Giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động ở Việt Nam

Trong môi trường làm việc của người lao động luôn tiềm ẩn những nguy cơ về tai nạn lao động (TNLĐ), bệnh nghề nghiệp (BNN), kể cả những môi trường mà chúng ta tưởng như an toàn. Do đó, an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) với mục đích phòng ngừa, giảm thiểu đến mức thấp nhất xảy ra TNLĐ, BNN cần sự quan tâm của các bên liên quan đến quan hệ lao động, từ người sử dụng lao động (NSDLĐ), người lao động (NLĐ) và cơ quan quản lý nhà nước.

Giống như các quốc gia đang phát triển khác, ATVSLĐ ở Việt Nam là vấn đề cần được quan tâm hơn nữa, bởi vì những thiệt hại to lớn do mất ATVSLĐ mang lại. Cùng với sự phát triển của trình độ sản xuất, của hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề đảm bảo quyền của NLĐ trong ATVSLĐ, cải thiện điều kiện lao động là một yêu cầu quốc tế và được cam kết thực hiện bởi quốc gia thông qua việc ký kết các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đảm bảo một luật chơi chung công bằng và cạnh tranh hơn nữa. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật về vấn đề ATVSLĐ cho phù hợp với điều kiện phát triển và phù hợp với yêu cầu quốc tế đang là vấn đề đặt ra đốivới nước ta hiện nay.

1. Hiện nay, pháp luật ATVSLĐ được ban hành đã bao phủ tương đối đầy đủ các nội dung để quản lý ATVSLĐ trong doanh nghiệp (DN) và tuân thủ gần như đầy đủ các công ước quốc tế liên quan đến ATVSLĐ mà Việt Nam đã thông qua. Đồng thời, pháp luật được ban hành đã góp phần thắt chặt quản lý, giảm thiểu nguy cơ trước các yếu tố nguy hại thuộc điều kiện lao động trong DN.

Môi trường làm việc an toàn sẽ giúp người lao động yên tâm, gắn bó.

Mặc dù vậy, pháp luật quốc gia về ATVSLĐ trong DN còn bộc lộ một số hạn chế nhất định, đó là:

(i) Pháp luật về ATVSLĐ trong DN còn chưa cụ thể về bảo hộ lao động. Chỉ quy định tên phương tiện bảo hộ là chưa đủ, cần bổ sung tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp với điều kiện môi trường của Ngành, để đảm bảo tính bảo vệ của phương tiện bảo hộ cho NLĐ. Cụ thể, quy định về trang bị bảo hộ lao động tại Thông tư số 25/2022/TT-BLĐTBXH, ngày 30/11/2022 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định về chế độ trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động mới được ban hành không có tiêu chuẩn kỹ thuật về thiết bị kèm theo với các phương tiện bảo hộ lao động cá nhân đã quy định. Một ví dụ nhỏ về khẩu trang lọc bụi, có rất nhiều loại khẩu trang với những tiêu chuẩn lọc các loại bụi có kích thước khác nhau. Nhưng văn bản pháp luật không quy định rõ loại khẩu trang nào, yêu cầu quy cách kỹ thuật ra sao, DN có thể chỉ cần trang bị khẩu trang thông thường để tiết kiệm chi phí đã coi như đúng quy định. Nhưng trong thực tế ở một số DN, một số vị trí tẩy rửa cần sử dụng hóa chất, chỉ quy định khẩu trang lọc bụi, thì chưa phù hợp vì khi tiếp xúc với hóa chất cần tiêu chuẩn khẩu trang cao hơn để phòng hít phải khí độc[1].

(ii) Một số nội dung pháp luật về ATVSLĐ trong DN vẫn còn hạn chế, bất cập. Cụ thể: Nội dung huấn luyện an toàn hóa chất cho NLĐ tiếp xúc với hóa chất nguy hiểm trong DN được quy định chồng chéo nhau trong Nghị định số 113/2017/NĐ-CP, ngày 09/10/2017 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật hóa chất và Nghị định số 44/2016/NĐ-CP, ngày 15/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật ATVSLĐvề hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, huấn luyện ATVSLĐvà quan trắc môi trường lao động. Cùng nhóm đối tượng huấn luyện, cùng nội dung huấn luyện nhưng có hai quy định về loại chứng chỉ cần lấy. Như vậy, một NLĐ phải huấn luyện nội dung về an toàn hóa chất 2 lần, tốn thêm chi phí và thời gian.

