Kiểm soát quyền lực trong đảng cầm quyền qua kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng nghiêm minh
Trong điều kiện Đảng ta là đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội, quyền lực trong Đảng nếu không được kiểm soát có hiệu quả sẽ rất dễ dẫn đến lạm quyền, lộng quyền, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Để tăng cường kiểm soát quyền lực trong Đảng, việc thực thi công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng nghiêm minh là rất quan trọng và cấp thiết.
Kiểm soát quyền lực trong Đảng
Quyền lực là việc chủ thể nắm quyền lực tác động, chi phối lên chủ thể khác, buộc họ phải phục tùng trong định đoạt mọi công việc quan trọng và sức mạnh để bảo đảm thực hiện quyền định đoạt ấy. Kiểm soát quyền lực là toàn bộ phương thức, quy trình, quy định nhằm phát hiện, ngăn chặn, loại bỏ những hành vi sai trái trong hoạt động thực thi quyền lực, bảo đảm để quyền lực được thực thi đúng mục đích và đạt hiệu quả cao nhất, không bị lạm dụng, lợi dụng để trục lợi.
Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, là đảng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội; đảng viên là những người nắm giữ vị trí công tác, chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị. Do đó, kiểm soát quyền lực trong Đảng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Kiểm soát quyền lực trong Đảng là việc các tổ chức đảng, đảng viên của Đảng sử dụng các công cụ, các quy định của thể chế hay cơ chế nhằm bắt buộc các tổ chức đảng, đảng viên được trao quyền phải thực hiện quyền lực được ủy nhiệm đúng với mục tiêu, tôn chỉ ban đầu của Đảng.
Có thể khái quát cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng bao gồm:
Một là, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, như tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo - cá nhân phụ trách; đoàn kết, thống nhất; kỷ luật nghiêm minh; tự phê bình và phê bình; gắn bó mật thiết với nhân dân; các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Hoạt động của Đảng đều tuân theo nguyên tắc đa số: thiểu số phục tùng đa số; nghị quyết chỉ có giá trị khi có hơn một nửa số thành viên tán thành. Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của Đảng: cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương.
Hai là, cơ chế ủy quyền: Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo Đảng giữa hai kỳ đại hội là Ban Chấp hành Trung ương do Đại hội đại biểu toàn quốc bầu ra. Ban Chấp hành Trung ương bầu Tổng Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Bộ Chính trị thực hiện lãnh đạo và kiểm tra việc thực hiện nghị quyết Đại hội, nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương; quyết định những vấn đề về chủ trương, chính sách, tổ chức cán bộ; quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương, báo cáo công việc theo yêu cầu của Ban Chấp hành Trung ương.
Ba là, kiểm tra, giám sát: Các cấp ủy lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát. Ủy ban kiểm tra các cấp do cấp ủy bầu, gồm một số đồng chí trong cấp ủy và một số đồng chí ngoài cấp ủy. Ủy ban kiểm tra làm việc theo chế độ tập trung dân chủ, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy cùng cấp và sự chỉ đạo, kiểm tra của ủy ban kiểm tra cấp trên.
Kiểm soát quyền lực trong Đảng nhằm bảo đảm quyền lực được thực thi đúng mục đích, có hiệu quả, củng cố sức mạnh của Đảng. Yêu cầu của kiểm soát quyền lực trong Đảng là phải phát huy được sức mạnh của chủ thể kiểm soát quyền lực; bảo đảm các phương thức kiểm soát được áp dụng có khả năng ngăn chặn, xử lý các hành vi lạm quyền; bảo đảm các vị trí quyền lực trong Đảng có thể bị thay thế khi không thực hiện được mục tiêu mà Đảng phân công.
Chủ thể kiểm soát quyền lực trong Đảng bao gồm: Đảng viên (đảng viên không nắm giữ các chức danh quyền lực trong Đảng; đảng viên được ủy quyền nắm giữ các chức danh quyền lực trong Đảng); tổ chức đảng các cấp (tổ chức đảng kiểm soát quyền lực của đảng viên; tổ chức đảng kiểm soát quyền lực của các tổ chức đảng khác).
