Mối quan hệ Nhà nước - thị trường - xã hội trong việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045

Ảnh hưởng từ các vấn đề hợp tác mới trong khu vực ASEAN đến mối quan hệ giữa Nhà nước - Thị trường - Xã hội trong hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam diễn ra trên nhiều chiều cạnh.

Bối cảnh thế giới, khu vực Đông Nam Á hiện nay đang có những biến động nhanh chóng, phức tạp, khó đoán định. Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0), cùng cạnh tranh địa - chính trị giữa các cường quốc, nổi bật là cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ - Trung Quốc được coi là những nguyên nhân hàng đầu. Cạnh tranh chiến lược của cả hai cường quốc hàng đầu thế giới đã và đang tác động mạnh đến hợp tác trong khu vực Đông Nam Á và ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa Nhà nước - Thị trường - Xã hội trong hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

1. Mối quan hệ giữa Nhà nước - Thị trường - Xã hội trong hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Mối quan hệ Nhà nước - Thị trường - Xã hội là mối quan hệ lớn, cơ bản, đòi hỏi phải giải quyết hài hòa trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội. Giải quyết tốt mối quan hệ này chính là quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đến 2030, tầm nhìn 2045.

(Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì cuộc làm việc về Đề án đổi mới mô hình phát triển đất nước.

Nhà nước, thị trường và xã hội là ba thành tố có quan hệ tương hỗ trong quản lý phát triển xã hội. Mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong quản lý phát triển xã hội biểu hiện trên nhiều chiều cạnh: giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý; giữa các chủ thể thị trường; giữa các giai tầng, cộng đồng xã hội, tổ chức xã hội, thể chế xã hội với Nhà nước và thị trường; giữa lợi ích công với lợi ích doanh nghiệp, lợi ích của mỗi giai tầng, cộng đồng xã hội; giữa nguồn lực nhà nước với nguồn lực doanh nghiệp và nguồn lực xã hội.

Cụ thể: Nhà nước thực hiện các chức năng: Xây dựng và hoàn thiện thể chế, bảo vệ quyền tài sản, quyền kinh doanh, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế; tạo môi trường thuận lợi, công khai, minh bạch cho các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và thị trường hoạt động; điều tiết, định hướng, thúc đẩy kinh tế phát triển, gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, đời sống của Nhân dân, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng luật pháp, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các tiêu chuẩn, định mức và lực lượng kinh tế nhà nước phù hợp với yêu cầu và quy luật của nền kinh tế thị trường.

Thị trường đóng vai trò quyết định trong định giá cả hàng hóa, dịch vụ; tạo động lực huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực; điều tiết sản xuất và lưu thông; điều tiết hoạt động của doanh nghiệp.

Các tổ chức xã hội tạo sự liên kết, phối hợp hoạt động, giải quyết những vấn đề phát sinh giữa các thành viên; đại diện và bảo vệ lợi ích của các thành viên trong quan hệ với các chủ thể, đối tác khác, cung cấp dịch vụ hỗ trợ; phản ánh nguyện vọng, lợi ích của các tầng lớp nhân dân với Nhà nước và tham gia phản biện luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước, giám sát các cơ quan và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong việc thực thi pháp luật.

     Do đó, có thể khẳng định: “Bản chất sâu xa của mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội là sự kết hợp, bổ sung lợi thế, bù đắp thiếu hụt của nhau, để tối ưu hóa mục tiêu quản lý xã hội ở Việt Nam”[1].

Giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước - Thị trường - Xã hội trong hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam. Việc giải quyết mối quan hệ này chịu ảnh hưởng rất lớn từ những thay đổi của các yếu tố bên trong cũng như bên ngoài. Bên trong, các thành tố Nhà nước, thị trường và xã hội chỉ thật sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa, bù đắp thiếu hụt và bổ sung lợi thế cho nhau khi chúng được đặt trong tổng thể hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nếu tuyệt đối hóa một mặt nào của “bộ ba” Nhà nước, thị trường và xã hội thì sẽ gây nên những xung đột, làm trầm trọng thêm “khuyết tật” của từng thành tố, thậm chí đối nghịch nhau, ảnh hưởng tiêu cực đến quản lý phát triển xã hội. Bên ngoài, sự cạnh tranh chiến lược, tập hợp lực lượng của các cường quốc làm thay đổi môi trường an ninh, hợp tác khu vực, ảnh hưởng việc ra quyết sách của Nhà nước, ảnh hưởng đến việc huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực; điều tiết sản xuất và lưu thông của Thị trường, đồng thời ảnh hưởng đến sự liên kết, phối hợp hoạt động, giải quyết những vấn đề phát sinh giữa các thành viên của các tổ chức Xã hội.

