Kinh nghiệm của một số quốc gia thu hút vốn đầu tư nước ngoài ứng phó với biến đổi khí hậu và gợi mở đối với Việt Nam
Trong bối cảnh hiện nay, một trong những thách thức lớn nhất mà thế giới đang phải đối mặt đó là biến đổi khí hậu. Số vốn đầu tư cần thiết để thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm lượng carbon cũng như chuyển đổi năng lượng, sản xuất và tiêu dùng có thể lên tới lên hàng nghìn tỷ USD mỗi năm. Để huy động được nguồn vốn này không thế chỉ dựa vào sức mạnh nội tại của từng quốc gia, mà cần tới nguồn lực về vốn và công nghệ từ nước ngoài.
1. Hiện nay, trên thế giới các dòng vốn FDI khí hậu vẫn đang ở mức rất khiêm tốn và dưới tiềm năng. Việc thiếu hành lang pháp lý cũng như chưa có cách hiểu thống nhất về FDI khí hậu giữa các quốc gia, mức độ quan tâm của các nhà đầu tư đến các loại hình dự án này còn thấp là những vấn đề cản trở thu hút nguồn vốn quan trọng này. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp thu hút FDI khí hậu là rất cần thiết, đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển như nước ta.
Vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài ứng phó với biến đổi khí hậu (sau đây gọi tắt là FDI khí hậu - Climate FDI) tuy không phải là một khái niệm mới và đã được các quốc gia quan tâm từ lâu, nhưng cho đến nay hầu như chưa có một cách hiểu thống nhất.
Tại Diễn đàn Kinh Thế giới (2023) là một trong những tài liệu đầu tiên gợi ý cách tiếp cận rõ ràng về FDI khí hậu. Theo đó, FDI khí hậu được hiểu là những khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) góp phần vào mục tiêu phát triển tác động tích cực đến khí hậu của các quốc gia. FDI khí hậu có thể bao gồm các dự án đầu tư không carbon hoặc ít carbon; nhằm mục tiêu giảm dấu chân carbon của hoạt động kinh tế; hỗ trợ giảm phát thải khí nhà kính (GHG) thông qua các giải pháp và công nghệ giảm phát thải; hoặc được thiết kế để cải thiện khả năng chống chịu của cơ sở hạ tầng trước ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Như vậy, có thể thấy, FDI khí hậu liên quan tới hầu hết tất cả các ngành/lĩnh vực.
Cũng tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (2023) đưa ra cách thức phân chia FDI theo mục tiêu và FDI khí hậu được xác định là một phần của FDI xanh (Hình 1). Cụ thể, FDI hướng tới các mục tiêu phát triển vững có thể được phân chia theo 3 cấp độ như sau: (i) Cấp độ 1 là các dự án đóng góp vào việc thực hiện một trong 17 mục tiêu phát triển bền vững (SDGs); (ii) Trong FDI phát triển bền vững bao gồm các dự án đóng góp vào các mục tiêu môi trường[1] được hiểu là FDI xanh - cấp độ 2;(iii) Trong FDI xanh bao gồm các dự án đóng góp vào mục tiêu liên quan đến khí hậu - cấp độ 3; Trong FDI khí hậu bao gồm các dự án nhằm thực hiện các mục tiêu cụ thể về khí hậu - cấp độ 4. Việc xác định như vậy có ý nghĩa quan trọng với các nhà hoạch định chính sách và các bên liên quan khi xác định mục tiêu nhằm tăng cường đầu tư có tác động tích cực tới khí hậu.
Trên cơ sở từ những quan niệm nêu trên, có thể thấy, 3 trụ cột quan trọng của FDI khí hậu bao gồm: Một là, FDI giúp cải thiện tác động của môi trường, khí hậu trong bất kỳ ngành nào,ví dụ như ngành sản xuất phương tiện phát thải thấp; Hai là, FDI đầu tư vào các ngành thực sự quan trọng với khí hậu, ví dụ ngành quản lý tài nguyên nước; Ba là, FDI nên được loại bỏ khỏi một số ngành, ví dụ như: nguyên liệu hóa thạch gây ô nhiễm[2].
