Phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ lan tỏa tri thức, kiến tạo sức mạnh phát triển
Hơn sáu thập kỷ kể từ lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ đã trở thành một dòng chảy bền bỉ trong hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW, yêu cầu đặt ra không chỉ là đưa tri thức đến đông đảo công chúng, mà phải giúp người dân hiểu đúng, áp dụng được và hình thành văn hóa khoa học.
Từ cội nguồn lịch sử đến sứ mệnh trong giai đoạn mới
Ngày 18/5/1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất Hội Phổ biến khoa học, kỹ thuật Việt Nam - tổ chức tiền thân của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam ngày nay. Người chỉ rõ: khoa học phải đi từ sản xuất mà ra, trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng và cải thiện đời sống nhân dân.
Lời căn dặn ấy đồng thời đặt ra phương pháp và thước đo: nội dung phải thiết thực, chính xác, phù hợp nhu cầu của quần chúng; sau khi phổ biến phải tiếp tục hỗ trợ việc học tập và áp dụng. Giá trị của tri thức không dừng ở số người được nghe hay số tài liệu được phát hành, mà phải được thể hiện bằng sự thay đổi trong nhận thức, kỹ năng, phương thức sản xuất và chất lượng cuộc sống.
Nghị quyết số 45-NQ/TW, ngày 24/11/2023 tiếp tục khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của đội ngũ trí thức đối với phát triển đất nước nhanh và bền vững. Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí đột phá quan trọng hàng đầu. Trong bối cảnh đó, phổ biến kiến thức không chỉ là hoạt động truyền thông, mà là chiếc cầu đưa tri thức và chính sách vào đời sống, góp phần nâng cao năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của toàn xã hội.
Dấu ấn đưa tri thức vào sản xuất và đời sống
Lợi thế nổi bật của Liên hiệp Hội Việt Nam là mạng lưới trí thức đa ngành, có mặt ở Trung ương và địa phương. Các hội ngành toàn quốc tạo chiều sâu chuyên môn; Liên hiệp Hội địa phương am hiểu địa bàn và nhu cầu thực tế; các tổ chức khoa học và công nghệ tham gia nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao; hệ thống báo chí, xuất bản và nền tảng số mở rộng khả năng tiếp cận công chúng. Sự kết nối đó giúp tri thức đến đúng nơi, đúng đối tượng và sát yêu cầu cuộc sống.
Giai đoạn 2020 - 2024, các Liên hiệp Hội địa phương đã tổ chức khoảng 11.000 hội thảo, tọa đàm, lớp tập huấn cho hàng triệu lượt người; toàn hệ thống có 103 trang thông tin điện tử, website và 60 bản tin, đặc san. Trong nhiệm kỳ VIII (2020 - 2025), Cơ quan Trung ương Liên hiệp Hội Việt Nam đã phối hợp, hỗ trợ các hội thành viên tổ chức gần 150 hoạt động, tập trung vào nông, lâm, ngư nghiệp; môi trường, biến đổi khí hậu; an toàn thực phẩm; sức khỏe cộng đồng và phát triển bền vững.
Đằng sau những con số là các hoạt động xuất phát từ nhu cầu cơ sở. Tháng 3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tuyên Quang phối hợp với chính quyền hai xã Niêm Sơn và Tát Ngà tổ chức 8 lớp tập huấn cho 480 học viên thuộc 12 thôn về trồng rau, cà chua, chăn nuôi lợn sinh sản và bò vỗ béo theo hướng an toàn sinh học. Cách tổ chức theo nhóm hộ, gắn lý thuyết với thực hành giúp người dân tiếp cận quy trình phù hợp hơn với điều kiện sản xuất và sinh kế địa phương.
Trong lĩnh vực sức khỏe, các hội thành viên phổ biến kiến thức về dinh dưỡng, phòng bệnh, an toàn thực phẩm, chăm sóc người cao tuổi, sức khỏe học đường, bệnh không lây nhiễm và sử dụng thuốc an toàn. Trong giai đoạn phòng, chống đại dịch COVID-19, nhiều đơn vị đã xây dựng tài liệu, tư vấn, tập huấn và cung cấp thông tin có kiểm chứng, hỗ trợ cộng đồng nâng cao năng lực tự bảo vệ.
