Tái định vị sứ mệnh công tác tuyên giáo trước yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Mỗi bước phát triển của cách mạng và phương thức lãnh đạo của Đảng đều đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác tuyên giáo. Hiện nay, đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với những mục tiêu cao hơn và những thay đổi sâu sắc về mô hình, nguồn lực, động lực phát triển.

Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, phát huy mạnh mẽ vai trò của con người, văn hóa, khoa học, công nghệ và các nguồn lực xã hội[1]. Trong bối cảnh đó, vấn đề đặt ra không chỉ là đổi mới nội dung, phương thức công tác tuyên giáo, mà sâu hơn là phát triển sứ mệnh của công tác này để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo và phát triển đất nước. Tái định vị sứ mệnh, theo nghĩa đó, không phải mở rộng chức năng, nhiệm vụ, mà là phát huy sâu sắc hơn giá trị của công tác tuyên giáo, để sự thống nhất về tư tưởng, niềm tin và đồng thuận xã hội đóng góp thiết thực hơn vào quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước.

Không thể làm công tác tuyên giáo trong kỷ nguyên số bằng tư duy và phương thức của thời kỳ truyền thống

1. VÌ SAO CẦN TÁI ĐỊNH VỊ SỨ MỆNH CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO?

Thứ nhất, nhiệm vụ phát triển đất nước đặt công tác tuyên giáo trước những yêu cầu mới.

Thực tiễn cách mạng cho thấy nội dung, phương thức công tác tuyên giáo luôn vận động cùng nhiệm vụ chính trị của từng thời kỳ. Trong đấu tranh giành chính quyền, trọng tâm là truyền bá lý luận cách mạng, giác ngộ và tập hợp quần chúng; trong kháng chiến và kiến quốc là củng cố niềm tin, khơi dậy lòng yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; bước vào công cuộc đổi mới là tham gia đổi mới tư duy, tạo sự thống nhất về đường lối, củng cố đồng thuận và cổ vũ xã hội phát huy các nguồn lực cho phát triển. Sự vận động đó cho thấy một yêu cầu xuyên suốt: nhiệm vụ cách mạng thay đổi thì công tác tuyên giáo cũng phải phát triển tương ứng.

Giai đoạn hiện nay đặt ra yêu cầu cao hơn cả về tốc độ và chất lượng phát triển. Văn kiện Đại hội XIV xác định yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, chủ động, tự cường, tự chủ; xác lập mô hình tăng trưởng mới, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giữ vai trò động lực chủ yếu. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “đột phá quan trọng hàng đầu”, gắn trực tiếp với phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất và đổi mới phương thức quản trị quốc gia[2]. Những chuyển đổi đó đều đặt con người trước yêu cầu thay đổi cách nghĩ và cách làm. Chuyển đổi số làm thay đổi quy trình công tác; cải cách thể chế đòi hỏi tư duy quản lý mới; đổi mới sáng tạo cần môi trường khuyến khích tìm tòi, dám nghĩ, dám làm; sắp xếp tổ chức bộ máy tác động trực tiếp đến tâm lý, trách nhiệm và phương thức làm việc của đội ngũ. Vấn đề tư tưởng, vì vậy, hiện diện ngay trong quá trình chuyển đổi, chứ không chỉ phát sinh sau khi chủ trương đã được triển khai. Trong điều kiện đó, công tác tuyên giáo cần tham gia sớm hơn vào quá trình chuẩn bị nhận thức, tạo tâm thế xã hội và nhận diện những lực cản về tư tưởng, tâm lý, văn hóa có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện các chủ trương lớn.

Thứ hai, cấu trúc nguồn lực phát triển đang thay đổi, làm rõ hơn giá trị của công tác tuyên giáo.

Một chuyển biến quan trọng trong tư duy phát triển hiện nay là nhận thức đầy đủ hơn về vai trò của văn hóa, con người, tri thức, sáng tạo và các nguồn lực tinh thần. Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước[3]. Vốn, công nghệ, thể chế, kết cấu hạ tầng vẫn là những nguồn lực đặc biệt quan trọng, nhưng hiệu quả cuối cùng phụ thuộc rất lớn vào con người. Công nghệ phải được làm chủ và đưa vào sản xuất, quản lý; thể chế phải được thực thi bằng tư duy và cách làm phù hợp; đổi mới sáng tạo cần môi trường khuyến khích tìm tòi, dám nghĩ, dám làm và chịu trách nhiệm. Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân cho thấy rõ mối quan hệ này: bên cạnh tháo gỡ những rào cản về thể chế, môi trường kinh doanh và nguồn lực, Nghị quyết yêu cầu “xóa bỏ triệt để nhận thức, tư tưởng, quan niệm, thái độ định kiến về kinh tế tư nhân”[4].

