Nhận diện và đấu tranh phản bác quan điểm sai trái tự do báo chí tuyệt đối

Báo chí là lĩnh vực đặc thù, nhạy cảm và có tác động trực tiếp, ảnh hưởng sâu rộng đến việc hình thành, định hướng và ổn định dư luận xã hội, nhưng cũng có thể làm rối ren xã hội. Do đó, mỗi quốc gia phải trên cơ sở điều kiện lịch sử, văn hóa truyền thống và chế độ chính trị của mình để xây dựng hành lang pháp lý, cơ chế và thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận một cách phù hợp.

1. Bài học đắt giá về đi quá giới hạn tự do báo chí

Tự do báo chí là vấn đề không mới, nhưng là vấn đề rất nhạy cảm đối với mỗi quốc gia dân tộc. Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động và thành phần cơ hội chính trị bất mãn vẫn cố tình xuyên tạc Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí; từ đó họ đưa ra cái gọi là “khuyến cáo” rằng, cần phải “tách báo chí ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam”, thế mới là một nền “tự do báo chí ưu việt”, “tự do ngôn luận hoàn hảo” và để Việt Nam không bị xem là “một quốc gia bóp nghẹt tự do báo chí, cưỡng bức ngôn luận” (!).

Ảnh minh họa

Những đối tượng đưa ra các ý kiến nêu trên có lẽ đang bị ảo tưởng về một “chân trời tự do báo chí tuyệt đối”! Bởi thực tế, không có bất cứ quốc gia nào trên thế giới có nền báo chí tự do vô giới hạn, mà báo chí đều phải tuân thủ theo những nguyên tắc, luật lệ, chế tài nhất định của luật pháp và chính quyền.

Theo các nhà nghiên cứu, Mỹ là một quốc gia phát triển hàng đầu thế giới, cho nên một số người viện dẫn tự do báo chí của quốc gia này như là một mẫu hình cho các nước khác. Nhưng thực tế ngay sau khi ra đời, thời kỳ lịch sử nước Mỹ thuộc Anh, báo chí phải được cấp phép và chịu sự kiểm duyệt gắt gao trước khi xuất bản. Mặc dù Quốc hội Mỹ không được phép ra văn bản hạn chế tự do báo chí, nhưng kể từ năm 1787 đến nay, tòa án tối cao và chính quyền các bang của Mỹ đã ban hành hàng trăm văn bản quy phạm pháp luật làm công cụ điều phối và kiểm soát tự do thông tin. Không những vậy, báo chí ở Mỹ còn bị chi phối bởi các tập đoàn truyền thông và quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền. Thế nên, đừng lầm tưởng và ảo tưởng là Mỹ có nền báo chí “tự do hoàn hảo”.

Thực tiễn lịch sử báo chí thế giới đã chứng minh rằng, không có một nền báo chí của quốc gia nào, một cơ quan báo chí, một nhà báo nào được quyền “đứng trên, đứng ngoài” pháp luật hay không tuân thủ những phép tắc, chuẩn mực, phong tục, tập quán của cộng đồng dân tộc. Cố tình làm trái những nguyên tắc sơ đẳng này, báo chí có thể phải trả giá đắt.

Ngày 07/01/2015, cả thế giới bàng hoàng và lên án hành động các tay súng khủng bố tấn công tòa soạn Tạp chí Charlie Hebdo tại trung tâm thủ đô Paris của nước Pháp được mệnh danh là “thành phố của sự lịch lãm và thanh bình”, làm 12 người thiệt mạng tại chỗ (bao gồm 10 nhà báo của tạp chí cùng 2 cảnh sát) và hơn 20 người bị thương. Lý do vì tạp chí này đăng lại 12 bức biếm họa châm biếm đấng tiên tri Hồi giáo Mohammed từng xuất hiện trên nhật báo Jyllands-Posten của Ðan Mạch hồi năm 2006. Sau vụ việc này, theo Kênh truyền hình France24, kết quả từ cuộc thăm dò dư luận cho thấy, 42% số người được hỏi ở Pháp cho rằng các bức tranh biếm họa về nhà tiên tri Mohammed như những hình ảnh mà Tạp chí Charlie Hebdo đăng tải đã xúc phạm tới người Hồi giáo và không nên được xuất bản công khai.

