục tiêu cách mạng và năng lực lãnh đạo lâu dài.
Năm là, phát triển phong trào cách mạng cho đều, khắc phục tình trạng nơi mạnh, nơi yếu, nơi có phong trào, nơi gần như chưa có cơ sở. Văn kiện Hội nghị chỉ rõ một hạn chế lớn là phong trào cách mạng ở Đông Dương phát triển không đồng đều. Văn kiện nêu: “có nơi phong trào lên cao mà có nơi không có gì hết”, đồng thời chỉ ra sự chênh lệch giữa các vùng, các lực lượng, các địa bàn cách mạng[9]. Văn kiện cũng nhận xét: “Phong trào nông dân và binh lính mạnh hơn”, trong khi phong trào thợ thuyền, đô thị và một số địa bàn quan trọng còn yếu[10]. Từ đó, Hội nghị đặt ra yêu cầu phải phát triển phong trào theo quan hệ cần thiết của cách mạng, không để có khoảng trống tổ chức, khoảng trống lãnh đạo ở những địa bàn chiến lược. Văn kiện nhấn mạnh phải chú ý đến “những nơi đô thị tập trung, đồn điền, hầm mỏ” và mở rộng tới thôn quê, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số[11]. Quan điểm này thể hiện rõ tư duy xây dựng Đảng gắn với xây dựng phong trào quần chúng: Đảng không thể mạnh nếu chỉ có tổ chức ở một số nơi, một số lực lượng; Đảng phải có cơ sở rộng khắp, có khả năng lãnh đạo đều trên các địa bàn, giai cấp, tầng lớp và khu vực có ý nghĩa quyết định đối với cách mạng.
Sáu là, xây dựng Đảng phải gắn chặt với công tác vận động quần chúng, nhất là công vận, nông vận, binh vận và tuyên truyền. Một nội dung nổi bật của văn kiện là đặt xây dựng Đảng trong quan hệ trực tiếp với công tác vận động quần chúng. Văn kiện xác định rõ: “Nên vận động công nhân làm công việc đầu tiên”[12] trong công tác tổ chức quần chúng của Đảng; đồng thời yêu cầu làm cho phong trào thợ thuyền trở thành lực lượng tiên phong trong cách mạng giải phóng Đông Dương. Bên cạnh công vận, văn kiện nhấn mạnh: “Vấn đề vận động binh lính đến nay cũng đã cấp tốc lắm rồi”[13], bởi binh lính là lực lượng có ý nghĩa quan trọng trong cuộc đấu tranh đánh đuổi Pháp - Nhật. Đối với tuyên truyền, văn kiện yêu cầu có cơ quan chuyên môn, có khả năng thực hiện “các phương pháp tuyên truyền, viết sách báo, truyền đơn, biểu ngữ”[14] phù hợp từng lúc, từng nơi. Như vậy, xây dựng Đảng không phải là công việc khép kín trong nội bộ tổ chức, mà phải gắn với tổ chức, tuyên truyền, vận động, tập hợp và giác ngộ quần chúng. Đảng muốn lãnh đạo được cách mạng thì phải có khả năng đi vào quần chúng, bám sát quần chúng, tổ chức quần chúng và biến đường lối của Đảng thành phong trào hành động cách mạng rộng lớn.
Bảy là, củng cố mối liên lạc, chế độ chỉ đạo, kiểm tra, dìu dắt giữa cấp trên và cấp dưới trong Đảng. Văn kiện đặc biệt coi trọng quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo giữa các cấp bộ Đảng trong điều kiện hoạt động bí mật, bị khủng bố, giao thông khó khăn. Văn kiện nêu rõ: “các cấp trên còn phải luôn luôn dìu dắt và kiểm soát các cấp dưới”, đồng thời “các cấp dưới lại phải chất vấn học hỏi các cấp trên”[15]. Quan điểm này rất đáng chú ý vì nó không chỉ nhấn mạnh chiều chỉ đạo từ trên xuống, mà còn coi trọng chiều phản ánh, học hỏi, chất vấn từ dưới lên. Mục tiêu là làm cho “lý thuyết cách mạng bồi bổ, kinh nghiệm được dồi dào”[16], hoạt động của Đảng có khoa học, kỹ thuật và được sửa chữa thường xuyên. Đồng thời, trong điều kiện liên lạc dễ bị gián đoạn, văn kiện yêu cầu Đảng phải có các tuyến giao thông, liên lạc dự bị, đặc biệt để đề phòng địch khủng bố, phá hoại. Điều đó cho thấy Hội nghị đã đặt vấn đề tổ chức Đảng rất thực tiễn: lãnh đạo muốn có hiệu lực thì thông tin phải thông suốt, chỉ đạo phải thường xuyên, cấp trên phải kiểm tra, dìu dắt, cấp dưới phải phản ánh, học hỏi, và toàn Đảng phải giữ được sự liên hệ chặt chẽ trong mọi hoàn cảnh.