Thực tiễn đó cho thấy, khi con người ngày càng giữ vai trò quyết định trong việc khai thác và phát huy các nguồn lực phát triển, những vấn đề về nhận thức, niềm tin, tâm thế và động lực hành động cũng cần được tính đến đầy đủ hơn trong quá trình lãnh đạo phát triển.

Thứ ba, môi trường hình thành và vận động của tư tưởng, dư luận xã hội đang thay đổi sâu sắc.

Internet, mạng xã hội, nền tảng số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo đã làm thay đổi cấu trúc thông tin. Mỗi cá nhân vừa tiếp nhận, vừa có thể sản xuất và lan truyền thông tin; dư luận có thể hình thành trong thời gian rất ngắn; thuật toán tác động ngày càng lớn đến nội dung từng nhóm công chúng tiếp cận; AI tạo sinh làm tăng nhanh quy mô sản xuất nội dung và khiến việc nhận biết thông tin xác thực, sai lệch, xuyên tạc trở nên khó khăn hơn. Trong môi trường ấy, có thông tin chính thống chưa đồng nghĩa với có ưu thế thông tin. Yêu cầu đặt ra là phải phát hiện sớm vấn đề, cung cấp thông tin đúng thời điểm, giải đáp đúng những điều xã hội đang quan tâm và giữ được độ tin cậy của thông tin chính thống.

Mặt khác, môi trường số tạo cho công tác tuyên giáo khả năng quan sát đời sống tư tưởng - xã hội nhanh hơn và rộng hơn, như Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ, ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong nắm bắt tình hình Nhân dân, dư luận xã hội giúp Đảng “lắng nghe” hơi thở cuộc sống kịp thời, chính xác hơn; đồng thời yêu cầu công tác này phải bám sát thực tiễn, thường xuyên, liên tục, nhạy bén, không để bị động, bất ngờ[5]. Vấn đề đặt ra vì thế không còn chủ yếu ở khả năng thu thập thông tin, mà ở chất lượng phân tích và nhận diện vấn đề: phân biệt được phản ứng nhất thời với xu hướng đang hình thành, từ đó phát hiện những vấn đề cần sớm tham mưu cho cấp ủy.

2. SỰ PHÁT TRIỂN SỨ MỆNH CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO TRƯỚC YÊU CẦU PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo sự thống nhất trong Đảng và đồng thuận trong xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân là những nhiệm vụ xuyên suốt. Tái định vị không thay thế hoặc làm suy giảm những nhiệm vụ nền tảng đó. Điều cần nhận thức sâu hơn là giá trị của những kết quả ấy đối với quá trình phát triển đất nước. Quy định số 19-QĐ/TW, ngày 8/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng đặt công tác chính trị, tư tưởng trong quan hệ trực tiếp với củng cố niềm tin của Nhân dân, tạo động lực, sự đồng thuận và sức mạnh tổng hợp để thực hiện mục tiêu phát triển; đồng thời đặt yêu cầu tăng cường ứng dụng công nghệ số, AI, dữ liệu lớn để phân tích, dự báo xu hướng tư tưởng và dư luận[6].

Tuyên truyền hiệu quả Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam

Thứ nhất, kiến tạo những điều kiện tinh thần cần thiết cho phát triển.

Sự thống nhất về tư tưởng, niềm tin chính trị và đồng thuận xã hội luôn là những điều kiện quan trọng để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, giữ vững ổn định và tập hợp sức mạnh của Nhân dân. Trong điều kiện hiện nay, những yếu tố đó còn ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tổ chức thực hiện các mục tiêu phát triển. Một chủ trương dù đúng vẫn có thể triển khai chậm nếu nhận thức của người thực hiện chưa thống nhất hoặc những nhóm chịu tác động chưa được chuẩn bị đầy đủ về tâm thế. Chuyển đổi số khó đi vào thực chất nếu vẫn được xem chủ yếu là việc ứng dụng công nghệ; đổi mới sáng tạo cũng khó tạo chuyển biến khi tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm chưa được khắc phục.