2. Vấn đề biến đổi khí hậu đang trở thành một trong những thách thức lớn nhất mà thế giới phải đối mặt. Nhiệt độ trung bình bề mặt toàn cầu năm 2023 cao hơn khoảng 1,4°C so với trung bình giai đoạn 1850 - 1900 (IPCC, 2023). Nồng độ của 3 loại khí nhà kính chính - carbon dioxide, methane, và nitơ oxit - không ngừng tăng lên qua các năm, đạt mức cao kỷ lục vào năm 2022[3]. Mực nước biển trung bình toàn cầu đã đạt mức cao nhất từ năm 1993 đến nay, phản ánh sự nóng lên của đại dương cũng như sự tan chảy của các sông băng và tảng băng. Biến đổi khí hậu là nguyên nhân dẫn tới nhiều hiện tượng thời tiết và khí hậu cực đoan ở mọi khu vực trên toàn cầu như mưa lớn bất thường, hạn hán, bão nhiệt đới... Biến đổi khí hậu gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến hầu hết mọi lĩnh vực, đặc biệt là nền kinh tế toàn cầu. Để ứng phó với những tác động trên, số liệu dự báo cho thấy nhu cầu tài chính khí hậu toàn cầu lũy kế đến năm 2050 khoảng 266 nghìn tỷ USD[4].
Đứng trước bối cảnh đó, FDI xanh nói chung và FDI khí hậu nói riêng đang ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt trong khoảng 5 năm trở lại đây. Vào năm 2005, chỉ có khoảng 2% tổng số FDI vào các dự án mới toàn cầu liên quan đến biến đổi khí hậu và môi trường. Đến năm 2018, FDI khí hậu đã tăng trưởng đáng kể, nhưng vẫn chỉ chiếm khoảng 12% tổng số FDI toàn cầu. Kể từ năm 2020 đã có sự tăng trưởng vượt bậc của FDI khí hậu và đến năm 2022, tỷ lệ này đã đạt 39,4% với tổng số vốn đầu tư cho FDI khí hậuđạt gần 500 tỷ USD[5].
FDI khí hậu toàn cầu có tính tập trung khá cao. Trong giai đoạn 2021 - 2022, 10 quốc gia hàng đầu (trong đó có Việt Nam) đã thu hút khoảng ba phần tư FDI khí hậu toàn cầu. Năm 2022, chỉ 5 quốc gia hàng đầu đã thu hút tới 65% tổng số FDI toàn cầu[6]. Trong số 15 quốc gia thu hút vốn FDI khí hậu hàng đầu, có 37% số vốn chảy vào các thị trường mới nổi và 63% vào các nền kinh tế phát triển, mặc dù hơn một nửa số quốc gia này là các thị trường mới nổi.
Theo hình 3 cho thấy cơ cấu của FDI khí hậu giữa FDI năng lượng tái tạo[7] và FDI khí hậu khác[8] ở các quốc gia tiếp nhận FDI khí hậu hàng đầu. Tại hầu hết các quốc gia, FDI khí hậu tập trung vào các dự ánnăng lượng tái tạo. Các dự án đầu tư này ít cạnh tranh hơn do tại hầu hết các quốc gia đã có sẵn cơ sởhạ tầng tương thích và hỗ trợ các dự án này. Trong khi đó, Hungary, Trung Quốc, Canada, Mexico và Hoa Kỳ là những quốc gia tiếp nhận FDI khí hậu không liên quan đến năng lượng tái tạo nhiều nhất, đặc biệt là FDI phục vụ chuỗi cung ứng sản xuất, ví dụ như sản xuất thiết bị công nghệ sạch (cleantech equipment). Các dự án FDI này có tính cạnh cạnh tranh nhiều hơn khi các công ty đa quốc gia thiết lập các nền tảng xuất khẩu toàn cầu hoặc khu vực.
3. Có thể nhận thấy, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu. Việt Nam xếp hạng 127 trên 182 theo Sáng kiến Thích ứng Toàn cầu Notre Dame (ND-GAIN) và xếp thứ 13 trong số các quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan trong giai đoạn 2000 - 2019 theo Chỉ số Rủi ro Khí hậu Toàn cầu (2021). Tác động của biến đổi khí hậu đến nền kinh tế chiếm khoảng 3,2% GDP vào năm 2020 và dự kiến sẽ tăng nhanh trong những năm tới[9].