Đối tượng kiểm soát quyền lực trong Đảng là: Các đảng viên được ủy quyền (kiểm soát các quyết định và kiểm soát hành vi); các tổ chức đảng được ủy quyền (kiểm soát quá trình đề ra chủ trương, đường lối; kiểm soát công tác cán bộ; kiểm soát công tác tuyên truyền, giáo dục; kiểm soát công tác kiểm tra, giám sát).
Nội dung cơ bản của kiểm soát quyền lực trong Đảng bao gồm:
Thứ nhất, kiểm soát quyền lực trong quy trình ra quyết định trong Đảng: Kiểm soát bước triệu tập hội nghị; kiểm soát bước thảo luận, đóng góp ý kiến; kiểm soát bước quyết định các dự thảo; kiểm soát bước thông qua quyết định.
Thứ hai, kiểm soát quyền lực trong quy trình thực hiện các quyết định trong Đảng: Kiểm soát các bước tổ chức thực hiện; kiểm soát quyết định, hành vi của chủ thể thực hiện quyết định.
Thứ ba, kiểm soát quyền lực trong quy trình kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quyết định trong Đảng: Kiểm soát nội dung hoạt động kiểm tra, giám sát; kiểm soát nội dung kiểm tra, giám sát; kiểm soát quá trình thực hiện; kiểm soát xử lý sai phạm.
Phương thức chủ yếu của kiểm soát quyền lực trong Đảng hiện nay bao gồm: Kiểm soát bằng thể chế (kiểm soát bằng Điều lệ Đảng; kiểm soát bằng các văn bản trong Đảng; kiểm soát bằng kê khai tài sản; kiểm soát bằng phiếu tín nhiệm...); kiểm soát bằng các phương thức kiểm soát mềm (kiểm soát bằng tuyên truyền, giáo dục; kiểm soát bằng nêu gương; kiểm soát bằng tự phê bình và phê bình...).
Công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật góp phần kiểm soát quyền lực trong Đảng
Đặc trưng chủ yếu của quyền lực trong Đảng có thể được nhận diện là: Quyền lực của Đảng có nguồn gốc từ sự lựa chọn của lịch sử và nhân dân Việt Nam; là quyền lực được chế định trong Hiến pháp năm 2013 (Điều 4). Theo đó, Đảng “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình. Đảng chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.
Quyền lực của Đảng là quyền lực lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, kể cả đối với lực lượng vũ trang. Hiện nay, nhiều vấn đề đặt ra về kiểm soát quyền lực trong Đảng đáng quan tâm, như: Công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng phụ thuộc rất lớn vào quyết định của các tổ chức đảng, đảng viên được ủy quyền, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy; trong quá trình thực hiện quy trình kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng đã bộc lộ mối quan hệ quyền lực giằng buộc, chi phối giữa các cá nhân, tổ chức đảng này với các cá nhân, tổ chức đảng khác, làm cho những người thực hiện nhiệm vụ đó khó có thể thực hiện một cách khách quan, dẫn đến vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, đùn đẩy... trong đấu tranh với các vi phạm.
Thời gian qua, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành, chỉ đạo ban hành nhiều quy định về kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, bảo đảm khá đầy đủ, toàn diện, tạo cơ sở chính trị, pháp lý quan trọng để cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng và đảng viên, góp phần kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có hiệu quả(1).
Các quy định, quy chế, hướng dẫn về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được sửa đổi, bổ sung, ban hành bảo đảm đồng bộ, thống nhất và chặt chẽ hơn, xác định rõ hơn nội dung, đối tượng kiểm tra, giám sát, làm cơ sở để xem xét, đánh giá, kết luận, xác định trách nhiệm của tập thể, cá nhân vi phạm và nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát(2). Qua đó, góp phần từng bước kiềm chế, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tình trạng tham nhũng, “lợi ích nhóm”, “tư duy nhiệm kỳ”, tha hóa quyền lực trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên.