Cùng với tạo sự thống nhất và đồng thuận, công tác tuyên giáo cần góp phần chuẩn bị nhận thức và tâm thế xã hội phù hợp trước những yêu cầu phát triển mới, nhất là đối với những chủ trương lớn, những thay đổi tác động trực tiếp đến nhiều nhóm xã hội. Xét từ yêu cầu phát triển, giá trị của sự thống nhất và đồng thuận còn phải được nhìn ở khả năng tạo môi trường tư tưởng, tâm lý xã hội thuận lợi cho việc thực hiện chủ trương.

Thứ hai, phát huy vai trò của công tác tuyên giáo trong chuyển nhận thức, niềm tin thành trách nhiệm và hành động.

Niềm tin, khát vọng, văn hóa, tinh thần đổi mới sáng tạo, ý chí tự lực, tự cường là những nguồn lực quan trọng của phát triển, nhưng chỉ thực sự tạo ra sức mạnh khi được thể hiện trong hành động của con người. Chuyển đổi số không thể đi vào thực chất nếu cán bộ vẫn giữ quy trình và cách làm cũ; phát triển kinh tế tư nhân, bên cạnh tháo gỡ rào cản về thể chế và nguồn lực, còn đòi hỏi sự thay đổi trong cách ứng xử của bộ máy thực thi và niềm tin của doanh nghiệp để đầu tư, kinh doanh lâu dài. Giữa chủ trương và kết quả thực hiện luôn có một khâu không thể bỏ qua: sự thay đổi trong nhận thức, thái độ và cách hành động của những người trực tiếp thực hiện.

Công tác tuyên giáo cần tác động sâu hơn vào khâu này: làm rõ yêu cầu của sự thay đổi, củng cố niềm tin, tháo gỡ những trở ngại về nhận thức, tâm lý và thói quen đang ảnh hưởng đến hành động. Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: “tư tưởng thông thì hành động mới quyết liệt, kết quả mới thực chất”[7]. Tuy nhiên, tác động tư tưởng chỉ có hiệu quả khi vấn đề được nhận diện đúng nguyên nhân. Những vướng mắc bắt nguồn từ cơ chế, chính sách hoặc cách thức tổ chức thực hiện phải được phản ánh để xử lý từ chính những khâu đó; không thể dùng tuyên truyền để bù đắp cho những bất cập của thực tiễn. Bởi vậy, đánh giá hiệu quả công tác tuyên giáo cần quan tâm nhiều hơn đến những chuyển biến mà công tác đó góp phần tạo ra trong nhận thức, thái độ, trách nhiệm và hành động của các chủ thể thực hiện.

Thứ ba, nâng cao giá trị kết nối giữa chủ trương của Đảng với thực tiễn đời sống tư tưởng - xã hội.

Công tác tuyên giáo có điều kiện tham gia vào cả hai chiều của quá trình lãnh đạo: đưa đường lối, chủ trương của Đảng đến với cán bộ, đảng viên và Nhân dân; đồng thời nắm bắt những diễn biến của đời sống tư tưởng - xã hội để phục vụ tham mưu. Yêu cầu hiện nay là làm cho cả hai chiều này thực chất hơn, nhất là nâng khả năng từ những phản ánh của xã hội để nhận diện được vấn đề cần tham mưu cho quá trình lãnh đạo và tổ chức thực hiện.

Đối với một chủ trương lớn, thông tin cấp ủy cần không chỉ là mức độ đồng tình hay những phản ứng nổi lên trong dư luận, mà phải cho biết các nhóm chịu tác động đang hiểu và tiếp nhận chủ trương như thế nào, băn khoăn chủ yếu xuất phát từ đâu, vấn đề nào có khả năng ảnh hưởng đến niềm tin và đồng thuận xã hội. Có những biểu hiện thuộc về nhận thức cần được giải thích, định hướng; nhưng cũng có những phản ứng tư tưởng bắt nguồn từ bất cập trong thực tiễn. Nhận diện đúng sự khác nhau này vừa giúp lựa chọn phương thức tác động phù hợp, vừa cung cấp cho cấp ủy thông tin cần thiết để xem xét quá trình tổ chức thực hiện.