Tám là, mọi chủ trương xây dựng Đảng đều hướng tới mục tiêu nâng cao năng lực lãnh đạo cách mạng đi đến thắng lợi. Phần “Vấn đề Đảng” kết thúc bằng một tư tưởng có ý nghĩa bao trùm: xây dựng Đảng là để Đảng đủ sức lãnh đạo cách mạng. Văn kiện khẳng định: “Đảng ta phải làm những công việc mà từ trước tới nay chưa làm xong”[17], đồng thời nhấn mạnh phải “nhằm vào các công tác trung tâm mà tiến tới” và biết “nắm lấy thời cơ thuận lợi mà làm việc”[18]. Đích đến cuối cùng của các chủ trương về cán bộ, tổ chức, chuyên môn, liên lạc, tuyên truyền, vận động quần chúng là làm sao “cho đủ năng lực lãnh đạo cuộc cách mạng Đông Dương đi đến toàn thắng”[19]. Đây là tư tưởng rất quan trọng: xây dựng Đảng không phải là công việc nội bộ thuần túy, càng không phải là việc hình thức, mà là yêu cầu sống còn của cách mạng. Đảng phải mạnh về cán bộ, vững về tổ chức, sâu về chuyên môn, thông suốt về liên lạc, rộng về phong trào và đúng về phương thức lãnh đạo thì mới đủ sức nắm thời cơ, vượt qua thử thách và lãnh đạo cách mạng giành thắng lợi.
Quan điểm, chủ trương về xây dựng Đảng trong nội dung này tập trung vào các vấn đề cốt lõi: nhìn thẳng vào khuyết điểm để sửa chữa; gấp rút đào tạo cán bộ; chuyên môn hóa các ngành công tác Đảng; tăng cường thành phần vô sản; phát triển phong trào cách mạng cho đều; gắn xây dựng Đảng với vận động quần chúng; củng cố liên lạc, kiểm tra, chỉ đạo giữa các cấp; và nâng cao năng lực lãnh đạo cách mạng của Đảng. Đây là những nội dung có giá trị đặc biệt, thể hiện tư duy xây dựng Đảng rất thực tiễn, chủ động và cấp bách trong thời điểm cách mạng chuẩn bị chuyển sang giai đoạn quyết định.
2. Giải pháp phát huy quan điểm, chủ trương Hội nghị Trung ương 8, khóa I (tháng 5/1941), nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong tình hình mới
Một là, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng theo hướng sát thực tiễn, rõ trọng tâm, rõ trách nhiệm. Bài học từ Hội nghị Trung ương 8, khóa I là Đảng phải biết tập trung vào những công tác trung tâm, nắm thời cơ và lãnh đạo bằng hành động cụ thể. Trong tình hình mới, cấp ủy các cấp, nhất là xã, phường, đặc khu, cần khắc phục lối lãnh đạo chung chung, nặng văn bản, nặng hội họp; chuyển mạnh sang lãnh đạo bằng mục tiêu, dữ liệu, kết quả và trách nhiệm cụ thể. Mỗi nghị quyết, chương trình, kế hoạch phải xác định rõ việc cần làm, người chịu trách nhiệm, thời hạn hoàn thành, nguồn lực thực hiện và kết quả phục vụ Nhân dân. Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng định hướng, kiểm tra, giám sát, công tác cán bộ và nêu gương; không bao biện làm thay chính quyền, nhưng cũng không buông lỏng lãnh đạo. Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nơi cấp cơ sở trực tiếp giải quyết công việc của dân. Muốn nâng cao năng lực cầm quyền, Đảng phải lãnh đạo bằng hiệu quả thực chất chứ không chỉ bằng quy trình hình thức. Cấp ủy phải kịp thời phát hiện điểm nghẽn, xử lý việc khó, việc mới, việc dân bức xúc, không để chủ trương đúng nhưng tổ chức thực hiện chậm. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền cũng là đổi mới cách kiểm tra kết quả: không chỉ nghe báo cáo, mà phải đối chiếu bằng dữ liệu, phản ánh của Nhân dân và sản phẩm cuối cùng. Khi lãnh đạo sát thực tiễn, rõ trách nhiệm, Đảng mới giữ được vai trò hạt nhân chính trị trong hệ thống chính trị mới.
Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, nhất là cán bộ làm công tác xây dựng Đảng ở cơ sở. Hội nghị Trung ương 8 đã chỉ rõ tình trạng thiếu cán bộ chỉ đạo, thiếu cán bộ chuyên môn và coi đào tạo cán bộ là nhiệm vụ gấp rút. Vận dụng hiện nay, cần chuẩn hóa đội ngũ cán bộ theo vị trí việc làm, năng lực thực tiễn và yêu cầu nhiệm vụ mới. Cán bộ cấp xã, phường, đặc khu phải có bản lĩnh chính trị, năng lực tham mưu, kỹ năng số, kỹ năng dân vận, đối thoại, xử lý tình huống và khả năng tổ chức thực hiện. Đặc biệt, cán bộ văn phòng cấp ủy, ban xây dựng Đảng, cơ quan ủy ban kiểm tra phải được đào tạo chuyên sâu, đúng nghiệp vụ, đúng nguyên tắc, đúng quy trình. Đánh giá cán bộ cần dựa vào sản phẩm công việc, mức độ hoàn thành nhiệm vụ, tinh thần trách nhiệm và sự hài lòng của Nhân dân; kiên quyết khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy, làm việc theo kinh nghiệm. Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cán bộ cơ sở không còn là người chỉ “triển khai” mà phải trực tiếp tham mưu, điều phối và giải quyết vấn đề phát sinh. Vì vậy, đào tạo cán bộ phải chuyển từ bồi dưỡng chung sang bồi dưỡng theo chức danh, theo lĩnh vực và theo tình huống thực tiễn. Cán bộ làm công tác Đảng cần giỏi lý luận nhưng cũng phải thạo nghiệp vụ, biết nắm dân, hiểu địa bàn, xử lý được mâu thuẫn nội bộ và vấn đề xã hội phức tạp. Có đội ngũ cán bộ tốt thì nghị quyết mới có sức sống, tổ chức cơ sở đảng mới có năng lực lãnh đạo thực chất.
Ba là, chuyên môn hóa, hiện đại hóa các lĩnh vực công tác xây dựng Đảng. Từ năm 1941, Hội nghị đã phê bình tình trạng ít chú trọng các ban chuyên môn như công vận, nông vận, tuyên truyền, làm cho các ngành công tác quan trọng không phát triển đầy đủ. Bài học đặt ra hiện nay là công tác xây dựng Đảng phải được tổ chức chuyên sâu, bài bản, hiện đại hơn. Các lĩnh vực tổ chức, cán bộ, kiểm tra, giám sát, tuyên giáo, dân vận, bảo vệ chính trị nội bộ, văn phòng cấp ủy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và chuyển đổi số trong công tác Đảng phải có quy trình, dữ liệu, công cụ và đội ngũ cán bộ chuyên trách đủ năng lực. Chuyên môn hóa không làm giảm tính chính trị của công tác Đảng, mà làm cho công tác Đảng khoa học hơn, chính xác hơn, hiệu quả hơn. Đây cũng là cơ sở để tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu và xây dựng các thiết chế nghiên cứu, đào tạo về xây dựng Đảng trong tình hình mới. Hiện đại hóa công tác Đảng còn đòi hỏi phải ứng dụng công nghệ trong quản lý đảng viên, theo dõi thực hiện nghị quyết, tổng hợp phản ánh của Nhân dân và kiểm tra, giám sát. Công tác kiểm tra phải chuyển từ phát hiện sau vi phạm sang phòng ngừa từ sớm, từ xa; công tác tuyên giáo, dân vận phải biết xử lý thông tin nhanh, đúng, thuyết phục trên cả không gian thực và không gian mạng. Ở cấp xã, phường, đặc khu, mỗi lĩnh vực công tác Đảng cần có chuẩn năng lực, quy trình nghiệp vụ và cơ chế phối hợp rõ ràng. Làm được như vậy, công tác xây dựng Đảng mới đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại trong kỷ nguyên mới.