2. Một số vấn đề mới trong hợp tác khu vực ASEAN

Bước sang thập niên thứ 3 của thế kỷ XXI, khu vực châu Á - Thái Bình Dương, mà trong đó Đông Nam Á - ASEAN là tâm điểm, tiếp tục thu hút sự quan tâm của dư luận quốc tế, khi môi trường chính trị, an ninh có nhiều xáo trộn lớn. Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0), làm gia tăng mức độ cạnh tranh, ganh đua, mức độ phân hóa giàu, nghèo giữa các nước trong khu vực. Cùng với cạnh tranh địa - chính trị Mỹ - Trung Quốc; Mỹ, phương Tây - Trung Quốc, Nga, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 làm trầm trọng hơn xu hướng phân mảng, chia rẽ, nhất là chia rẽ nền tảng số giữa các nước, các nhóm nước, gây ra những tác động lâu dài đến an ninh và hợp tác phát triển trong khu vực. Trong bối cảnh đó, hợp tác khu vực xuất hiện những hình thái mới. Cụ thể:

Thứ nhất,  Hợp tác số giữa các nước ASEAN để tạo ra một ASEAN số. Đây là một kiểu hợp tác mớigiữa các nước ASEAN với nhau và các đối tác bên ngoài để tiến tới “One ASEAN”. Đầu tiên là “Tuần lễ số Quốc tế Việt Nam -VIDW2022” được tổ chức ngày 11/10/2022 tại Hà Nội với sự tham gia của các đoàn đại biểu đến từ các nước ASEAN[2], các nước đối thoại và đại diện các tổ chức quốc tế[3], các đoàn ngoại giao, các doanh nghiệp số trên toàn cầu (Nokia, Huawei, Samsung, LG, Cisco, Qualcomm, KDDI, Softbank, Red Hat, Kaspersky...)[4]. Hình thức hợp tác này được duy trì thường niên giữa các nước ASEAN, để cùng trao đổi về chuyển đổi số, thể chế số, hạ tầng số, công nghệ số, nền tảng số, ứng dụng số, nhân lực số, an toàn số và hợp tác số. Thông qua hình thức hợp tác số, các nước cùng nhau chia sẻ những kinh nghiệm, đặc biệt là việc phát triển khung pháp lý, luật giao dịch điện tử, thuế, các giao dịch xuyên biên giới, các khuôn khổ sandbox dành cho những dịch vụ mới... để hỗ trợ quá trình chuyển đổi số. Đây là cách tiếp cận mới tạo nên sự tăng trưởng nhờ công nghệ số, trong đó, dữ liệu số như là yếu tố đầu vào chính. Thông qua các diễn đàn hợp tác số này, “Các nước ASEAN cam kết đi cùng nhịp với thế giới về công nghệ mới. Không có lý do gì mà chúng ta lại đi sau. Cái mới luôn là cơ hội cho những nước đi sau vượt lên phía trước”[5].

Kinh tế thị trường là phương thức, điều kiện tất yếu để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Thứ hai, hợp tác biển trong ASEAN và giữa ASEAN với các đối tác. Trước thực tế các vấn đề liên quan đến biển ngày càng phức tạp, đa chiều, đa ngành và có tính chất xuyên quốc gia. Do đó, ASEAN đã tổ chức Diễn đàn biển ASEAN (AMF) và Diễn đàn biển ASEAN mở rộng (EAMF) thường niên, luân phiên tại các nước thành viên. Trên tinh thần cởi mở và xây dựng, các nước dành nhiều thời gian trao đổi về thực trạng, tác động và kinh nghiệm ứng phó với nhiều thách thức an ninh biển hiện nay, nhất là nước biển dâng do tác động của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường biển, rác thải biển, đánh bắt cá bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU), cướp biển[6]... Thông qua các phiên Diễn đàn, các nước ASEAN và các đối tác cùng nhau rà soát, đánh giá tổng thể về hợp tác biển, an ninh biển trong khu vực thời gian qua, đồng thời trao đổi định hướng hoạt động của các Diễn đàn thời gian tới. Các nước nhấn mạnh sự cần thiết lập ra các cơ chế chia sẻ thông tin song phương, đa phương kịp thời, hiệu quả, để tăng cường xây dựng lòng tin, khả năng phối hợp chính sách và triển khai các biện pháp đồng bộ, tổng thể trên cơ sở tôn trọng các thỏa thuận quốc tế liên quan. Đồng thời các bên thống nhất cao về  sự cần thiết phát huy vai trò và hiệu quả của cả hai cơ chế trong điều phối các nỗ lực thúc đẩy hợp tác biển trong ASEAN cũng như tại khu vực.

