Kinh nghiệm chuyển dịch năng lượng ở một số nước trên thế giới và một số gợi mở cho Việt Nam
Biến đổi khí hậu là mối đe dọa hiện hữu đối với xã hội loài người. Trước những thách thức và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, trên thế giới đã và đang diễn ra xu hướng chuyển dịch năng lượng, trong đó nhấn mạnh đến việc sử dụng năng lượng sạch (khí thiên nhiên), năng lượng tái tạo. Việc chuyển dịch năng lượng nhằm mục tiêu giảm thiểu phát thải khí nhà kính, hướng tới một thế giới phát triển bền vững hơn, công bằng hơn cho tất cả mọi người.
Chuyển dịch cơ cấu năng lượng bền vững hiện nay là xu hướng chung của thế giới, điều này có thể đảm bảo công bằng xã hội, vì có thể nâng cao chất lượng dịch vụ năng lượng, tạo công ăn việc làm, hiện đại hoá ngành công nghiệp, tăng hiệu quả kinh tế và tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng môi trường, giúp giảm nhẹ biến đổi khí hậu. Trên cơ sở những bài học kinh nghiệm chuyển dịch năng lượng quốc tế góp phần gợi mở, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng cho Việt Nam.
1. Những yếu tố cốt lõi chuyển dịch năng lượng thành công
Theo Iberdrola - Tập đoàn năng lượng tái tạo của Tây Ban Nha, quá trình chuyển đổi năng lượng được định nghĩa là một tập hợp các thay đổi trong mô hình sản xuất, phân phối và tiêu thụ năng lượng để đạt được tính bền vững cao hơn. chuyển dịch năng lượng cũng có thể được định nghĩa là sự chuyển dịch từ việc sử dụng các loại nhiên liệu hóa thạch sang sử dụng năng lượng tái tạo trong ngành điện và từ việc sử dụng các loại nhiên liệu hóa thạch sang sử dụng điện trong các lĩnh vực kinh tế khác[1]. Quá trình này đóng vai trò then chốt và mang tính quyết định trong cuộc chiến toàn cầu về chống biến đổi khí hậu, và thực hiện cam kết của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam về việc ngừng phát thải carbon vào năm 2050. Đồng thời, quá trình này cũng góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, phát triển bền vững ngành điện, cũng đồng thời là cơ hội thúc đẩy đổi mới và tạo thêm việc làm.
Quá trình chuyển dịch năng lượng toàn cầu đang có xu hướng tăng tốc nhanh trong những thập niên vừa qua. Khả năng cung cấp điện từ các nguồn năng lượng tái tạo và các dạng lưu trữ năng lượng hay việc sử dụng các phương tiện giao thông sử dụng điện và pin nhiên liệu đang dần phổ biến tại nhiều quốc gia. Quá trình chuyển dịch năng lượng toàn cầu sẽ giúp giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu, tạo ra một thế giới phát triển bền vững hơn, công bằng hơn cho tất cả mọi người. Trên cơ sở đó, các thế hệ tương lai sẽ có nhiều cơ hội có được không khí trong lành hơn, nguồn nước sạch hơn, sức khỏe của con người và điều kiện môi trường cũng được đảm bảo và nâng cao.
Chuyển dịch năng lượng thành công yêu cầu 4 yếu tố cốt lõi[2]:
Một là công nghệ: Công nghệ đóng vai trò trung tâm trong mọi quá trình chuyển dịch năng lượng, từ dầu cá voi sang dầu hỏa, từ ngựa sang ô tô, từ động cơ chạy bằng xăng sang động cơ chạy bằng điện, hay từ nhiệt điện than sang điện gió và điện mặt trời. Về cơ bản, tất cả các quá trình chuyển dịch năng lượng đều phụ thuộc vào tính có sẵn và tính phổ biến của các công nghệ mới.
Hai là nền kinh tế cạnh tranh: Nếu không có nền kinh tế cạnh tranh, rất khó để thực hiện chuyển dịch năng lượng trên quy mô vùng lãnh thổ hay quốc gia.
Ba là mở cửa thị trường: Nếu không mở cửa thị trường, rất khó để các công nghệ mới được áp dụng và phát triển. Các bên tham gia hiện nay trong ngành năng lượng (dù trong khu vực nhà nước hay tư nhân) có xu hướng làm chậm quá trình chuyển dịch và giữ nguyên hiện trạng để giảm bớt áp lực đầu tư vào các công nghệ mới, cũng như yêu cầu chuyển dịch hạ tầng năng lượng. Việc mở cửa thị trường giúp bảo đảm rằng, các dạng năng lượng mới sẽ phát triển mạnh mẽ và ngày càng hiệu quả hơn.