Thực hiện các quy định của Đảng, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng đã có bước tiến mới, với những kết quả rất quan trọng, mang tính đột phá. Việc xử lý kỷ luật đảng đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm được thực hiện nghiêm minh, công khai, không có “vùng cấm”, không có ngoại lệ. Ủy ban Kiểm tra Trung ương tích cực đổi mới hoạt động kiểm tra, giám sát, chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện dấu hiệu vi phạm. Tăng cường công tác giám sát với cách làm mới (trong đó có hoạt động xác minh...); theo dõi địa bàn, khai thác tài liệu các cơ quan liên quan. Lựa chọn những vấn đề trọng tâm, trọng điểm để kiểm tra, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ và những vấn đề gây bức xúc trong xã hội. Chỉ tiến hành kiểm tra theo chức năng, nhiệm vụ, đó là kiểm tra việc chấp hành quy chế làm việc, thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng. Tập trung kiểm tra, phát hiện vấn đề trọng tâm, nhanh chóng kết luận, xử lý, tạo niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Kiên quyết, khách quan, chính xác, không suy diễn; đề cao đối thoại với đối tượng bị kiểm tra. Xem xét kỷ luật phải công tâm, khách quan, toàn diện, lịch sử cụ thể, chính xác, thấu tình, đạt lý. Tăng cường kiểm tra các tổ chức đảng, đảng viên ở cấp huyện và cơ sở khi có dấu hiệu vi phạm (cách cấp); kịp thời tiến hành kiểm tra lại các vụ việc dư luận quan tâm, ủy ban kiểm tra cấp dưới đã kiểm tra nhưng chưa đáp ứng yêu cầu. Thường trực Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ động và có quyết tâm chính trị cao trong chỉ đạo kiểm tra, giám sát, gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ; thường xuyên nghe các đoàn kiểm tra, giám sát báo cáo và kịp thời định hướng, chỉ đạo, tạo sự thống nhất trong quá trình kiểm tra, giám sát. Thực hiện việc công khai kết quả các phiên họp của Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Chú trọng tuyên truyền trên báo chí về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng.
Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã tập trung kiểm tra làm rõ, kết luận nhiều vi phạm nghiêm trọng, quyết định kỷ luật, đề nghị kỷ luật nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, trong đó có cả những cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, lãnh đạo chủ chốt các địa phương, đơn vị, cả đương chức và nghỉ hưu, khắc phục tư tưởng “hạ cánh an toàn” trong cán bộ, đảng viên. Nhiều vụ việc phức tạp, tồn đọng, kéo dài, dư luận quan tâm đã được xem xét, kết luận và xử lý nghiêm minh, có tác dụng cảnh báo, răn đe đối với cán bộ, đảng viên, góp phần kiểm soát quyền lực trong Đảng.
Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến tháng 6-2023, cấp ủy các cấp đã kiểm tra 114.878 tổ chức đảng và 619.030 đảng viên, trong đó có 136.864 cấp ủy viên các cấp; giám sát 85.117 tổ chức đảng và 282.471 đảng viên, trong đó có 82.495 cấp ủy viên. Qua giám sát, phát hiện 407 tổ chức đảng và 1.264 đảng viên có dấu hiệu vi phạm; chuyển kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm 47 tổ chức đảng và 201 đảng viên. Ủy ban kiểm tra các cấp tăng cường kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, đã kiểm tra 6.873 tổ chức đảng và 20.824 đảng viên, trong đó có 10.162 cấp ủy viên các cấp, chiếm 48,8% số đảng viên được kiểm tra; giám sát 59.854 tổ chức đảng và 86.678 đảng viên, trong đó có 52.350 cấp ủy viên các cấp, chiếm 60,4% số đảng viên được giám sát(3).
Qua kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, có thể thấy, nội dung vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên chủ yếu là vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, dẫn đến xảy ra các vi phạm trong quản lý, sử dụng đất đai, khoáng sản, tài chính, tài sản, thực hiện dự án đầu tư; và vi phạm về phẩm chất đạo đức, lối sống… Đáng chú ý là vi phạm còn xảy ra ở cả các lĩnh vực nhạy cảm, như thực hiện chính sách nhân đạo, an sinh xã hội, y tế, giáo dục… Có trường hợp từng là cán bộ lãnh đạo bộ, ngành đã bị kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng do có những bài viết, phát ngôn trái với Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, Nhà nước, suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Tính chất, mức độ, hậu quả của các vi phạm ngày càng lớn, có những vụ việc gây thiệt hại rất lớn về tiền, tài sản của Nhà nước; nhiều vi phạm diễn ra trong một thời gian dài, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành nhưng không được phát hiện, kiểm tra kịp thời, dẫn đến khi xử lý để lại hậu quả rất nặng nề.