Tháng 7/2011, tờ News of the World (Tin tức thế giới), tờ báo “lá cải” lớn nhất nước Anh đã phải đình bản vĩnh viễn sau 168 năm “làm mưa, làm gió” trên thương trường báo chí quốc tế do nhiều phóng viên bản của báo bị cáo buộc là đã đột nhập điện thoại của hàng nghìn người dân để “săn tin”. Phản ứng vụ việc này, ông Nick Clegg, Phó thủ tướng nước Anh thời điểm đó đã cảnh báo: Báo chí cần tự do để kiểm soát việc lạm dụng quyền lực của các chính trị gia và của xã hội nói chung, nhưng báo chí cũng không được phép lạm dụng quyền lực của họ!

2. Tự do báo chí ở Việt Nam không phụ thuộc vào “báo chí tư nhân”

Đồng chí Trịnh Văn Quyết tặng hoa chúc mừng lãnh đạo các cơ quan báo chí chủ lực quốc gia.

Cũng có một số ý kiến “lập luận” rằng, Nhà nước Việt Nam phải cho tư nhân có quyền xuất bản báo chí thì mới bảo đảm quyền “tự do báo chí đích thực”. Bởi theo họ, xã hội dân chủ là một xã hội mà công dân được phép làm tất cả những gì mang lại lợi ích cho họ, trong đó có quyền được ra báo để có tiếng nói độc lập, có thông tin tự do hoàn toàn, có quyền “phản biện xã hội” thoải mái như nhiều nước phát triển!

Nhận định, đánh giá như vậy là phiến diện, thiếu quan điểm thực tiễn. Vì mỗi mỗi quốc gia dân tộc đều có đặc điểm lịch sử và chế độ chính trị khác nhau. Thực tế ở Việt Nam không có báo chí tư nhân, nhưng tất cả các ban, bộ, ngành, đoàn thể từ trung ương đến địa phương, các giai cấp, tầng lớp, các hội nghề nghiệp, các giới, các thành phần trong xã hội đều có tờ báo, tạp chí, bản tin, trang tin của mình. Mỗi công dân Việt Nam khi tham gia sinh hoạt, hoạt động ở tổ chức nào thì đều có ấn phẩm báo chí, thông tin của tổ chức đó bảo đảm quyền được thông tin của mình.

Để xem xét một nền báo chí có được xem là tự do hay không trước hết phải xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, bản chất, mục đích hoạt động của nó. Kể từ khi Báo Thanh niên xuất bản số đầu ngày 21/6/1925, đến nay báo chí cách mạng Việt Nam đã trải qua gần 100 năm. Trong suốt chặng đường hoạt động, báo chí cách mạng Việt Nam luôn đồng hành cùng đất nước, gắn bó với vận mệnh dân tộc, là người bạn thân thiết của nhân dân, là nhịp cầu nối liền giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng lao động. Tính nhân dân của báo chí Việt Nam thể hiện sinh động ở chỗ: Các tầng lớp nhân dân có thể bày tỏ chính kiến, tâm tư, nguyện vọng, băn khoăn, vướng mắc… của mình trên tất cả các loại hình báo chí. Nhiều năm qua, trên các tờ báo, tạp chí, đài phát thanh, truyền hình, báo điện tử đã có nhiều chuyên trang, chuyên mục, chương trình làm cầu nối với nhân dân, trở thành diễn đàn sâu rộng của nhân dân như: Trang bạn đọc, Nhịp cầu khán giả, Viết theo yêu cầu bạn đọc, Giải đáp chế độ- chính sách, Vấn đề dư luận quan tâm, Điều tra theo đơn thư bạn đọc, Tiếp chuyện bạn nghe đài, Dân hỏi- Bộ trưởng trả lời...

Là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội, báo chí Việt Nam có sứ mệnh “Thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân; Phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân; góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của nhân dân” (Điều 6, Luật Báo chí 2016). Quy định rõ ràng như vậy không thể nói là nền báo chí ấy không phải của dân, do dân, vì dân và không thể nói là nền báo chí không nhân văn, ưu việt, tiến bộ.