Thứ ba, sự cạnh tranh, tập hợp lực lượng của Mỹ và Trung Quốc làm xuất hiện các cơ chế hợp tác mới: cơ chế hợp tác “tiểu đa phương”; hợp tác trong Sáng kiến Phát triển toàn cầu (GDI), Cộng đồng chung vận mệnh nhân loại và Sáng kiến An ninh toàn cầu (GSI).

Với Mỹ, nước này đẩy mạnh các cơ chế hợp tác đa tầng nấc theo mô hình “tiểu đa phương” trong khu vực với các đồng minh, đối tác, nhằm chia sẻ lợi ích, như nhóm Bộ Tứ (QUAD); Hợp tác an ninh ba bên giữa Mỹ, Anh và Australia (AUKUS); Khuôn khổ kinh tế Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (IPEF); Mỹ - Nhật Bản - Hàn Quốc và Mỹ - Nhật Bản - Philippines (JAPHUS 4/2024), trong khuôn khổ Chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương (IPS).

Với Trung Quốc, Đại hội XX tiếp tục bổ sung những hình thức hợp tác, tập hợp lực lượng được đưa ra trước đó, như Chiến lược “vòng tuần hoàn kép”, Sáng kiến Phát triển toàn cầu (GDI), Sáng kiến An ninh toàn cầu (GSI), “Sáng kiến Văn minh toàn cầu” (GCI), đề xuất một mô hình Hiện đại hóa kiểu Trung Quốc để tiếp tới xây dựng Cộng đồng chung vận mệnh nhân loại. Những hình thức hợp tác này là cơ sở để Trung Quốc tiếp tục hiện thực hóa “giấc mộng Trung Hoa” và theo đuổi tầm nhìn về một trật tự khu vực, thế giới mới khác với trật tự vốn được thống trị và theo quy chuẩn của phương Tây.

    Có thể thấy, Mỹ và Trung Quốc trong quá trình cạnh tranh, tập hợp lực lượng đã tạo ra những hình thức hợp tác mới, cung cấp những “dịch vụ công mới” cho khu vực và thế giới. Hai cường quốc vừa cạnh tranh vừa gia tăng khả năng tự chủ, không loại bỏ hợp tác, đồng thời thống nhất cùng nhau quản trị cạnh tranh không để xảy ra xung đột, chiến tranh. Tuy nhiên, cả hai đều được cho là đang ở trong “thế kẹt” của chủ nghĩa dân tộc nước lớn, khiến việc hợp tác ngày càng khó khăn. Vì thế, cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hợp tác khu vực ASEAN nói chung và mối quan hệ giữa Nhà nước - Thị trường - Xã hội trong hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đến 2030, tầm nhìn 2045 nói riêng.

3. Ảnh hưởng từ các vấn đề hợp tác mới trong khu vực ASEAN đến mối quan hệ giữa Nhà nước - Thị trường - Xã hội trong hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đến 2030, tầm nhìn 2045

Ảnh hưởng từ các vấn đề hợp tác mới trong khu vực ASEAN đến mối quan hệ giữa Nhà nước - Thị trường - Xã hội trong hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam diễn ra trên nhiều chiều cạnh, nhưng tập trung chủ yếu vào: i) Ảnh hưởng đến tổng thể mối quan hệ giữa Nhà nước - Thị trường - Xã hội. ii) Ảnh hưởng trực tiếp đến việc ra quyết sách trong điều hành quản lý vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước. iii) Ảnh hưởng đến việc huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực; điều tiết sản xuất và lưu thông của Thị trường. iv) Ảnh hưởng đến sự liên kết, phối hợp hoạt động, giải quyết những vấn đề phát sinh giữa những thành viên của các tổ chức Xã hội. Cụ thể:

Thứ nhất, hợp tác số giữa các nước ASEAN để tạo ra một ASEAN số ảnh hưởng đến tổng thể mối quan hệ giữa Nhà nước - Thị trường - Xã hội trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đến 2030, tầm nhìn 2045. Hợp tác số giữa các nước ASEAN tạo môi trường cùng động lực thúc đẩy nhanh việc hình thành chính phủ số - Nhà nước số nền tảng cho quá trình chuyển đổi số của quốc gia. Chính phủ số hình thành sẽ làm thay đổi cách thức phục vụ, mang đến sự hài lòng cho người dân. Chính phủ số sẽ thúc đẩy nền kinh tế thị trường số, góp phần đưa Việt Nam đạt được mức thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và thu nhập cao năm 2045. Đồng thời Chính phủ số cũng làm biến đổi Xã hội số với những chính sách an sinh xã hội thuận lợi, xã hội toàn diện, văn minh an toàn theo mục tiêu đặt ra.

Hợp tác số giữa các nước ASEAN còn giúp Việt Nam cùng các đối tác trong, ngoài ASEAN cùng nhau xây dựng khuôn khổ chung về kỹ năng số để hỗ trợ quá trình di chuyển của lực lượng lao động giữa các quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Hơn nữa, việc hợp tác số còn lập ra cơ chế chia sẻ thông tin về các mối đe dọa giữa các quốc gia nhằm phòng ngừa và giảm thiểu thiệt hại, tạo nên không gian mạng an toàn hơn, đảm bảo an ninh mạng. Ngoài ra, Việt Nam cùng các nước thông qua hợp tác số thống nhất tiêu chuẩn đo lường sự đóng góp của kinh tế số trong GDP nước mình từ đó so sánh với quy mô nền kinh tế số của các nước với nhau từng bước điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước - Thị trường - Xã hội trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đến 2030, tầm nhìn 2045 sao cho phù hợp nhất.

Thứ hai, ảnh hưởng từ hợp tác biển trong ASEAN và giữa ASEAN với các đối tác đến mối quan hệ giữa Nhà nước - Thị trường - Xã hội trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đến 2030, tầm nhìn 2045 là giúp chúng ta có sự nhìn nhận đúng về tầm quan trọng của kinh tế biển trong hội nhập, phát triển hiện nay. Việt Nam muốn phát triển kinh tế biển thì cần tạo dựng, duy trì môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông. Để làm được việc này, Việt Nam cần phát huy vai trò trong hợp tác với các nước ASEAN với các đối tác, coi đây là lợi ích chung, nhấn mạnh cần tuân thủ luật pháp quốc tế, nhấn mạnh tầm quan trọng của duy trì vai trò trung tâm của ASEAN, ủng hộ thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982. Cần chú ý, việc áp dụng UNCLOS trong bối cảnh hiện nay phải được xem xét toàn diện và hợp lý, trong đó cần tính tới những vấn đề như bảo vệ môi trường biển, ứng phó với biến đổi khí hậu... Do đó, mỗi quyết sách của Nhà nước Việt Nam về vấn đề liên quan đến an ninh, chủ quyền biển đảo, phát triển kinh tế biển đều phải đặt trong bối cảnh chung lợi ích, tương quan với các nước ASEAN cùng các đối tác. Những pháp lệnh, chỉ thị của Chính phủ về việc đấu tranh với nạn đánh bắt cá bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định, thời gian qua đều xuất phát từ thực tiễn đời sống của người dân, không quá áp đặt mệnh lệnh hành chính ảnh hưởng tới sinh kế của đông đảo người dân. Đây chính là những điều chỉnh của Việt Nam có được trong tham gia các cơ chế hợp tác Diễn đàn biển ASEAN (AMF) và Diễn đàn biển ASEAN mở rộng (EAMF) thời gian qua để hướng tới có được mối quan hệ giữa Nhà nước - Thị trường - Xã hội trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đến 2030, tầm nhìn 2045phù hợp nhất.