Bốn là chính sách hỗ trợ: Nếu thiếu chính sách hỗ trợ từ phía chính phủ, quá trình chuyển dịch năng lượng sẽ diễn ra rất chậm. Chính phủ cần đưa ra các chính sách thúc đẩy đầu tư phát triển cho nhiều loại công nghệ năng lượng, như: điện mặt trời, điện gió trên bờ, điện gió ngoài khơi và đảm bảo môi trường đầu tư ổn định lâu dài trên phạm vi rộng.
Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được coi là biện pháp quan trọng nhất, không chỉ trong quá trình chuyển dịch năng lượng hiện nay, mà còn trong tất cả các kế hoạch phát triển năng lượng thông thường. Nhiều chuyên gia gọi đó là dạng năng lượng đầu tiên (first fuel) cần được quan tâm phát triển đúng mức. Theo đánh giá của Tổ chức Năng lượng thế giới (IEA) năm 2018, chỉ cần dựa trên các công nghệ đã được thương mại hóa hiện nay, thì các biện pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả có thể giúp giảm lượng phát thải đến 3,5Gt CO2 tương đương hàng năm, tức là gần 40% mức giảm theo yêu cầu của Thỏa thuận Paris. Chính vì vậy, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là một công cụ quan trọng, bên cạnh phát triển năng lượng tái tạo, để đạt được các mục tiêu khí hậu toàn cầu. Rất nhiều quốc gia trên thế giới đã ban hành các mục tiêu sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả của mình, trong đó có Việt Nam. Nhiều chính sách mới đã được nghiên cứu, áp dụng, trong đó, nổi bật nhất là nghĩa vụ tiết kiệm năng lượng, đấu thầu tiết kiệm năng lượng và quản lý dưới dạng nhà máy điện ảo (Negawat). Trên toàn thế giới, tổng mức đầu tư trong lĩnh vực tiết kiệm năng lượng đã đạt mức 300 tỷ USD trong năm 2021, trong đó từ 62 - 69% là đầu tư tiết kiệm năng lượng trong giao thông vận tải, tòa nhà và công nghiệp. Để đạt được những mục tiêu về net-zero vào năm 2050, mức đầu tư này được kỳ vọng sẽ tăng gấp 3 lần vào năm 2030.
2. Chuyển dịch năng lượng ở một số quốc gia trên thế giới
Một số quốc gia châu Âu:
Theo Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), chỉ số chuyển dịch năng lượng của các quốc gia Thụy Điển, Na Uy và Đan Mạch đứng đầu quá trình chuyển dịch năng lượng trong những năm qua, cho thấy các nước châu Âu đang dẫn đầu trong quá trình chuyển dịch năng lượng. Tại Đức, Chính phủ Đức ngay từ đầu những năm 2020 đã chú trọng xây dựng lại hệ thống cung cấp năng lượng, để bảo đảm nguồn cung cho năng lượng tái tạo, đặc biệt đầu tư trước khi các dịch vụ có thể được đưa vào sử dụng. Chính phủ Đức tập trung xây dựng các trung tâm nghiên cứu và nhà máy điện, đầu tư ngân sách nhà nước cho các chương trình phát triển năng lượng tái tạo, như: Chương trình năng lượng gió ngoài khơi, Chương trình năng lượng tái tạo với mục tiêu tăng cường khả năng sản xuất điện từ năng lượng tái tạo quan điện (PV), khí sinh học, thủy điện, năng lượng gió trên bờ hoặc năng lượng địa nhiệt.
Đan Mạch là một trong những quốc gia châu Âu đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng cho năng lượng tái tạo. Đan Mạch đãchủ động xây dựng hệ thống kết nối với Na Uy và Thụy Điển nhằm giúp cân bằng năng lượng gió và thủy điện. Khi các tuabin gió của Đan Mạch tạo ra năng lượng lớn hơn nhu cầu trong nước, năng lượng dư thừa sẽ được truyền tới Na Uy hoặc Thụy Điển.
Malaysia:
Malaysia là quốc gia có vị trí chiến lược, nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, tiềm năng năng lượng tái tạo và những yếu tố của nền kinh tế xanh ngày càng tăng.Theo đánh giá của WEF, năm 2023, Malaysia là quốc gia có Chỉ số chuyển đổi năng lượng tốt nhất Đông Nam Á. Thành tích này cho thấy, Malaysia đang đi đúng hướng trong việc thúc đẩy sự chuyển dịch chiến lược và tái cơ cấu kinh tế sang các lĩnh vực tăng trưởng mới. Quá trình Malaysia chuyển đổi sang năng lượng bền vững được thúc đẩy bởi các cam kết toàn cầu, đặc biệt là Thỏa thuận Paris và nhu cầu tăng cường đa dạng hóa kinh tế và an ninh năng lượng. Hơn nữa, các tập đoàn và doanh nghiệp phải đối mặt với bối cảnh thị trường đang thay đổi nhanh chóng, khi mà chi phí carbon sẽ định hình lại động lực kinh doanh và có khả năng gây căng thẳng cho khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và quốc gia. Ngoài việc giảm thiểu rủi ro, quá trình chuyển đổi năng lượng còn mang đến cho Malaysia cơ hội tái cơ cấu nền kinh tế và tối đa hóa tiềm năng tăng trưởng xanh, nhằm cân bằng tính bền vững, tăng cường GDP, tạo việc làm và đáp ứng nhu cầu của người dân và doanh nghiệp.