Sự bất cập còn thể hiện trong quy định về quan trắc môi trường lao động. Theo đó, hằng năm DN vừa phải thực hiện đánh giá quan trắc môi trường lao động theo Điều 18, Luật ATVSLĐ, vừa phải đánh giá quan trắc môi trường theo quy định của Điều 106, Luật Bảo vệ môi trường. Hai loại đánh giá môi trường này có nội dung tương đối giống nhau về phương pháp, mẫu đánh giá, nên thống nhất quy định này, để giảm chi phí, tránh gây phiền hà, tốn kém cho DN[2].

(iii) Pháp luật về ATVSLĐ trong DN được ban hành còn cồng kềnh và phân tán ở nhiều văn bản Luật và dưới Luật khác nhau.

(iv) Các nội dung về tâm lý nghề nghiệp trong DN chưa được quan tâm đúng mức trong luật. Trong quy định về quản lý môi trường lao động, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế đã đề cập đến việc đánh giá yếu tố tâm sinh lý lao động và yếu tố tâm lý nghề nghiệp, nhưng chỉ quy định bắt buộc đánh giá yếu tố này với công việc nặng nhọc độc hại nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc độc hại nguy hiểm (Điều 35, Nghị định số 44/2016/NĐ-CP). Bên cạnh đó, Nghị định 44/2016/NĐ-CP và Thông tư 19/2016/TT-BYT cũng không đưa ra quy định về những chỉ tiêu cụ thể để hướng dẫn trong đánh giá về tâm lý lao động và yếu tố tâm lý nghề nghiệp cho NLĐ. Trong khi đó, vấn đề tâm sinh lý và tâm lý nghề nghiệp có thể xảy ra ở hầu hết những DN có thời gian làm việc dài và tùy theo tính chất từng công việc, đều có thể tồn tại những yếu tố ảnh hưởng, đặc biệt trong nền sản xuất công nghiệp[3].

2.Vấn đề mất ATVSLĐ đã gây ra những thiệt hại rất lớn về vật chất và con người. Do đó,thực hiện ATVSLĐ trong DN ở nước ta hiện nay là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, nhiều DN không tổ chức hoặc giản lược công tác ATVSLĐ trong DN để giảm chi phí sản xuất. Chính vì vậy, vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong xây dựng và ban hành pháp luật về ATVSLĐ trong DN là làm sao để đảm bảo một hệ thống pháp luật đồng bộ, đầy đủ, công bằng, khoa học, giúp quản lý tốt việc thực thi pháp luật về ATVSLĐ trong DN, giảm thiểu TNLĐ và BNN.Xuất phát từ thực trạng và những vấn đề đặt ra trong xây dựng ban hành pháp luật về ATVSLĐ nêu trên, đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vựcATVSLĐ ở nước ta hiện nay như sau:

Giai đoạn 2021-2025, mỗi năm có khoảng 3 triệu người được tuyên truyền, huấn luyện ATVSLĐ.

Thứ nhất, quy định cụ thể các tiêu chuẩn đối với quản lý hóa chất và thiết bị bảo hộ lao động cá nhân cho NLĐ.Quản lý an toàn, vệ sinh trong việc sử dụng hóa chất nguy hiểm còn thiếu chi tiết. Theo Luật Hóa chất và những văn bản hướng dẫn thi hành của Luật Hóa chất, phần nội dung về đảm bảo an toàn cho những NLĐ phải làm việc tiếp xúc trực tiếp với hóa chất nguy hiểm thì cần phải có những thông số cụ thể về thiết bị bảo hộ như loại khẩu trang lọc bụi, loại mặt nạ phòng độc phù hợp để phòng được những nguy cơ từ các loại bụi có kích thước khác nhau ở môi trường này. Tương tự với dụng cụ bịt tai chống ồn, sử dụng dụng cụ này với thông số kỹ thuật thế nào hay chỉ đơn thuần là bông bịt tai? Mức độ bảo vệ của thiết bị thế nào?