Theo Chương trình Phát triển Liên hợp quốc - UNDP (2023) ước tính, Việt Nam chỉ có thể trang trải được 30% chi phí của các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu. Ngoài ra, nếu hướng tới phương án chi 1,5% tổng GDP cho các hoạt động trên, thì Việt Nam vẫn cần huy động 35 tỷ USD trong giai đoạn 2021 -2030.Việt Nam cũng đã cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 và đã tham gia Đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) để đạt được mục tiêu này. Tổng nhu cầu tài chính cho quá trình khử carbon ước tính là 114 tỷ USD trong giai đoạn 2022 - 2040[10]. Có thể thấy nhu cầu về vốn là rất lớn, tuy nhiên, việc thu hút FDI khí hậu tại Việt Nam vẫn còn gặp phải một số khó khăn, thách thức, đó là:
Một là, cạnh tranh trong thu hút FDI khí hậu trên thế giới ngày càng có xu hướng diễn ra gay gắt hơn. Một mặt, xu thế này mang đến nhiều cơ hội khi thúc đẩy nhanh chóng FDI khí hậu nếu chính phủ các quốc gia tạo ra môi trường đầu tư phù hợp, khuyến khích các dự án triển khai nhanh chóng hơn, góp phần giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu, đồng thời mang lại lợi ích về kinh tế. Mặt khác, đó cũng là thách thức cho các quốc gia trong việc thu hút FDI, đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam.
Hai là, hợp tác giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, cũng như hợp tác giữa các Bộ, ban ngành trong thu hút và mở rộng FDI khí hậu còn hạn chế.
Ba là, môi trường kinh tế, xã hội, chính trị toàn cầu luôn có những biến động khó lường và ảnh hưởng tới khả năng thu hút FDI khí hậu của các quốc gia. Ví dụ như cuộc xung đột quân sự giữa Nga và Ukraina gần đây đã gây ra cú sốc về giá năng lượng và gia tăng đầu tư vào sản xuất năng lượng dựa trên nhiên liệu hóa thạch trong ngắn hạn.
4. Ứng phó với những thách thức của BĐKH cũng như thực hiện chiến lược xây dựng nền kinh tế carbon thấp, đòi hỏi Việt Nam phải huy động một lượng tài chính khổng lồ từ bên ngoài trong bối cảnh quy mô ngân sách nhà nước còn hạn hẹp. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đang theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững gắn với bảo vệ môi trường, do đó, việc thu hút các đầu tư trực tiếp nước ngoài ứng phó với BĐKH là rất cần thiết. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, còn nhiều vấn đề khiến các dòng vốn FDI khí hậu vẫn đang ở mức rất khiêm tốn, đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Để thu hút và sử dụng hiệu quả FDI khí hậu tại Việt Nam, trong thời gian tới, cần tập trung vào những giải pháp sau:
Thứ nhất, đẩy mạnh hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, các chính sách khuyến khích đầu tư nhằm tạo môi trường đầu tư thu hút FDI khí hậu. Cụ thể, nghiên cứu quy định cụ thể và nhất quán về áp dụng đánh giá tác động khí hậu khi cấp phép, hỗ trợ, hoặc ưu đãi đối với các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án có vốn FDI. Nội dung về tác động đến khí hậu nên là một phần bắt buộc trong đánh giá tác động môi trường xã hội. Bên cạnh đó, có thể đưa ra yêu cầu báo cáo về lượng phát thải của các doanh nghiệp/chi nhánh doanh nghiệp nước ngoài dựa trên quy mô của doanh nghiệp. Thông tin về lượng phát thải là điều kiện tiên quyết cho các chính sách khí hậu hiệu quả, cũng như có kế hoạch phân bổ vốn phù hợp, ưu tiên các dự án phát thải carbon thấp. Tuy nhiên, quy định yêu cầu báo cáo như vậy có thể bất lợi về mặt chi phí báo cáo so với nguồn lực con người và tài chính đối với các doanh nghiệp nước ngoài có quy mô không lớn. Do vậy, yêu cầu này chỉ nên áp dụng cho các doanh nghiệp có quy mô vượt quá một ngưỡng nhất định. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh cải cách hành chính, tinh gọn giấy phép phê duyệtvà cho phép nhập khẩu các thành phần chính của các dự án FDI khí hậu, ví dụ như pin, linh kiện điện gió và mặt trời, xe điện…
Thứ hai, tăng cường, đẩy mạnh hợp tác giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân trong các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu nói chung và thu hút FDI khí hậu nói riêng. Để làm được điều này có thể đẩy mạnh hình thức hợp tác công tư (PPP). Trong đó, cần chú trọng việc hoàn thiện hệ thống môi trường pháp lý cho hình thức hợp tác này, đặc biệt là nhấn mạnh vai trò và các cam kết của Chính phủ. Ngoài ra cần khuyến khích sự phối hợp tham gia của các doanh nghiệp trong nước bên cạnh các tập đoàn nước ngoài trong hình thức hợp tác này. Nghiên cứu cơ chế giao trách nhiệm cho một cơ quan chuyên môn đủ năng lực để đánh giá, điều phối, thúc đẩy đầu tư vào các ngành/lĩnh vực quan trọng, đặc biệt là năng lượng tái tạo; xác định và giải quyết các điểm nghẽn trong thu hút FDI khí hậu.
