Kinh nghiệm thực tiễn nghiên cứu, vận dụng, phát triển tư tưởng cách mạng độc lập dân tộc ở Cuba
Trong lịch sử các quốc gia đều chú trọng nghiên cứu, vận dụng, phát triển tư tưởng của các lãnh tụ nhằm xây dựng các luận thuyết làm thay đổi nhận thức của toàn xã hội, tạo sức mạnh tinh thần to lớn, góp phần quyết định vào thành quả công cuộc xây dựng, phát triển đất nước đó.
Thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc cùng thành công trong công cuộc bảo vệ, xây dựng CNXH ở Cuba cũng chính là kết quả nghiên cứu, vận dụng, phát triển tư tưởng tư tưởng cách mạng độc lập dân tộc và cách mạng XHCN của cách nhà kinh điển, nhưng đặc thù, độc đáo.
1. Thực tiễn xây dựng tư tưởng độc lập dân tộc của Jose Marti
Jose Marti là nhà tư tưởng, nhà cách mạng kiên cường của Cuba và Mỹ Latinh. Ông sinh ngày 28 tháng 1 năm 1853 tại La Habana trong một gia đình công chức nghèo. Ông là người phát động và lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Cuba vào cuối thế kỷ 19 và hy sinh trên chiến trường ngày 19/5/1895. Jose Marti có 15 năm (1880 - 1895) sống trong lòng xã hội tư bản độc quyền ở Mỹ, ông chưa tiếp cận được lý luận của chủ nghĩa Mác về giải phóng dân tộc và độc lập dân tộc, nhưng xuất phát từ bối cảnh thực tế của Cuba thập niên cuối thế kỷ XIX, ông đã xây dựng luận thuyết đấu tranh giải phóng dân tộc cho người dân Cuba. Nội dung chính của luận thuyết là: “Xây dựng một nước Cuba Cộng hòa Dân chủ với một nền cộng hòa chân chính cho tất cả mọi chính quyền, vì lợi ích của mọi người”[1]. Trong nước cộng hòa này “sẽ thủ tiêu hết mọi chế độ bóc lột, xã hội không có kẻ giàu, người nghèo, không có kẻ thống trị và người bị trị, chính quyền trong nước sẽ vì thành quả chung của nhân loại”[2]. Luận thuyết giải phóng dân tộc của Jose Marti bắt nguồn từ lòng yêu nước của một người dân, một trí thức sống trong một dân tộc bị thực dân cả cũ lẫn mới đô hộ, bóc lột, nên mặc dù mang nặng tính lý tưởng hóa và chưa thoát khỏi tầm ảnh hưởng của tư tưởng tư sản, nhưng luận thuyết đã trở thành “ngọn đuốc cách mạng” giải phóng dân tộc cho nhân dân Cuba.. Tư tưởng của Jose Marti đã phản ánh được nguyện vọng của đông đảo quần chúng, khích lệ động viên nhân dân Cuba đứng lên chống lại thực dân Tây Ban Nha giành độc lập cho dân tộc mình.
Jose Marti là một trong số ít những nhà cách mạng ở Mỹ Latin và châu Mỹ đã nhìn thấu được mưu đồ bành trướng, bá quyền của đế quốc Mỹ ở Tây bán cầu cũng như trên phạm vi toàn thế giới. Đặc biệt, ông nghiên cứu, theo sát mọi hành vi, diễn biến trong chính sách đối nội, đối ngoại của Mỹ cuối thế kỷ XIX và gọi chính quyền này là “Tập đoàn ăn cướp”. Ông chỉ rõ: “Nước Mỹ…chỉ chăm chú đến việc xâm lược các nước láng giềng nhỏ, yếu hơn và tiến hành các cuộc chiến tranh vô nhân đạo, chống lại các nước trên thế giới với ý đồ thống trị toàn cầu”[3]. Từ nhận thức trên, thông qua luận thuyết của mình Jose Marti đã giác ngộ người dân Cuba nhận rõ các âm mưu thâm độc của Mỹ muốn thế chân Tây Ban Nha ở Cuba làm “bàn đạp” bành trướng ra toàn Mỹ Latin cũng như thế giới. Jose Marti chủ trương phát động toàn dân Cuba đứng lên tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đánh đổ ách thống trị của thực dân Tây Ban Nha, giành độc lập hoàn toàn cho Cuba, thúc đẩy và giúp đỡ cho nền độc lập của các nước láng giềng như Puertorico, Mexico, ngăn chặn con đường bành trướng của Mỹ qua quần đảo Ăngti cũng như toàn Mỹ Latin. Josse Marti đã bày tỏ ý chí của mình: "Mỗi phút tôi đều có thể hy sinh vì đất nước, vì nghĩa vụ giành độc lập cho Cuba"[4]. Tháng 4 năm 1892, ngay trên đất Mỹ, Jose Marti đã đứng ra thành lập Đảng Cách mạng Cuba, tập hợp tất cả các lực lượng yêu nước trong và ngoài nước nhằm chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giải phóng Cuba. Ngày 11/4/1895, Jose Marti cùng đồng sự bí mật vượt biển về Cuba, ý định phối hợp với một lực lượng đã về đó từ trước, chuẩn bị cho cuộc chiến. Khi cuộc chiến đang lan rộng và đạt được những bước tiến đáng kể thì ngày 19/5 năm ấy, ở tuổi 42, Jose Marti đã vĩnh viễn nằm xuống trong một trận huyết chiến với quân đội Tây Ban Nha ở Oriento. Như vậy, trong hoàn cảnh cụ thể của Cuba cuối thế kỷ XIX, Jose Marti đã gắn kết chủ nghĩa yêu nước với tinh thần đoàn kết quốc tế trong luận thuyết đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc của mình. Tư tưởng dân chủ cách mạng tiến bộ của Jose Marti đã trở thành vũ khí tinh thần sắc bén giúp nhân dân Cuba đứng lên đấu tranh chống áp bức, bóc lột, giải phóng dân tộc, giai cấp và xã hội.