Thứ ba, ảnh hưởng từ cơ chế hợp tác “tiểu đa phương” của Mỹ cùng các Sáng kiến hợp tác toàn cầu của Trung Quốc tới mối quan hệ giữa Nhà nước - Thị trường - Xã hội trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đến 2030, tầm nhìn 2045 tập trung vào việc huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực, điều tiết sản xuất và lưu thông của Thị trường. Cụ thể: các sáng kiến và cơ chế này thường được Mỹ và Trung Quốc tính toán kỹ lưỡng để, một mặt, thu hút sự quan tâm và tham gia của các nước trong khu vực; mặt khác, tạo sự kiềm chế, đối trọng nhau. Các hình thức hợp tác mới này cũng sẽ định hình lại tiến trình khu vực hóa, sắp xếp lại mạng lưới chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu theo hướng gần hơn về địa lý với các thị trường lớn và an toàn hơn về vận tải hàng hóa, nguyên liệu và sản phẩm. Đồng thời, hai cường quốc đều tăng cường các biện pháp phi thuế quan, phi thương mại, như áp đặt các tiêu chuẩn, quy định mới cho các sản phẩm nhập khẩu, bao gồm các yếu tố bảo vệ môi trường, sản phẩm xanh, các tiêu chuẩn về nhân quyền, sử dụng lao động… gây áp lực, bất lợi với các sản phẩm thế mạnh của đối thủ. Do đó, giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước - Thị trường - Xã hội trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đến 2030, tầm nhìn 2045, đòi hỏi Việt Nam phải cạnh tranh với các nước khác trong thu hút, huy động nguồn vốn đầu tư, công nghệ, phương thức quản lý hiện đại, mở rộng thị trường xuất khẩu. Việt Nam phải nhanh chóng nâng cấp cơ sở hạ tầng và lực lượng lao động để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, đồng thời giải quyết một số hậu quả không mong muốn, như: Việt Nam ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào đầu tư nước ngoài, xuất khẩu và thặng dư thương mại với Mỹ do mở rộng cơ sở sản xuất và năng lực xuất khẩu; hay việc chuyển đổi cơ cấu vẫn chưa hoàn chỉnh, với một sân chơi vẫn chưa đồng đều giữa quốc doanh và tư nhân… Điều này còn ảnh hưởng lớn đến việc phát huy vai trò của kinh tế Nhà nước trong ổn định kinh tế vĩ mô, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế, định hướng, điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường. Việt Nam hiện nay cần nghiên cứu chủ động đưa ra những giải pháp thích ứng trong  kết hợp chặt chẽ, hiệu quả hơn nữa mối quan hệ này.

Tóm lại, trong bối cảnh tình hình chính trị, an ninh khu vực ASEAN tiếp tục diễn biến phức tạp, cạnh tranh nước lớn quyết liệt, các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống ngày càng gia tăng, nhưng đồng thời cũng xuất hiện những cơ chế, hình thức hợp tác mới đã và đang ảnh hưởng mạnh tới mối quan hệ giữa Nhà nước - Thị trường - Xã hội trong hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đến 2030, tầm nhìn 2045. Do đó, trước hết chúng ta cần cần tích cực, chủ động tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa kinh tế đang thay đổi, tham gia những cơ chế, hình thức hợp tác mới trong khu vực. Các cấp, các ngành, các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân cả nước cần tiếp tục đoàn kết, chung sức, đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng phát huy thế và lực có được từ kết quả 40 năm đổi mới, hội nhập, trong hợp tác khu vực, quốc tế, tạo cơ hội giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa Nhà nước - Thị trường - Xã hội trong hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đến 2030, tầm nhìn 2045.

  TS. Trần Ngọc Dũng

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 

[1]Đoàn Minh Huấn: “Mối quan hệ giữa Nhà nước thị trường và xã hội trong quản lý phát triển xã hội - Những vấn đề đặt ra cho phát triển xã hội số theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng” TCCS 14:02, ngày 12/4/2023.

[2] Lào, Thái Lan, Campuchia, Myanmar, Brunei, Indonesia, Singapore, Philippines và Malaysia.

[3] TU, GSMA, Unicef, Unesco, ILO và World Bank.

[4]Thủy Diệu: “Hợp tác số giữa các nước ASEAN để tạo ra một ASEAN số” https://vneconomy.vn/hop-tac-so-giua-cac-nuoc-asean-de-tao-ra-mot-asean-so.htm.. Cập nhật 21:48 11/10/2022

[5]Thủy Diệu: “Hợp tác số giữa các nước ASEAN để tạo ra một ASEAN số” https://vneconomy.vn/hop-tac-so-giua-cac-nuoc-asean-de-tao-ra-mot-asean-so.htm. Cập nhật 21:48 11/10/2022

[6] “Thúc đẩy hợp tác biển trong ASEAN và giữa ASEAN với các đối tác” https://baochinhphu.vn/thuc-day-hop-tac-bien-trong-asean-va-giua-asean-voi-cac-doi-tac-102221208084446954.htm. Cập nhật 08/12/2022  08:47