Với quy định chung không có thông số như hiện tại, chủ DN có thể cung cấp loại thiết bị bảo hộ giảm tác dụng phòng ngừa như mục đích ban đầu. Vì vậy, cơ quan quản lý nên nghiên cứu thêm để ban hành cụ thể thông số kỹ thuật cho những thiết bị này. Quy định của pháp luật cần chỉ rõ ra tiêu chuẩn đảm bảo “phù hợp” này, phối hợp với các cơ quan nghiên cứu tiêu chuẩn thiết bị bảo hộ an toàn để có căn cứ khoa học ban hành tiêu chuẩn về thiết bị bảo hộ lao động cá nhân cho NLĐ và luật hóa tiêu chuẩn đó.

Thứ hai, tăng cường phối hợp trong ban hành luật giữa các đầu mối trong bộ máy quản lý nhà nước về ATVSLĐ. Do cùng quản lý về ATVSLĐ, nhưng chưa phối hợp chặt chẽ trong ban hành văn bản quản lý, bởi vậy, cùng một vấn đề của ATVSLĐ, nhưng các bộ chủ quản khác nhau cũng có những yêu cầu riêng. Ví dụ như: Công tác huấn luyện ATVSLĐ, thì Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội yêu cầu NLĐ phải được huấn luyện theo các nhóm đối tượng, đã có quy định rất cụ thể về ATVSLĐ theo vị trí công việc; Bộ Y tế ra văn bản yêu cầu huấn luyện sơ cứu cấp cứu (có công nhận chứng chỉ huấn luyện ATVSLĐ nếu có); Bộ Công Thương yêu cầu riêng đối với huấn luyện cho người làm công việc liên quan đến sử dụng hóa chất trong sản xuất. Nội dung về huấn luyện phòng cháy chữa cháy cũng được quy định cả ở Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Công an. Như vậy có thể thấy, giữa các bộ cần có sự phối hợp hơn nữa trong dự thảo và ban hành văn bản hướng dẫn dưới luật, trong trường hợp có sự chồng lấn trong quản lý, thì cần bàn bạc và thống nhất để tránh bị chồng chéo, gây khó cho DN. 

Thứ ba,thống nhất đầu mối quản lý và trao quyền trong xây dựng pháp luật về ATVSLĐ trong DN. Để giải quyết tình trạng chồng chéo trong chủ thể quản lý và quy định quản lý này, cần có sự phân quyền và phối hợp chặt chẽ hơn giữa các cơ quan xây dựng và ban hành pháp luật ATVSLĐ trong DN. Có thể học tập từ Hàn Quốc, với việc quy định rõ một đầu mối quản lý khi ban hành tất cả các quy định về vấn đề ATVSLĐ. Trong điều 9, Luật An toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp, Hàn Quốc có quy định: Nếu thấy cần thiết để thực hiện hiệu quả kế hoạch phòng, chống TNLĐ và dịch bệnh, Bộ trưởng Bộ Việc làm và Lao động có thể yêu cầu bất kỳ sự hợp tác cần thiết nào từ người đứng đầu cơ quan hành chính liên quan, cơ quan hoặc người đứng đầu một tổ chức công lập theo Điều 4 của Luật Quản lý các tổ chức công; nếu người đứng đầu một cơ quan hành chính (không bao gồm Bộ Việc làm và Lao động; sau đây sẽ áp dụng điều tương tự trong Đạo luật này) có ý định quy định về an toàn và sức khỏe tại nơi làm việc, người đó phải hỏi ý kiến Bộ trưởng Bộ Việc làm và Lao động trước. Như vậy, Việt Nam cũng có thể tham khảo để trao quyền cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý thống nhất trong xây dựng, ban hành quy định pháp luật về ATVSLĐ để tránh tình trạng chồng chéo.