Sự phối hợp giữa kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán nhà nước và điều tra, truy tố, xét xử ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả hơn, hạn chế sự chồng chéo trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền; kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong lãnh đạo, quản lý để đề xuất bổ sung, sửa đổi các văn bản có liên quan cho phù hợp. Việc công khai kết luận kiểm tra và xử lý vi phạm đối với tổ chức đảng, đảng viên trên các phương tiện thông tin đại chúng đã có tác động tích cực, góp phần giáo dục cán bộ, đảng viên, được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Cùng với kỷ luật của Đảng, các cơ quan nhà nước cũng tiến hành kỷ luật hành chính tương xứng, bảo đảm kịp thời, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng và kỷ luật của Nhà nước; kỷ luật của Đảng đi trước, tạo tiền đề, mở đường cho kỷ luật của Nhà nước, kỷ luật của đoàn thể và xử lý hình sự. Đây là bước đột phá trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, góp phần siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và trong bộ máy nhà nước.
Đặc biệt, việc kiểm tra, giám sát, đôn đốc công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được tăng cường, nhiều cấp ủy, tổ chức đảng đã đưa công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thành nhiệm vụ trọng tâm của công tác kiểm tra, giám sát. Theo thống kê bước đầu, trong hơn 10 năm qua, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 3.700 tổ chức đảng, hơn 213.000 đảng viên, trong đó có hơn 8.760 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng hoặc liên quan đến tham nhũng, hơn 700 đảng viên bị kỷ luật do vi phạm về kê khai tài sản, thu nhập. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật gần 220 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý. Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, đã kỷ luật 95 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, cao hơn 8 lần so với nhiệm kỳ Đại hội XI (11 cán bộ) và gần bằng số cán bộ cao cấp bị xử lý kỷ luật của cả nhiệm kỳ Đại hội XII (113 cán bộ).
Phải xử lý kỷ luật cán bộ là điều không ai mong muốn, là điều không khỏi đau xót, nhưng là việc không thể không làm. Thực tế xử lý kỷ luật cán bộ cao cấp vi phạm vừa qua cho thấy, nhìn một cách tổng thể, công tác cán bộ của Đảng được quy định rất chặt chẽ và khoa học, nhất là việc đề bạt, cất nhắc, luân chuyển cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý phải qua nhiều bước, nhiều cơ quan, ban, ngành ở Trung ương xem xét, thẩm định. Do đó, không thể có lỗ hổng về quy trình, quy định. Phải chăng lỗ hổng ở đây là do tổ chức, cá nhân thực hiện các quy trình, quy định đó tạo ra, là sự thiếu trách nhiệm, nể nang, né tránh, là lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm của những người có thẩm quyền, trách nhiệm đánh giá, nhận xét, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ? Vì thế, cần tăng cường kiểm tra, giám sát nội bộ Đảng, ngăn chặn, phòng ngừa vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên, phát hiện và khắc phục ngay những thiếu sót, khuyết điểm khi mới manh nha; bảo đảm cho Đảng ta, trước hết là các cơ quan lãnh đạo và cán bộ lãnh đạo của Đảng luôn kiên định về chính trị, vững vàng về đường lối, không chệch hướng, có phẩm chất cách mạng tốt, ngăn chặn, đẩy lùi được sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Quan điểm chỉ đạo của Thường trực Ban Bí thư và Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong việc xử lý cán bộ sai phạm là rất dứt khoát, bởi nếu không kịp thời ngăn chặn được sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì sẽ ảnh hưởng đến sự tồn vong của Đảng và chế độ.