Ở chiều từ chủ trương đến thực tiễn, yêu cầu cũng không thể dừng ở truyền đạt nội dung văn bản. Đối với những vấn đề lớn, cần làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn, các mối quan hệ tác động và yêu cầu đặt ra trong tổ chức thực hiện, giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân hiểu đúng mục tiêu, sự cần thiết của chủ trương và trách nhiệm của mình trong thực hiện. Đồng thời, những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn cần được nắm bắt, phân tích và phản ánh kịp thời để phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo. Bởi xét đến cùng, “trận địa tư tưởng vững chắc nhất không nằm trên không gian mạng, cũng không nằm trong các văn bản, mà nằm trong lòng dân”[8]. Điều đó đòi hỏi công tác tuyên giáo phải bám sát đời sống xã hội, nhận diện đúng những vấn đề tác động đến tư tưởng, tâm lý, niềm tin của Nhân dân và kịp thời phản ánh, tham mưu xử lý từ thực tiễn.

3. PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THỰC HIỆN SỨ MỆNH CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO TRƯỚC YÊU CẦU PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

Để thực hiện sứ mệnh trong điều kiện mới, vấn đề đặt ra không phải bổ sung thêm nhiệm vụ, mà là khắc phục những hạn chế đang ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nghiên cứu, tham mưu, nắm bắt thực tiễn và tác động xã hội. Trước hết cần tập trung vào những khâu sau:

Một là, nâng cao năng lực tham mưu từ sớm, từ xa đối với những vấn đề lớn có tác động đến tư tưởng và đời sống xã hội.

Đối với không ít chủ trương lớn, công tác tuyên giáo vẫn tham gia rõ nhất sau khi chủ trương được ban hành, tập trung vào quán triệt, tuyên truyền, định hướng thông tin, nắm bắt dư luận và xử lý vấn đề tư tưởng phát sinh. Đây là những nhiệm vụ cần thiết, nhưng chưa phát huy đầy đủ thế mạnh nghiên cứu, dự báo và tham mưu về tác động tư tưởng - xã hội ngay từ quá trình chuẩn bị chủ trương.

Đối với những quyết sách lớn, mới, có phạm vi tác động rộng, cần từng bước thực hiện đánh giá tác động tư tưởng - xã hội ngay trong quá trình nghiên cứu, chuẩn bị và tổ chức thực hiện. Trọng tâm là nhận diện nhóm chịu tác động trực tiếp; những thay đổi về lợi ích, tâm lý, thói quen có thể nảy sinh; những nội dung dễ có cách hiểu khác nhau hoặc có khả năng ảnh hưởng đến niềm tin và đồng thuận xã hội. Trên cơ sở đó, công tác tuyên giáo tham mưu việc chuẩn bị nhận thức, tâm thế xã hội và phương án công tác tư tưởng; nếu vấn đề được dự báo bắt nguồn từ chính sách hoặc cách thức tổ chức thực hiện, phải kịp thời phản ánh để xem xét ngay từ đầu. Đánh giá tác động tư tưởng - xã hội cần trở thành một nguồn thông tin phục vụ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, không nên được hiểu đơn giản là chuẩn bị kế hoạch tuyên truyền sớm hơn.

Năng lực tham mưu từ sớm, từ xa còn đòi hỏi dành nguồn lực nghiên cứu cho những vấn đề đang hình thành, có khả năng tác động lâu dài đến đời sống tư tưởng - xã hội: tác động của AI đến việc làm và quan hệ lao động; những thay đổi trong hệ giá trị, tâm lý và cách tiếp nhận thông tin của thế hệ trẻ; sự biến đổi các quan hệ xã hội trên môi trường số; tâm thế xã hội trước những cải cách lớn. Kết quả nghiên cứu phải giúp nhận diện sớm những thay đổi có khả năng trở thành vấn đề tư tưởng - xã hội và cung cấp căn cứ để cấp ủy chủ động xem xét ngay từ khi vấn đề còn đang hình thành.