Trong lĩnh vực môi trường, nội dung tập trung vào sử dụng tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ nguồn nước, phân loại chất thải, giảm ô nhiễm, phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu. Một giải pháp kỹ thuật chỉ được duy trì khi người dân hiểu lợi ích, tham gia từ đầu và hình thành thói quen mới. Vì vậy, chuyển giao công nghệ phải gắn với vận động cộng đồng và xây dựng năng lực tự quản tại cơ sở.
Báo chí và xuất bản là những cánh tay nối dài của mạng lưới tri thức. Báo Tri thức và Cuộc sống, các tạp chí chuyên ngành, bản tin và trang thông tin của các hội thành viên góp phần tuyên truyền chính sách, giới thiệu thành tựu và giải thích các vấn đề xã hội dưới góc nhìn khoa học. Nhà xuất bản Tri thức duy trì bình quân khoảng 150 đầu sách mỗi năm, từng bước phát triển xuất bản điện tử, lan tỏa các công trình có giá trị và tinh hoa tri thức của Việt Nam, thế giới.
Nhiều Liên hiệp Hội địa phương cũng sử dụng website, Facebook, YouTube, Zalo, TikTok và các nền tảng trực tuyến để giới thiệu mô hình, hướng dẫn kỹ thuật, phổ biến chính sách và kết nối chuyên gia với cộng đồng. Tri thức cần hiện diện ở nơi người dân tiếp cận thông tin hằng ngày, đồng thời phải chính xác, an toàn, có trách nhiệm và phù hợp từng nhóm công chúng.
Tri thức khoa học - “lá chắn mềm” và nền tảng của đồng thuận xã hội
Không gian số mở ra cơ hội tiếp cận tri thức chưa từng có, nhưng cũng làm gia tăng tin giả, quảng cáo sai sự thật, nội dung mê tín, phản khoa học và các hình thức giả mạo bằng công nghệ. Trong sức khỏe, môi trường, tài chính, công nghệ hay an toàn thực phẩm, một thông tin sai lệch có thể dẫn đến quyết định sai và gây tổn thất cho cộng đồng.
Phổ biến kiến thức khoa học giúp mỗi người biết đặt câu hỏi, kiểm chứng nguồn tin, hiểu giá trị của bằng chứng và lựa chọn thông tin đáng tin cậy. Tri thức vì thế trở thành một “lá chắn mềm”, tạo sức đề kháng trước thông tin sai lệch, đồng thời nuôi dưỡng văn hóa tôn trọng sự thật, tri thức, lao động sáng tạo và cách đánh giá dựa trên dữ liệu, thực tiễn.
Bên cạnh đó, phổ biến kiến thức còn là quá trình giải thích, thuyết phục và vận động nhân dân. Một chủ trương chỉ đi vào cuộc sống khi người dân hiểu sự cần thiết, thấy lợi ích, biết cách tham gia và có điều kiện phản ánh khó khăn từ cơ sở. Vì vậy, đội ngũ trí thức phải lắng nghe người dân cần gì, diễn đạt dễ hiểu và đồng hành trong quá trình ứng dụng.
Cần phân nhóm công chúng rõ hơn: nông dân cần hướng dẫn trực quan, phù hợp mùa vụ; doanh nghiệp cần thông tin về công nghệ, tiêu chuẩn và thị trường; học sinh, sinh viên cần sản phẩm hấp dẫn, khơi gợi khám phá; người dân trên không gian mạng cần nội dung ngắn gọn nhưng có nguồn kiểm chứng. Với vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số, phải quan tâm ngôn ngữ, hình thức thể hiện và điều kiện tiếp cận.
Nhìn thẳng vào những điểm nghẽn
Kết quả đạt được là đáng ghi nhận, nhưng chưa tương xứng với tiềm năng của mạng lưới trí thức trong hệ thống Liên hiệp Hội Việt Nam. Hoạt động ở một số nơi còn phân tán, thiếu liên kết giữa hội ngành với địa phương; chưa có chiến lược và kho nội dung dùng chung; sản phẩm số chưa đồng đều; nguồn lực hạn chế; thương hiệu chung của toàn hệ thống chưa thật rõ nét.