Lịch sử phát triển và thực tiễn báo chí thế giới cho thấy: Báo chí là lĩnh vực đặc thù, nhạy cảm và có tác động trực tiếp, ảnh hưởng sâu rộng đến việc hình thành, định hướng và ổn định dư luận xã hội, nhưng cũng có thể làm rối ren xã hội. Do đó, mỗi quốc gia phải trên cơ sở điều kiện lịch sử, văn hóa truyền thống và chế độ chính trị của mình để xây dựng hành lang pháp lý, cơ chế và thực hiện quyền tự do báo chí một cách phù hợp. Không thể bắt chước, sao chép hoặc lấy quyền tự do báo chí của nước này để áp đặt, áp dụng vào nước khác. Do đó, cần nhấn mạnh rằng, Việt Nam không cần báo chí tư nhân nhưng mọi người dân vẫn được đáp ứng và hưởng thụ nhu cầu thông tin về tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống, về mọi mặt tình hình của đất nước và thế giới.

3. Quyền tự do báo chí phải được bảo đảm bằng pháp luật

Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là một trong những quyền cơ bản của con người luôn được Đảng, Nhà nước ta xem là một thuộc tính, một bản chất của chế độ ta. Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đã hiến định: “Công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận” (Điều 10). Hiến pháp năm 1959 bổ sung: “Công dân nước Việt Nam có quyền các quyền tự do ngôn luận, báo chí” (Điều 15). Hiến pháp năm 1980 khẳng định: “Công dân có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí” (Điều 67). Hiến pháp 2013 hiến định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” (Điều 25 ).

Bên cạnh đó, Nhà nước cũng quy định rõ ràng, cụ thể về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân tại Luật Báo chí 2016. Theo đó, công dân có quyền: “Sáng tạo tác phẩm báo chí; Cung cấp thông tin cho báo chí; Phản hồi thông tin trên báo chí; Tiếp cận thông tin báo chí…” (Điều 10); “Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; Tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; Góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức, cá nhân” (Điều 11).

Nhằm bảo đảm cho các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí đi vào cuộc sống, Luật Báo chí 2016 quy định: “1) Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình; 2) Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân; 3) Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng” (Điều 13).

Quy định pháp luật của Nhà nước Việt Nam dựa trên cơ sở nội dung Điều 29 “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền”năm 1948 của Liên hiệp quốc: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hòi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.

Cần nhận thức thấu đáo việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí chỉ có giá trị và ý nghĩa khi nó được gắn liền với các quy định của pháp luật. Không thể có tự do báo chí trừu tượng, chung chung và cũng không thể lập lờ “đánh lận con đen”, cố tình lợi dụng tự do báo chí, tự do ngôn luận để đi ngược lại lợi ích quốc gia dân tộc và lợi ích của nhân dân.

Sống trong một xã hội pháp quyền, mọi công dân đều phải thượng tôn pháp luật và bất cứ ai vi phạm pháp luật, đều phải xử lý. Việc một số “nhà đấu tranh dân chủ”, “nhà báo tự do”... thời gian qua bị xử lý hình sự không phải xuất phát từ “những ý kiến phát biểu của họ”, mà là do họ đã đi quá giới hạn tự do báo chí, tự do ngôn luận, thực chất là họ cố tình cho đăng, phát thông tin có nội dung xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền nhân dân; bịa đặt thông tin gây hoang mang dư luận; xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc...

Trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay, Việt Nam luôn nhận thức sâu sắc rằng, không thể có đổi mới, dân chủ và phát triển nếu không tôn trọng và phát huy đầy đủ quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của Nhân dân. Vì đó không chỉ là một trong những quyền cơ bản của con người, mà còn là một trong những động lực quan trọng để mở rộng, phát huy dân chủ- nguồn lực nội sinh góp phần thúc đẩy đất nước phát triển bền vững. Mọi ý kiến đóng góp của người dân vì quốc kế dân sinh, vì những giá trị, phẩm chất cao đẹp của con người và dân tộc Việt Nam luôn được tôn trọng, khích lệ. Còn những ý kiến lạc lõng, xa lạ với thuần phong mỹ tục, làm phương hại đến sự ổn định chính trị, an ninh trật tự và “núp bóng” dưới quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để rắp tâm phá hoại sự nghiệp cách mạng Việt Nam, cần phải kiên quyết lên án, bác bỏ.

Thiện Văn