Bốn là, củng cố tổ chức cơ sở đảng, khắc phục tình trạng phát triển không đều giữa các địa bàn, lĩnh vực, loại hình tổ chức. Hội nghị Trung ương 8 đã chỉ ra hạn chế phong trào cách mạng phát triển không đều, nơi mạnh, nơi yếu, nơi có phong trào, nơi gần như chưa có cơ sở. Hiện nay, bài học đó cần được vận dụng vào việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở các địa bàn sau sáp nhập, khu vực đô thị hóa nhanh, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, khu công nghiệp, doanh nghiệp ngoài nhà nước và các loại hình mới. Không thể áp dụng một cách làm giống nhau cho mọi địa bàn, mà phải phân loại tổ chức cơ sở đảng để có giải pháp phù hợp. Củng cố tổ chức cơ sở đảng phải gắn với nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, phân công nhiệm vụ cụ thể cho đảng viên, giải quyết vấn đề thiết thực của dân và xây dựng uy tín chính trị của tổ chức đảng ngay từ cơ sở. Tổ chức cơ sở đảng mạnh thì năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng mới có nền tảng vững chắc. Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đảng ủy xã, phường, đặc khu phải thực sự là trung tâm lãnh đạo chính trị ở địa bàn, không để khoảng trống lãnh đạo trong các khu dân cư, doanh nghiệp, nhóm dân cư mới. Sinh hoạt chi bộ cần chuyển từ hình thức báo cáo sang bàn việc cụ thể: dân đang cần gì, địa bàn đang vướng gì, đảng viên phải làm gì. Cần quan tâm xây dựng tổ chức đảng ở nơi khó, nơi yếu, nơi có nhiều biến động xã hội, không chỉ chăm lo những nơi đã ổn định. Khi tổ chức đảng bám chắc cơ sở, Đảng mới lãnh đạo được xã hội một cách sâu rộng và bền vững.
Năm là, gắn xây dựng Đảng với công tác dân vận, dựa vào Nhân dân để kiểm nghiệm năng lực lãnh đạo của Đảng. Hội nghị Trung ương 8 đặt xây dựng Đảng trong mối quan hệ chặt chẽ với vận động quần chúng, nhất là công vận, nông vận, binh vận và tuyên truyền. Trong tình hình mới, xây dựng Đảng càng phải gắn với lòng dân, niềm tin của dân và sự tham gia giám sát của dân. Nhân dân đánh giá năng lực lãnh đạo của Đảng không chỉ qua chủ trương lớn, mà qua những việc cụ thể: thủ tục có thuận lợi không, cán bộ có tận tâm không, phản ánh có được xử lý không, chính sách có đến đúng người không, quyền lợi chính đáng có được bảo vệ không. Vì vậy, cấp ủy cơ sở phải tăng cường đối thoại, công khai, minh bạch, xử lý kiến nghị đến cùng và phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong giám sát, phản biện, vận động Nhân dân. Dựa vào Nhân dân là phương thức lãnh đạo bền vững nhất của Đảng. Trong chính quyền địa phương hai cấp, xã, phường, đặc khu là nơi người dân trực tiếp cảm nhận chất lượng lãnh đạo của Đảng qua từng dịch vụ công, từng quyết định hành chính, từng thái độ cán bộ. Vì vậy, dân vận không chỉ là tuyên truyền, mà là phục vụ, lắng nghe, giải thích, thuyết phục và giải quyết vấn đề cụ thể cho dân. Cấp ủy phải coi phản ánh của Nhân dân là nguồn thông tin quan trọng để điều chỉnh lãnh đạo, kiểm tra cán bộ và hoàn thiện chính sách. Khi lòng dân được củng cố, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng sẽ có nền tảng xã hội vững chắc.