2. Fidel Castro vận dụng quan niệm đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc của Jose Marti và đường lối cách mạng dân tộc, dân chủ triệt để của chủ nghĩa Mác - Lênin vào CuBa (1953 - 1959)
Fidel Castro cùng các đồng chí và nhân dân Cuba thực hiện thành công cuộc cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Cuba giai đoạn 1953 - 1959, dẫn đến sự ra đời của nước Cộng hòa Cuba ngày 01/01/1959. Sự nghiệp cách mạng do Fidel Castro lãnh đạo thành công ở Cuba, có thể khẳng định là sự vận dụng luận thuyết đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc của Jose Marti, chủ trương cách mạng dân tộc, dân chủ triệt để trong chủ nghĩa Mác - Lênin để hình thành tư tưởng “Cách mạng tiến công” của mình.
Nội dung vận dụng chính trong tư tưởng “Cách mạng tiến công” của Fidel Castro là: “Muốn giành được độc lập thực sự cho tổ quốc, tự do cho nhân dân, người cách mạng không thể do dự trước khó khăn, nguy hiểm, trái lại, phải có tinh thần kiên quyết đấu tranh, kiên quyết phát động quần chúng nổi dậy, từng bước tạo ra những điều kiện chủ quan, cần thiết, tích cực, chủ động tạo ra thời cơ để giành thắng lợi cho cách mạng”[5]. Những thành quả của cuộc cách mạng do Fidel Castro lãnh đạo giai đoạn 1953 - 1959 đã khẳng định chân lý cách mạng của ông: “Cách mạng là phải tấn công. Không tiến công, cách mạng không thể giành thắng lợi. Tiến công là tìm cách khắc phục mâu thuẫn, vượt qua khó khăn, kiên trì xây dựng, phát triển thực lực của cách mạng về mọi mặt, tích cực, chủ động, sáng tạo ra thời cơ để đưa cách mạng từng bước tiến lên, đánh bại từng chính sách, đập tan từng âm mưu, đánh đổ từng vị trí, đi đến đánh đổ hoàn toàn ách thống trị của bọn bóc lột, giành chính quyền về tay nhân dân”[6]. Tư tưởng “Cách mạng tiến công” của Fidel Castro là kết quả sự vận dụng sáng tạo đường lối cách mạng dân tộc, dân chủ triệt để của chủ nghĩa Mác - Lênin vào một nước thuộc địa kiểu mới - Cuba. Chính Fidel Castro đã khẳng định: “Quá trình cách mạng Cuba khẳng định sức mạnh kỳ diệu của tư tưởng Mác, Ăng ghen, Lê nin”[7]. Qua đây có thể khẳng định rằng, cho dù hình thức đấu tranh, bước đi cụ thể của phong trào giải phóng và bảo vệ độc lập dân tộc ở Mỹ Latin có diễn ra như thế nào thì những thành công của cách mạng Cuba cũng là sự vận dụng sáng tạo của Fidel đồng thời góp phần làm phong phú lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng dân tộc dân chủ trong điều kiện các nước thuộc địa, nửa thuộc địa, nửa phong kiến.