Hai là, đổi mới công tác nắm bắt tư tưởng, dư luận xã hội theo hướng nâng cao năng lực phát hiện, dự báo và tham mưu xử lý vấn đề.

Công tác này hiện có nhiều nguồn thông tin từ cơ sở, điều tra dư luận xã hội, báo chí, môi trường số, nghiên cứu và phản ánh của các cơ quan, tổ chức. Điểm cần nâng lên là khả năng chọn lọc, phân tích và từ khối lượng thông tin đó nhận diện đúng vấn đề cần tham mưu. Không phải nội dung xuất hiện với tần suất cao trên mạng xã hội đều phản ánh một vấn đề tư tưởng đáng chú ý; ngược lại, có những chuyển biến về tâm lý, niềm tin, hệ giá trị chưa tạo thành dư luận nổi bật nhưng có thể tác động lâu dài. Chất lượng nắm tình hình vì thế không phụ thuộc chủ yếu vào số lượng thông tin thu thập được, mà vào khả năng nhận diện đúng vấn đề cần tham mưu.

Trước hết, cần đổi mới chất lượng các báo cáo về tư tưởng, dư luận xã hội theo hướng giảm mô tả diễn biến, tăng phân tích và kiến nghị. Với những vấn đề quan trọng, cần theo dõi xuyên suốt từ những dấu hiệu ban đầu, quá trình diễn biến đến kết quả sau xử lý, qua đó nhận diện sự thay đổi trong nhận thức, tâm lý của các nhóm chịu tác động và những yếu tố có thể làm vấn đề phức tạp thêm. Một báo cáo chỉ thực sự có giá trị tham mưu khi chỉ ra được vấn đề cần quan tâm, nguyên nhân chủ yếu, khả năng diễn biến và những việc cần xử lý, thay vì dừng ở tổng hợp phản ánh và diễn biến dư luận.

Đồng thời, cần khắc phục tình trạng thông tin phân tán. Kết quả điều tra dư luận xã hội, thông tin cơ sở, báo chí, dữ liệu môi trường số, nghiên cứu chuyên đề và ý kiến chuyên gia phải được đối chiếu, kiểm chứng để hình thành nhận định chung. AI có thể hỗ trợ xử lý khối lượng thông tin lớn, theo dõi sự thay đổi của chủ đề và phát hiện dấu hiệu bất thường, nhưng kết quả phải được đặt trong bối cảnh cụ thể và kiểm chứng bằng các nguồn khác. Đặc biệt, không thể lấy mức độ nổi bật của một vấn đề trên mạng xã hội làm đại diện cho trạng thái tư tưởng, dư luận của toàn xã hội; cấu trúc người dùng, cơ chế phân phối của thuật toán và đặc điểm tương tác trên từng nền tảng có thể làm sai lệch nhận định nếu thiếu kiểm chứng từ thực tiễn.

Ba là, đổi mới phương thức tác động trên cơ sở nhận diện đúng nguyên nhân của từng vấn đề tư tưởng - xã hội.

Thực tiễn cho thấy phản ứng về tư tưởng, dư luận xã hội có thể xuất phát từ những nguyên nhân rất khác nhau: thiếu thông tin, nhận thức chưa đầy đủ, khác biệt lợi ích, tâm lý trước thay đổi, thông tin sai lệch, nhưng cũng có thể từ bất cập của chính sách hoặc tổ chức thực hiện. Nếu không phân tích đúng nguyên nhân, phương thức tác động dễ không trúng vấn đề và làm giảm sức thuyết phục của công tác tư tưởng.

Vì vậy, phương thức xử lý phải được lựa chọn từ nguyên nhân cụ thể của vấn đề: bổ sung thông tin khi có khoảng trống thông tin; giải thích đối với những nội dung chưa được nhận thức đúng; trao đổi, đối thoại với những băn khoăn chính đáng; nhận diện và đấu tranh phù hợp với thông tin sai lệch, xuyên tạc. Nếu phản ứng xã hội bắt nguồn từ bất cập trong chính sách hoặc tổ chức thực hiện, công tác tuyên giáo phải phản ánh đúng tình hình, phân tích nguyên nhân và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý. Không thể dùng tuyên truyền để thay thế việc giải quyết những vấn đề phát sinh từ chính thực tiễn.