Sáu là, tăng cường kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Hội nghị Trung ương 8 đặc biệt coi trọng việc củng cố liên lạc, chỉ đạo, dìu dắt, kiểm tra giữa cấp trên và cấp dưới, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng không bị đứt đoạn. Trong điều kiện hiện nay, yêu cầu đó phải được phát triển thành cơ chế kiểm tra, giám sát thường xuyên, kiểm soát quyền lực chặt chẽ, phòng ngừa sai phạm từ sớm, từ xa. Khi cấp xã, phường, đặc khu được giao nhiều nhiệm vụ hơn, nguy cơ sai sót trong công tác cán bộ, đất đai, tài chính, đầu tư công, thủ tục hành chính, tiếp dân, giải quyết đơn thư cũng tăng nếu thiếu kiểm tra, giám sát. Cùng với đó, phải giữ vững kỷ luật, kỷ cương, nguyên tắc tập trung dân chủ, đoàn kết thống nhất trong Đảng; chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng, công tác cán bộ, phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Khi Đảng trong sạch, kỷ luật nghiêm, tư tưởng vững, gắn bó với Nhân dân thì năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng sẽ được củng cố vững chắc. Kiểm tra, giám sát phải đi vào những khâu dễ phát sinh vi phạm, những nơi có nhiều quyền lực, nhiều nguồn lực, nhiều phản ánh của dân. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ gương mẫu, tổ chức đảng trong sạch và hiệu quả phục vụ thực tiễn. Không có lập luận nào thuyết phục hơn một tổ chức Đảng thật sự liêm chính, gần dân, có năng lực giải quyết việc dân. Đó cũng là cách thiết thực nhất để bảo vệ uy tín và năng lực cầm quyền của Đảng trong tình hình mới.
3. Kết luận
Có thể khẳng định, những quan điểm, chủ trương về xây dựng Đảng được đặt ra tại Hội nghị Trung ương 8, khóa I (tháng 5/1941) là những định hướng có giá trị bền vững, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và năng lực tự đổi mới của Đảng trong thời điểm cách mạng đứng trước yêu cầu lịch sử cấp bách. Từ việc nhìn thẳng vào hạn chế, coi trọng đào tạo cán bộ, chuyên môn hóa các ngành công tác Đảng, phát triển phong trào cách mạng đồng đều, gắn xây dựng Đảng với vận động quần chúng, củng cố liên lạc, kiểm tra, chỉ đạo giữa các cấp, Hội nghị đã đặt nền tảng quan trọng để Đảng đủ sức lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc đi đến thắng lợi. Trong tình hình mới, những bài học đó vẫn còn nguyên giá trị, nhất là khi Đảng ta đang tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền; kiểm soát quyền lực; nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín; vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp và củng cố mối quan hệ mật thiết với Nhân dân. Phát huy tinh thần Hội nghị Trung ương 8 khóa I hôm nay chính là tiếp tục xây dựng Đảng vững mạnh từ chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; bảo đảm mọi chủ trương của Đảng xuất phát từ thực tiễn, hướng về Nhân dân và được kiểm nghiệm bằng hiệu quả phục vụ đất nước, phục vụ Nhân dân. Đó cũng là con đường thiết thực để nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, bảo đảm Đảng ta luôn xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
PGS,TS. Lâm Quốc Tuấn
ThS. Phạm Xuân Thành
Viện Xây dựng Đảng,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7 1940 – 1945, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, tr.132
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7 1940 – 1945, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, tr.133
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7 1940 – 1945, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, tr.134
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7 1940 – 1945, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, tr.134
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, 1940-1945, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, tr.132.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, 1940-1945, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, tr.134
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, 1940-1945, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, tr.132.
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, 1940-1945, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, tr.135
[9] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, 1940-1945, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, tr.132-133
[10] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, 1940-1945, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, tr.133
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, 1940-1945, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, tr.135
[12] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, 1940-1945, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, tr.134
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, 1940-1945, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, tr.134
[14] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, 1940-1945, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, tr.134-135
[15] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, 1940-1945, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, tr.134
[16] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, 1940-1945, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, tr.134.
[17] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, 1940-1945, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, tr.136
[18] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, 1940-1945, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, tr.136.
[19] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, 1940-1945, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, tr.136.