Cách thức tiến hành của Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong xem xét các vụ việc và xử lý trách nhiệm những tập thể, cá nhân có khuyết điểm liên quan trong thời gian vừa qua được dư luận và cán bộ, đảng viên đánh giá cao. Việc công khai thông tin thể hiện sự cương quyết, trách nhiệm và thẳng thắn trong xử lý cán bộ sai phạm, cho dù đó là cán bộ ở cấp nào, đương chức hay nghỉ hưu. Cách thức công khai như vậy cũng cần được áp dụng ở cả cấp địa phương khi xem xét xử lý cán bộ sai phạm để tạo niềm tin trong nhân dân.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng thời gian qua còn không ít khuyết điểm, hạn chế. “Việc tự kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm của nhiều cấp ủy, tổ chức đảng vẫn là khâu yếu; còn nhiều tổ chức đảng và đảng viên có vi phạm nhưng chưa được phát hiện kịp thời... Công tác giám sát ở các cấp chưa thường xuyên, có nơi, có lúc chưa thực chất, phạm vi, đối tượng còn hẹp... Việc thi hành kỷ luật đảng ở một số nơi chưa nghiêm, còn hiện tượng nể nang, ngại va chạm”(4). Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, “lợi ích nhóm”, “trông chờ, nghe ngóng”, “nhẹ trên, nặng dưới” hoặc bao che sai phạm của các địa phương, cơ quan, đơn vị. Công tác tự kiểm tra, giám sát của một số cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị để phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh xử lý tiêu cực, sai phạm liên quan đến tham nhũng, kinh tế còn hạn chế.
Đặc biệt, việc kiểm soát quyền lực của cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp nhằm phòng ngừa sự lợi dụng quyền hạn trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát vẫn chưa thực sự được quan tâm, chú trọng. Trên thực tế, có nhiều biểu hiện lợi dụng quyền hạn trong thực thi nhiệm vụ kiểm tra, giám sát chưa được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh, như nhận hối lộ, nhận quà biếu; tự ý tiếp xúc với đối tượng kiểm tra, giám sát; sử dụng các tài liệu thẩm tra, xác minh, kết quả kiểm tra, giám sát để trục lợi; bao che, “bỏ qua” hành vi vi phạm của đối tượng vi phạm; làm sai lệch kết quả kiểm tra, giám sát gây bất lợi hoặc có lợi cho đối tượng kiểm tra, giám sát...
Một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng góp phần kiểm soát quyền lực trong Đảng thời gian tới
Thời gian tới, để nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực trong Đảng, vai trò, trách nhiệm của cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng là hết sức nặng nề. Theo đó, cần xây dựng và hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng; hoàn chỉnh quy trình, phương pháp kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng; tăng cường đầu tư, hiện đại hóa cơ sở vật chất, kỹ thuật, phương tiện làm việc phục vụ công tác kiểm tra, giám sát; nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng. Cùng với đó, cần kiểm soát được quyết định, hành vi của chính những người làm công tác kiểm tra, giám sát.
Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp tập trung thực hiện một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau:
Một là, tiếp tục nâng cao hơn nữa nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Từng cán bộ kiểm tra phải nắm vững và thực hiện nghiêm túc những quy định, những văn bản về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng, đặc biệt là những nội dung mới, nội dung cốt lõi về công tác này được nêu trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, nhằm tạo sự thống nhất cao về ý chí và hành động trong toàn ngành kiểm tra đảng.
Kỷ luật đảng rõ ràng, chặt chẽ, nghiêm minh là điều kiện quan trọng để Đảng thật sự là một khối đoàn kết, thống nhất trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức; bảo đảm cho đường lối, chủ trương của Đảng được chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện thắng lợi. Do đó, Đảng phải giữ kỷ luật rất nghiêm từ trên xuống dưới. Nếu kỷ luật của Đảng lỏng lẻo thì những kẻ cơ hội, những phần tử phản động sẽ dễ dàng chui vào hàng ngũ để phá hoại Đảng. Kỷ luật của Đảng nghĩa là tư tưởng phải nhất trí, hành động phải thống nhất, xuất phát từ sự tự giác của đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ của họ đối với Đảng.
Tuy nhiên, kỷ luật của Đảng không chỉ đòi hỏi tính tự giác mà còn mang tính bắt buộc đối với những tổ chức đảng và đảng viên chưa ý thức đầy đủ về trách nhiệm, nhiệm vụ của mình. Những đảng viên giữ vị trí càng cao, trách nhiệm càng lớn, càng phải gương mẫu và nếu mắc sai phạm càng phải chịu kỷ luật nghiêm khắc, không được châm chước, bao che cho nhau. Trong bất kỳ trường hợp nào, mọi đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và bình đẳng về mặt công dân trước pháp luật. Phải căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ vi phạm để có hình thức kỷ luật thích đáng.