Truyền thông chính sách cũng cần được tổ chức theo cách đó. Nội dung truyền thông phải xuất phát đồng thời từ yêu cầu của chủ trương và những vấn đề thực tế mà người thực hiện, các nhóm chịu tác động cần được giải đáp. Trên cơ sở thống nhất về định hướng, cần xác định đúng mối quan tâm của từng nhóm để lựa chọn nội dung, cách giải thích và phương thức tiếp cận phù hợp. Phản hồi của xã hội phải được coi là một bộ phận của quá trình truyền thông chính sách, qua đó vừa kiểm chứng mức độ tiếp nhận, vừa phát hiện những vấn đề cần điều chỉnh trong tổ chức thực hiện.

Bốn là, đổi mới tổ chức nghiên cứu, tham mưu theo vấn đề và nâng cao khả năng huy động các nguồn lực tri thức.

Nhiều vấn đề tư tưởng - xã hội mới không nằm gọn trong phạm vi một lĩnh vực chuyên môn. Tác động của AI liên quan đồng thời đến công nghệ, việc làm, giáo dục, phương thức tiếp nhận thông tin và các quan hệ xã hội; những biến đổi trong tâm lý, hệ giá trị của thanh niên chịu tác động của môi trường kinh tế, văn hóa, giáo dục và không gian số. Trong khi đó, phương thức nghiên cứu chủ yếu theo chức năng, lĩnh vực dễ dẫn đến tình trạng mỗi đơn vị tiếp cận một phần của vấn đề nhưng thiếu sự kết nối để hình thành nhận định tổng thể. Đây là điểm cần được khắc phục khi những vấn đề tư tưởng - xã hội ngày càng có tính liên ngành.

Bên cạnh thực hiện nhiệm vụ theo chức năng, cần tổ chức linh hoạt hoạt động nghiên cứu, tham mưu theo vấn đề. Với những vấn đề lớn, mới, phức tạp, có thể hình thành nhóm nghiên cứu liên ngành theo nhiệm vụ, giao một đầu mối chịu trách nhiệm xuyên suốt từ xác định vấn đề, tập hợp thông tin, tổ chức nghiên cứu đến hoàn thiện sản phẩm tham mưu. Các đơn vị tham gia sử dụng chung những thông tin, dữ liệu cần thiết và cùng phân tích trên một vấn đề, qua đó khắc phục tình trạng có nhiều báo cáo riêng nhưng vẫn thiếu một nhận định đủ sâu để phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo. Cách làm này chủ yếu thay đổi phương thức phối hợp và tổ chức công việc, không đặt ra yêu cầu hình thành thêm tổ chức thường trực.

Khả năng huy động tri thức ngoài hệ thống cũng phải trở thành một bộ phận của năng lực nghiên cứu, tham mưu. Những vấn đề mới ngày càng liên quan sâu đến kinh tế, khoa học - công nghệ, tâm lý học, xã hội học, văn hóa, dữ liệu và nhiều chuyên ngành khác. Vì vậy, cần chuyển từ mạng lưới chuyên gia chủ yếu theo danh sách sang cơ chế huy động theo vấn đề và yêu cầu tham mưu cụ thể. Hiệu quả của cơ chế này phụ thuộc vào khả năng xác định chính xác yêu cầu nghiên cứu, lựa chọn chuyên gia phù hợp và sử dụng được kết quả nghiên cứu trong sản phẩm tham mưu. Năng lực của cơ quan tuyên giáo vì thế không chỉ được thể hiện ở tri thức sẵn có trong bộ máy, mà còn ở khả năng tổ chức và sử dụng các nguồn tri thức cần thiết để giải quyết đúng vấn đề thực tiễn đặt ra.

Công nghệ số và AI cần được đặt trong chính quá trình đổi mới này, trước hết để nâng chất lượng xử lý thông tin và giải phóng cán bộ khỏi những công việc thủ công có thể tự động hóa. Tìm kiếm, phân loại, đối chiếu, tổng hợp ban đầu và theo dõi biến động của dữ liệu là những khâu công nghệ có thể hỗ trợ ngày càng tốt hơn; còn việc xác định vấn đề cần quan tâm, kiểm chứng thông tin, đánh giá tác động chính trị - xã hội và đề xuất phương án xử lý vẫn đòi hỏi năng lực chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn và trách nhiệm của cán bộ tham mưu. Hiệu quả chuyển đổi số cần được đánh giá bằng mức độ giảm công việc thủ công, rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao chất lượng phân tích, tham mưu, thay vì chủ yếu căn cứ vào số lượng phần mềm, hệ thống được đưa vào sử dụng.