Thứ tư, tăng cường nghiên cứu và đưa ra các quy định liên quan đến phòng tránh nguy cơ về các bệnh liên quan đến sức khỏe thần kinh cho NLĐ. Trong nhịp sống, lao động hiện đại, con người ngày càng có nguy cơ cao bị mắc các bệnh liên quan đến sức khỏe thần kinh, do sự căng thẳngcông việc trong nhiều giờ liền. Đây chính là vấn đề phát sinh theo sự phát triển của phương thức sản xuất mới, bởi vậy cần được cơ quan quản lý nhà nước quan tâm, khắc phục, để phòng ngừa nguy cơ căng thẳng trong quá trình làm việc cho NLĐ.

Thứ năm, tăng cường nghiên cứu khoa học để có căn cứ vững chắc trong quy định tiêu chuẩn về thiết bị bảo hộ lao động. Các quy định liên quan đến ATVSLĐ trong DN đều phải dựa trên căn cứ khoa học rõ ràng, đặc biệt là các tiêu chuẩn an toàn. Trong vấn đề bảo hộ lao động này, cần sự tham gia của Bộ Khoa học và Công nghệ kết hợp với các viện nghiên cứu về an toàn lao động, tham mưu với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, đưa ra một bộ tiêu chuẩn của thiết bị bảo hộ lao động phù hợp với điều kiện môi trường lao động đặc thù của các ngành nghề với điều kiện lao động khác nhau.

Thứ sáu, nghiên cứu để đề xuất thêm các quy định hoặc khuyến nghị về phúc lợi cho NLĐ trong DN, trong đó có phúc lợi liên quan đến nhà ở cho NLĐ. Ăn, mặc, ở, đi lại là những nhu cầu cơ bản nhất của con người, đối với người công nhân di chuyển đến địa phương khác làm việc, họ gặp khó khăn rất lớn về nhà ở, nhiều người phải sống tạm bợ, chen chúc trong các căn phòng trọ với điều kiện sinh hoạt tồi tàn. Đây cũng là yếu tố tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn về dịch bệnh, về sức khỏe của NLĐ. Bởi vậy, việc nghiên cứu thêm các quy định hỗ trợ NLĐ trong giải quyết vấn đề nhà ở là cần thiết.

Bùi Sỹ Tuấn

 

[1] Hoàng Thị Thúy Hà (2015), Thực trạng môi trường, sức khỏe và bệnh tật ở công nhân may Thái Nguyên và hiệu quả một số giải pháp can thiệp, Luận án tiến sỹ y học, Đại học Thái Nguyên; Bùi Hoàng Nam (2017), Nghiên cứu điều kiện lao động, tình trạng sức khỏe và hiệu quả biện pháp huấn luyện an toàn - vệ sinh lao động cho công nhân may công nghiệp tại Hưng Yên, Luận án tiến sĩ Y tế công cộng, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương.

[2]Bộ Lao động -Thương binh và xã hội (2021, 2023): Tài liệu tổng hợp ý kiến vướng mắc trong thực thi pháp luật an toàn, vệ sinh lao động; Tài liệu tọa đàm “Nhìn lại 10 năm phát triển công tác an toàn, vệ sinh lao động tại Việt Nam”, ngày 28/8/2023.

 

[3]Theo nghiên cứu của Bùi Hoàng Nam (2017), kết quả điều tra và đánh giá về nhịp độ lao động, cường độ, tính chất công việc, cảm giác mệt mỏi và yêu thích công việc ở 800 nữ công nhân cho thấy, có 65,9% ở địa điểm nghiên cứu cho rằng, nhịp độ lao động là nhanh; 36,2% số nữ công nhân cảm nhận tính chất công việc ở đây là đơn điệu; cảm nhận về cường độ lao động công việc may, thì có 15,3% NLĐ cảm nhận rằng, mức độ là nặng nhọc; Tỷ lệ nữ công nhân cảm giác thấy mệt mỏi sau ca làm việc chiếm 21,9%.