Hai là, tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa các mục tiêu, quan điểm, giải pháp về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng thành các văn bản, quy định, quy chế, hướng dẫn, bảo đảm tính khoa học, đồng bộ, chặt chẽ, thống nhất, khả thi, khắc phục những bất cập trong các quy định hiện hành. Trong đó, chú trọng đổi mới, cải tiến quy trình kiểm tra, giám sát để siết chặt kỷ luật, kỷ cương, phát hiện từ sớm, ngăn chặn từ gốc các vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên. Những quy định này cũng nhằm bảo đảm không có đảng viên nào có đặc quyền vượt quá Điều lệ Đảng cho phép; mọi đảng viên đều bị giám sát, xem xét, nhận xét, đánh giá hoạt động; mọi đảng viên đều có quyền bình đẳng, trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định và quản lý công việc trong Đảng.
Để bảo đảm kỷ luật được chặt chẽ, tự giác thì phải mở rộng, tăng cường dân chủ trong Đảng. Hai mặt dân chủ và kỷ luật trong Đảng phải luôn luôn đi đôi với nhau. Có mở rộng, tăng cường dân chủ trong Đảng thì mới bảo đảm được kỷ luật và ngược lại, có bảo đảm được kỷ luật thì mới mở rộng, tăng cường được dân chủ trong Đảng. Theo đó, Đảng cho phép mọi đảng viên được tự do tư tưởng, được đề đạt tâm tư, nguyện vọng, ý kiến riêng của mình lên đến cơ quan cao nhất của Đảng. Đồng thời, Đảng cũng yêu cầu phải quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên trong cả lời nói và việc làm. Trách nhiệm đó trước hết thuộc về các chi bộ đảng. Mọi cán bộ, đảng viên dù ở cấp nào cũng đều phải rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật, tự giác đặt mình trong sự quản lý của chi bộ, tham gia đầy đủ sinh hoạt chi bộ, tuân thủ kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết không để một cán bộ, đảng viên nào đứng ngoài sự quản lý của tổ chức. Mọi hành động vô tổ chức, vô kỷ luật, không chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, gây chia rẽ, bè phái trong Đảng đều phải bị xử lý nghiêm minh. Đây là yêu cầu cấp thiết, thường xuyên để giữ nghiêm kỷ luật của Đảng.
Ba là, tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng gắn với trách nhiệm người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những nơi dễ xảy ra vi phạm, nội bộ có biểu hiện mất đoàn kết, những nơi người dân có nhiều bức xúc, dư luận xã hội quan tâm; những nơi tham mưu, xây dựng thể chế, chính sách, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong một số lĩnh vực, như kinh tế - tài chính, năng lượng, y tế, giáo dục, đất đai, tài nguyên, khoáng sản, huy động, sử dụng các nguồn vốn, thực hiện các dự án đầu tư và công tác cán bộ. Qua kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm và công khai kết quả xử lý trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Bốn là, tăng cường kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm và nâng cao hơn nữa chất lượng công tác giám sát, chú ý giám sát đều các khu vực, lĩnh vực, địa phương, coi đây là việc làm thường xuyên để phát hiện, nhắc nhở, cảnh báo, phòng ngừa từ xa, giải quyết từ sớm các khuyết điểm, vi phạm với mục đích “trị bệnh cứu người”, không để từ khuyết điểm kéo dài trở thành vi phạm, từ vi phạm nhỏ trở thành vi phạm lớn, để lại hậu quả nghiêm trọng. Khi xem xét đơn, thư tố cáo, không phân biệt có ký tên hay không ký tên, vì đây là một đầu mối, một nguồn thông tin, còn vấn đề khẳng định sự đúng, sai của thông tin này là ở công tác kiểm tra của ủy ban kiểm tra và các cơ quan có trách nhiệm. Điều này càng khẳng định, dân chủ là cơ sở để thực hiện kiểm tra, giám sát nội bộ, mở rộng dân chủ là điều kiện cốt yếu để tăng cường kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật nghiêm minh trong Đảng hiện nay.