Thứ ba, tăng cường phối hợp với các quốc gia, tổ chức, đối tác trong việc xây dựng khái niệm và cách hiểu thống nhất về FDI khí hậu. Đây là nền móng cần thiết cho các thỏa thuận hợp tác giữa chính phủ giữa các quốc gia, cũng như khu vực nhà nước và khu việc tư nhân trong việc thúc đẩy đầu tư cho mục tiêu khí hậu.
Thứ tư, công khai minh bạch thông tin và gắn kết các cam kết khí hậu của doanh nghiệp đa quốc gia (MNEs) với các cơ hội đầu tư trong nước. Điều này góp phần giúp cả doanh nghiệp và quốc gia nhận đầu tư giải quyết được vấn đề về khoảng trống thông tin và xác định rõ lộ trình để đạt được các mục tiêu, cam kết đã công khai về khí hậu.
Thứ năm, phát triển các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng phù hợp với sự phát triển của công nghệ khí hậu (climate technology) và tạo cơ sở dữ liệu về các nhà cung cấp "xanh". Chất lượng nguồn nhân lực, năng lực nhân sự trong việc tiếp nhận là nhân tố quyết định trong việc lựa chọn địa điểm đầu tư. Ngoài ra, khi đưa ra quyết định loại công nghệ nào được sử dụng trong các dự án FDI, trình độ kỹ năng có sẵn trong nền kinh tế của quốc gia tiếp nhận sẽ giúp xác định liệu các công nghệ tiên tiến có được lựa chọn hay không. Do đó, cần hợp tác với các đối tác đầu tư và tổ chức các chương trình, khóa đào tạo, bồi dưỡng để cung cấp các kỹ năng, chuyển giao công nghệ liên quan đến khí hậu. Trên cơ sở đó, có thể hình thành nhóm các doanh nghiệp trong nước hoạt động thân thiện với khí hậu, tiến tới xây dựng cơ sở dữ liệu về các doanh nghiệp này, qua đó tạo điều kiện cho nguồn vốn FDI khí hậu khi muốn thực hiện dự án với những nhà cung cấp “xanh” nói trên.
Trang Linh
[1] Ví dụ như các dự án năng lượng tái tạo, dự án sử dụng nguyên liệu bền vững, tái chế,...
[2] Stephenson M., Zhan J. (2022), What is climate FDI?How can we help grow it, T20 Indonesia 2022, Policy brief.
[3] Tương ứng 150%, 266% và 124% so với mức trước kỷ nguyên công nghiệp.
[4] Buchner, B., Naran B., Padmanabhi R., Stout S., Strinati C., Wignarajah D., Miao G., Connelly J., Marini N. (2023),Global landscape of climate finance 2023, CPI.
[5] FDI Intelligence (2023), The FDI report 2023: Global greenfield investment trends.
[6] FDI Intelligence (2023), The FDI report 2023: Global greenfield investment trends.
[7] Chủ yếu là năng lượng mặt trời và gió và cơ sở hạ tầng hydro.
[8] Chủ yếu là chuỗi cung ứng sản xuất.
[9] UNDP (2023), Towards a green and resilient future for Vietnam.
[10] World Bank Group (2022),Vietnam – country climate and development report.