Đánh giá hiệu quả vẫn có lúc thiên về số hội thảo, tài liệu và lượt tiếp cận, chưa theo dõi đầy đủ mức độ ứng dụng, khả năng nhân rộng và tác động đến năng suất, thu nhập, sức khỏe, môi trường hoặc hành vi. Một số nội dung còn nặng tính chuyên môn; sự phối hợp giữa nhà khoa học, cơ quan truyền thông, tổ chức quần chúng, doanh nghiệp và chính quyền cơ sở chưa thường xuyên.
Nhìn rõ điểm nghẽn giúp xác định đúng hướng đổi mới: chuyển từ hoạt động riêng lẻ sang sức mạnh của cả hệ thống; từ truyền đạt thông tin sang kiến tạo năng lực ứng dụng; từ đo số lượng đầu ra sang đánh giá sự thay đổi thực tế trong đời sống.
Đổi mới để tri thức trở thành năng lực phát triển
Thứ nhất, xây dựng định hướng và cơ chế phối hợp thống nhất trong toàn hệ thống. Liên hiệp Hội Việt Nam cần lựa chọn các vấn đề liên ngành, hình thành mạng lưới chuyên gia, cơ sở dữ liệu và sản phẩm dùng chung; phát huy chiều sâu chuyên môn của hội ngành và khả năng triển khai sát cơ sở của Liên hiệp Hội địa phương.
Thứ hai, đổi mới nội dung theo hướng thiết thực và có trọng tâm. Cần ưu tiên kỹ năng số, an toàn số và sử dụng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm; sản xuất xanh, nông nghiệp tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu; sức khỏe, an toàn thực phẩm; tiêu chuẩn, công nghệ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Mỗi nội dung phải trả lời được người dân, doanh nghiệp cần biết gì, làm gì và tìm hỗ trợ ở đâu.
Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số. Cùng với tập huấn trực tiếp, cần phát triển video ngắn, đồ họa, podcast, khóa học trực tuyến, thư viện số và chuyên mục hỏi - đáp với chuyên gia. Công nghệ số và trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ biên tập, cá thể hóa nội dung, nhưng phải đi cùng quy trình kiểm chứng, bảo vệ dữ liệu, bản quyền, an toàn thông tin và trách nhiệm chính trị, xã hội.
Thứ tư, tổ chức phổ biến kiến thức theo chu trình khép kín: khảo sát nhu cầu; lựa chọn chuyên gia và giải pháp; hướng dẫn thực hành; theo dõi áp dụng; đánh giá, nhân rộng. Cần phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và chính quyền địa phương để đưa tri thức đến đúng nhóm, đồng thời huy động nguồn lực xã hội minh bạch, hiệu quả.
Thứ năm, đổi mới thước đo hiệu quả. Bên cạnh số hoạt động và lượt tiếp cận, cần theo dõi tỷ lệ người dân áp dụng kiến thức; số mô hình được duy trì, nhân rộng; sự thay đổi về năng suất, chi phí, thu nhập, sức khỏe, môi trường, hành vi và mức độ tin cậy của cộng đồng. Đo bằng giá trị tạo ra sẽ tăng sức thuyết phục và tạo cơ sở bố trí nguồn lực lâu dài.
Để khoa học thực sự phục vụ nhân dân
Từ dấu mốc ngày 18/5/1963 đến hôm nay, sứ mệnh đưa hiểu biết khoa học, kỹ thuật đến với nhân dân vẫn giữ nguyên giá trị. Điều thay đổi là quy mô tri thức, tốc độ phát triển công nghệ và phương thức truyền thông. Điều không thay đổi là nguyên tắc: nội dung phải đúng, thiết thực, dễ hiểu, làm được và được kiểm chứng bằng kết quả thực tế.
Phát huy mạng lưới trí thức đa ngành, gần dân và sát cơ sở, Liên hiệp Hội Việt Nam có điều kiện trở thành trung tâm kết nối, chuyển hóa và lan tỏa tri thức khoa học. Khi tri thức trở thành kỹ năng, hành động và năng lực sáng tạo của người dân, khoa học không chỉ là động lực tăng trưởng, mà còn là nguồn lực nâng cao chất lượng cuộc sống, củng cố niềm tin, tạo đồng thuận xã hội và bồi đắp sức mạnh nội sinh của dân tộc. Đó là con đường để đội ngũ trí thức đóng góp thiết thực vào phát triển đất nước và để khoa học thực sự phục vụ nhân dân.
Lê Thanh Tùng
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