Tăng cường chỉ đạo ủy ban kiểm tra cấp dưới, khi cần thiết thì tiến hành kiểm tra cách cấp để thúc đẩy và tạo chuyển biến mang tính toàn diện, rõ rệt hơn nữa trong toàn ngành kiểm tra đảng. Các địa phương, đơn vị phải làm mạnh hơn nữa, quyết liệt hơn nữa, phải thực sự quan tâm, lắng nghe ý kiến của nhân dân, báo chí, công luận; chọn một số vụ việc có tính điển hình để kiểm tra, kết luận và xử lý nghiêm minh, nhất là trong phát hiện, xử lý, ngăn chặn tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp trong giải quyết công việc; khắc phục cho được tình trạng “trông chờ, nghe ngóng”, “trên nóng, dưới lạnh”.
Năm là, phối hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử của Nhà nước; đưa công tác phòng, chống tham nhũng thành một trong những nội dung công tác trọng tâm của ủy ban kiểm tra các cấp trong nhiệm kỳ này. Tập trung kiểm tra, xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm trong các vụ việc, vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo. Trong quá trình kiểm tra, giám sát, nếu phát hiện vi phạm có dấu hiệu tội phạm thì chuyển ngay hồ sơ vụ việc đến cơ quan điều tra có thẩm quyền để thụ lý, điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật, không chờ đến khi kết thúc quá trình kiểm tra, giám sát mới chuyển. Kỷ luật của Đảng phải được thực hiện trước, là tiền đề để xử lý kỷ luật hành chính của Nhà nước, của đoàn thể và xử lý hình sự.
Sáu là, thường xuyên quan tâm củng cố, kiện toàn tổ chức, bộ máy ủy ban kiểm tra và cơ quan ủy ban kiểm tra; xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Đề xuất cấp có thẩm quyền tăng cường luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các ngành, các cấp về làm công tác kiểm tra và luân chuyển cán bộ kiểm tra sang công tác ở các cấp, các ngành khác theo Thông báo Kết luận số 312-TB/TW, ngày 9-3-2010, của Ban Bí thư, “Về luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các ngành, các cấp về làm công tác kiểm tra, giám sát và luân chuyển lãnh đạo ủy ban kiểm tra các cấp sang công tác ở các ngành, các cấp để đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ kiểm tra”. Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm tra, trong đó chú trọng trang bị phương pháp, kỹ năng nghiệp vụ và thường xuyên bổ sung kinh nghiệm thực tiễn về xử lý các vụ việc, cập nhật kiến thức cho họ.
Bảy là, đặc biệt coi trọng tính gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là các đồng chí Ủy viên Trung ương về đức tính liêm khiết, không tham nhũng. Ủy ban Kiểm tra Trung ương thực hiện quyền kiểm tra, giám sát đối với cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, kể cả cán bộ cấp cao, không để người thân của các cán bộ này lợi dụng chức quyền của họ để chạy dự án, môi giới chạy chức, chạy quyền, … Cán bộ cấp cao phải thực sự là tấm gương sáng, thực sự là người tiêu biểu của Trung ương, của toàn Đảng và toàn dân, do vậy, càng phải tăng cường kiểm tra, giám sát các cán bộ này.
TS. Trần Duy Hưng
Ủy ban Kiểm tra Trung ương
(1) Quyết định số 158-QĐ/TW, ngày 12-5-2008, của Bộ Chính trị, về “Ban hành Quy chế chất vấn trong Đảng”; Quy định số 211-QĐ/TW, ngày 8-11-2013, của Bộ Chính trị, “Về giám sát đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý”; Quy định số 85-QĐ/TW, ngày 23-5-2017, của Bộ Chính trị, “Về kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản của cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý”; Quy định số 102-QĐ/TW, ngày 15-11-2017, của Bộ Chính trị, “Về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm”; Quy định số 109-QĐ/TW, ngày 3-1-2018, của Ban Bí thư, “Về công tác kiểm tra của tổ chức đảng đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 01-QĐi/TW, ngày 10-5-2018, của Bộ Chính trị, về “Trách nhiệm và thẩm quyền của ủy ban kiểm tra trong công tác phòng, chống tham nhũng”; Quy định số 179-QĐ/TW, ngày 25-2-2019, của Bộ Chính trị, “Về chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ”; Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28-7-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng”; Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về những điều đảng viên không được làm”;...
(2) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. II, tr. 198
(3) Trần Thị Hiền: “Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp cần nhận thức sâu sắc về công tác tuyên truyền trong kiểm tra, giám sát của Đảng”, Tạp chí Kiểm tra, số 157 (350), tháng 10-2023
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 201