3. Fidel Castro thấm nhuần sâu sắc và vận dụng Học thuyết: “Xây dựng thế giới công bằng và xóa bỏ bất công” của Jose Marti kết hợp với Chủ nghĩa Mác - Lênin trong xây dựng CNXH và bảo vệ độc lập dân tộc của CuBa (1959 - 2016)
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng (1959 - 2016), Fidel Castro đã thấm nhuần và vận dụng sáng tạo Học thuyết: “ Xây dựng thế giới công bằng và xóa bỏ bất công” của Jose Marti, kết hợp với Chủ nghĩa Mác - Lênin trong xây dựng CNXH và bảo vệ độc lập dân tộc ở CuBa. Fidel đã khẳng định: “Tư tưởng sẽ làm chuyển hóa thế giới”[8]. Từ tư tưởng đến hành động, Fidel luôn gắn liền với quyền lợi của nhân dân, tạo nên sức mạnh đoàn kết toàn dân. Có thể tóm tắt sự vận dụng và phát triển sáng tạo những tư tưởng trên trong lãnh đạo cách mạng của Fidel:
Thứ nhất, kiên định con đường đi lên CNXH là nền tảng quan trọng ổn định và phát triển đất nước
Ngay sau cách mạng Cuba thành công (01/1959), lãnh tụ Fidel Castro đã ý thức sâu sắc triết lý, muốn bảo vệ được thành quả cách mạng thì không có con đường nào khác là con đường cách mạng XHCN mà Chủ nghĩa Mác - Lênin đã vạch ra. Sự vận dụng sáng tạo của Fidel được thể hiện rõ trong việc thành lập đảng - lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu cho cách mạng. Fidel ý thức rõ rằng, cách mạng giải phóng dân tộc có thể do bất cứ lực lượng yêu nước cách mạng nào tập hợp được sức mạnh dân tộc cũng có thể thành công, nhưng muốn làm cách mạng XHCN thì phải nhất thiết thành lập Đảng Cộng sản. Từ nhận thức đó, ngày 03/10/1965, dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Fidel, Đảng Cộng sản Cuba (PCC) được thành lập trên cơ sở hợp nhất ba tổ chức cách mạng cùng tồn tại trước đó. PCC là chính đảng cầm quyền duy nhất của giai cấp công nhân và nhân dân Cuba. Đảng được dẫn dắt bởi các tư tưởng của José Martí, các tư tưởng chính trị của Mác, Ăngghen và Lênin; được hiến pháp quy định là “lực lượng lãnh đạo xã hội và đất nước”. Con đường thực hiện mục tiêu CNXH của Cuba dựa trên hai nguyên tắc trụ cột được lãnh tụ Fidel đề ra: Quyền lãnh đạo chính trị của Đảng Cộng sản và vai trò chủ đạo của Nhà nước trong nền kinh tế.
Năm 1991, sau sự sụp đổ của Liên Xô, Cuba đứng trước những thử thách gay gắt về lý luận con đường đi lên CNXH, sự dao động về chính trị tư tưởng và niềm tin trong nội bộ. Trước biến động đó, Chủ tịch Fidel cùng Đảng Cộng sản Cuba (PCC) tuyên bố Cuba bước và “Thời kỳ đặc biệt” và kêu gọi các tầng lớp nhân dân siết chặt đoàn kết, tự lực tự cường kiên định mục tiêu XHCN chờ tình thế thay đổi.
Thứ hai, sáng tạo lý luận gắn với thực tiễn thúc đẩy cải cách kinh tế - xã hội
Từ năm 1993, Cuba tiến hành nghiên cứu, khảo sát công cuộc cải cách CNXH ở Trung Quốc và công cuộc Đổi mới ở Việt Nam. Đến năm 1995, tại Đại hội V của Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch Fidel tuyên bố bắt đầu công cuộc “Điều chỉnh sửa sai CNXH ở Cuba”, từng bước điều chỉnh các chính sách kinh tế, đối ngoại phù hợp với tình hình mới. Nhờ tăng cường quan hệ kinh tế, thương mại với các nước Mỹ - Latinh; bình thường hóa quan hệ thương mại với các nước châu Âu; thúc đẩy trao đổi kinh tế với Trung Quốc, Ấn Độ,... kinh tế Cuba đã từng bước phục hồi và dần thoát khỏi kỳ khó khăn.
Từ năm 2008, Cuba bắt đầu triển khai tiến trình cải cách “cập nhật hóa” mô hình phát triển nhằm tạo đột phá mới đối với nền kinh tế Cuba. Chủ trương này được chính thức hóa tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (4/2011) và tiếp tục được bổ sung, phát triển tại Đại hội VII, được cụ thể hóa ở các Hội nghị Trung ương. Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng Cuba Miguel Díaz Canel Bermudez phát biểu trước Quốc hội khóa IX sau khi nhậm chức khẳng định: “Hiện đại hóa mô hình xã hội và kinh tế nhưng vẫn kiên định giữ vững hệ thống XHCN”, tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH là duy nhất, là mục tiêu lý tưởng của Đảng và nhân dân Cuba.