Năm là, đổi mới sản phẩm và tiêu chí đánh giá theo giá trị tham mưu và chuyển biến thực tế.

Đổi mới phương thức công tác khó đi vào thực chất nếu sản phẩm đầu ra và cách đánh giá vẫn chủ yếu dựa trên khối lượng hoạt động. Số lượng văn bản, hội nghị, tin, bài, cuộc điều tra hay phạm vi tiếp cận là những chỉ số cần thiết, nhưng chưa phản ánh đầy đủ một báo cáo đã giúp cấp ủy nhận diện, xử lý vấn đề như thế nào, một hoạt động tuyên truyền tạo chuyển biến gì trong nhận thức hay những phản ánh từ đời sống tư tưởng - xã hội được sử dụng ra sao trong lãnh đạo, chỉ đạo.

Bên cạnh các sản phẩm thường xuyên, cần định hình rõ hơn những sản phẩm phục vụ trực tiếp yêu cầu lãnh đạo và xử lý vấn đề thực tiễn, nhất là báo cáo phát hiện vấn đề mới, dự báo và cảnh báo, đánh giá tác động tư tưởng - xã hội, kiến nghị xử lý vấn đề nổi lên và đánh giá kết quả sau tác động. Mỗi loại sản phẩm cần được xác định rõ đối tượng sử dụng, nội dung cốt lõi và thời điểm cung cấp; tránh phát sinh thêm báo cáo nhưng không làm tăng giá trị tham mưu.

Cách đánh giá theo đó cần tập trung vào giá trị sử dụng của sản phẩm: mức độ phát hiện đúng và kịp thời vấn đề; chất lượng dự báo, kiến nghị; khả năng giải đáp những băn khoăn thực tế của các nhóm chịu tác động; mức độ thông tin nắm bắt được sử dụng trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Đây cũng là hướng cụ thể hóa yêu cầu của Quy định số 19-QĐ/TW về gắn công tác chính trị, tư tưởng với kết quả thực hiện nhiệm vụ và xác định tiêu chí để kiểm tra, giám sát. Đổi mới tiêu chí đánh giá sẽ tác động trực tiếp đến cách bố trí nguồn lực, tổ chức nghiên cứu, nắm tình hình, tham mưu và tuyên truyền; qua đó thúc đẩy sự thay đổi ngay trong hoạt động thường xuyên của hệ thống tuyên giáo.

Sự phát triển của đất nước đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với chất lượng công tác tuyên giáo. Trước những vấn đề mới nảy sinh nhanh, phạm vi tác động rộng và quan hệ ngày càng trực tiếp với quá trình tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, công tác tuyên giáo phải nâng cao năng lực nghiên cứu, nắm bắt thực tiễn, tham mưu và công tác tư tưởng, qua đó góp phần củng cố sự thống nhất, phát huy nhân tố con người và nâng cao hiệu quả thực hiện các mục tiêu phát triển. Tái định vị sứ mệnh, vì vậy, phải được thể hiện bằng sự đổi mới trong chính hoạt động thường xuyên của hệ thống tuyên giáo và bằng chất lượng những kết quả mà công tác đó tạo ra. Đây cũng là yêu cầu để công tác tuyên giáo tiếp tục phát huy vai trò trong phương thức lãnh đạo của Đảng trước những nhiệm vụ mới của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

TS. Nguyễn Đình Việt,

Ban Tuyên giáo Trung ương

[1]Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

[2]Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

[3]Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

[4]Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.

[5]Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác tuyên giáo và dân vận năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026 của Tổng Bí thư Tô Lâm.

[6]Quy định số 19-QĐ/TW, ngày 08/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng.

[7] Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác tuyên giáo và dân vận năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026 của Tổng Bí thư Tô Lâm.

[8] Phát biểu chỉ đạo của đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, tại Lễ tổng kết và trao giải Cuộc thi chính luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ II, năm 2026 của Đảng ủy Chính phủ, ngày 20/8/2026.