Như vậy là, với sự kiên định con đường đi lên CNXH và kiên trì đổi mới, sáng tạo lý luận, nhất là những vấn đề lý luận trong đường lối “cập nhật hóa” mô hình kinh tế - xã hội đã giúp Cuba ổn định và phát triển; từng bước giải quyết tốt các vấn đề kinh tế - xã hội và an ninh, quốc phòng, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Cuba cùng lãnh tụ Fidel Castro, một dân tộc Cuba nhỏ bé về tầm vóc kinh tế - địa lý đã phát huy được những phẩm chất tốt đẹp nhất của mình thành chính sách nhất quán của Nhà nước cách mạng để trở thành ngọn hải đăng cho các phong trào tiến bộ tại Mỹ Latin cũng như trên thế giới.
4. Bài học gợi mở
Từ thực tiễn xây dựng tư tưởng độc lập dân tộc, bảo vệ độc lập dân tộc của Jose Marti, cùng sự vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận Mác - Lênin của Fidel Castro trong xây dựng CNXH ở Cuba gợi mở một số bài học sau:
Một là, lý luận cho một cuộc cách mạng không phải tự dưng mà có, đó là sản phẩm, phát minh khoa học của một cá nhân thuộc tầng lớp “trí thức đặc biệt”. Đây là những trí thức thuộc tầng lớp thống trị, nhưng lại “phát minh” ra những tư tưởng, lý luận bảo vệ tầng lớp bị trị, giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ, bóc lột của thực dân, đế quốc. Họ là những người thông minh, tài giỏi hơn người và sẵn sàng hy sinh của cải,chức vị,thậm trí cả sinh mệnh để bảo vệ chân lý, lẽ phải. Từ nghiên cứu thân thế và sự nghiệp của José Martí và Hồ Chí Minh cho thấy, họ đều là những “trí thức đặc biệt”, đều để lại nhiều dấu ấn trong đời sống chính trị của hai dân tộc Cuba và Việt Nam. Cả hai người đều hiến dâng trọn đời mình cho cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do của Tổ quốc, đều là nhà tư tưởng, nhà lãnh đạo, nhà văn hóa kiệt xuất... đã mang trái tim, khối óc của mình phục vụ cho mục đích cao cả là giải phóng dân tộc.
Hai là, muốn cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc thành công phải luôn gắn liền và kiên định lập trường, con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phải tuân theo quy luật: thành lập Đảng Cộng sản - lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu cho cách mạng; phải bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ nền tảng tư tưởng; phát huy những thành tựu tạo dựng những nền tảng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo ổn định chính trị - xã hội, cải thiện, nâng cao mức sống nhân dân.
Ba là, vận dụng sáng tạo lý luận là phải luôn nghiên cứu tổng kết thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, xây dựng, bổ sung và hoàn thiện lý luận đáp ứng với đòi hỏi của thực tiễn nước mình, thúc đẩy cải cách kinh tế - xã hội phát triển.
Tuy còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng đa số người dân Cuba vẫn tin rằng Fidel Castro cùng Đảng Cộng sản Cuba luôn vận dụng, phát triển sáng tạo lý luận Mác - Lênin, kiên định CNXH và không ngừng đổi mới, sáng tạo lý luận để xử lý kịp thời những vấn đề thực tiễn đặt ra. Những chính sách và thành quả kinh tế - xã hội nổi bật đã đạt được sẽ là nền tảng vững chắc để Đảng và Nhà nước Cuba kế thừa, tiếp tục tiến trình hiện đại hóa, đưa đất nước tiếp tục phát triển ổn định, bền vững.
TS. Nguyễn Minh Thảo
[1] Jose Marti (1965), Tuyển tập, Nxb, Tiến bộ, Mát xcơ va, tr 212
[2] Jose Marti (1965), Tuyển tập, Nxb, Tiến bộ, Mát xcơ va, tr 212
[3] Jose Marti (1964), Obras Completas, La Habana, p.352
[4] Dẫn theo: Trần Đắc Danh “Người Cuba đầu tiên phát hiện ra Việt Nam” https://cand.com.vn/Tu-lieu-van-hoa/Nguoi-Cuba-dau-tien-phat-hien-ra-Viet-Nam-i328929/. Cập nhật 21/09/2010, 14:42
[5] Dẫn theo: Phạm Xuân Nam (2002), Tìm hiểu lịch sử cách mạng Cuba – giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc 1953 - 1959, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 246
[6] Dẫn theo: Phạm Xuân Nam (2002), Tìm hiểu lịch sử cách mạng Cuba - giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc 1953-1959, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 429
[7] Fidel Castro (1972), Le processus revolusionaise de Cuba confirme la force extraochinare des idees de Mars, Engels et Lenine, Granma.
[8] Phi - Đen Ca-Xtơ - Ro Ru-Dơ (1978), Cuba trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr 33