Cụ thể là: Kế hoạch phát triển 5 năm bao gồm hoạch định chính sách kinh tế - xã hội, trong đó đưa ra định hướng và mục tiêu tăng trưởng của đất nước, cũng như phân bổ chỉ tiêu phát triển. Kế hoạch thứ mười hai của Malaysia đã nêu ra khát vọng quốc gia đạt được mức phát thải khí nhà kính bằng 0 ngay từ năm 2050. Kế hoạch này nhấn mạnh cách tiếp cận của Malaysia trong việc quản lý hiệu quả quá trình chuyển đổi năng lượng. Cách tiếp cận này không chỉ đảm bảo rằng, các chính sách và chương trình năng lượng có trách nhiệm với môi trường, mà còn tính đến các tác động kinh tế xã hội.
Trước mắt, chính phủ Malaysia đã “gia tăng gấp đôi” các cam kết về năng lượng tái tạo như một phần của lộ trình chuyển dịch năng lượng quốc gia[3]. Malaysia đặt mục tiêu có 70% tổng nguồn cung năng lượng của đất nước từ năng lượng tái tạo vào năm 2050 - cao hơn mục tiêu trước đó là 40% vào năm 2035; đồng thời, dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu năng lượng tái tạo để tăng năng suất tiềm năng từ việc các công ty tham gia vào quá trình chuyển đổi năng lượng và thành lập trung tâm trao đổi điện được vận hành bởi một tổng công ty. Năm lĩnh vực tiềm năng chủ yếu đang được Malaysia tập trung đầu tư gồm: sinh khối/khí sinh học, điện mặt trời, thủy điện, địa nhiệt và năng lượng gió. Malaysia đã thành công trong việc thúc đẩy tăng trưởng đầu tư vào năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện mặt trời[4].
Trung Quốc:
Trung Quốc thường được coi là chuẩn mực toàn cầu cho quá trình chuyển đổi năng lượng. Xét từ nền kinh tế, dân số, mức tiêu thụ và tỷ lệ ô nhiễm của Trung Quốc, các quyết định chuyển đổi năng lượng của nước này được coi là yếu tố quyết định chính cho sự bền vững, khả năng phục hồi và các điều kiện liên quan của năng lượng toàn cầu trong hiện tại và tương lai. Trung Quốc đã trải qua một quá trình phát triển kinh tế ấn tượng trong vòng 40 năm qua, từ một nền kinh tế nông nghiệp đã chuyển sang một nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất hàng hóa. Từ một nền kinh tế đang phát triển, Trung Quốc được đưa vào nhóm nền kinh tế đang chuyển tiếp và từng bước trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng cũng gắn liền với việc nhu cầu tiêu thụ điện năng tại Trung Quốc tăng lên gấp nhiều lần trong vài thập kỷ qua.
Một trong những lý do khiến Trung Quốc thành công trong lĩnh vực dịch chuyển năng lượng là, họ đã xây dựng và đưa ra những chính sách lớn trong trung và dài hạn. Trong đó, chính sách năng lượng mới được coi như một trong những ưu tiên quan trọng để bảo đảm sự phát triển kinh tế hiệu quả và bền vững. Thông qua Luật Tiết kiệm năng lượng, nước này đã xây dựng 46 tiêu chuẩn tương đương về tiết kiệm năng lượng.
Trung Quốc đã đóng cửa một số nhà máy nhiệt điện nhỏ và nhà máy sản xuất thép, xi măng với cơ sở sản xuất lạc hậu trong những năm 2008, 2009. Từ đó, thúc đẩy và phổ biến các công nghệ, thiết bị tiết kiệm năng lượng hiệu quả cao. Song song với quá trình này, Trung Quốc đã ban hành hàng loạt văn bản, chính sách hỗ trợ tài chính cho hoạt động tiết kiệm năng lượng...chiến lược năng lượng của Trung Quốc trong tương lai cần chuyển hướng đầu tư mạnh mẽ sang các dạng năng lượng tái tạo và năng lượng sạch[5]. Tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng sản lượng điện ở Trung Quốc sẽ tăng từ 30% hiện nay lên 55% vào năm 2035 và 88% vào năm 2050[6].
Theo WEF, Trung Quốc xếp thứ 17/120 quốc gia về Chỉ số Chuyển đổi Năng lượng (ETI) toàn cầu năm 2023 và là quốc gia mới tham gia vào top 20 quốc gia. Là một trong những nhà sản xuất và tiêu thụ năng lượng lớn nhất thế giới, đồng thời cũng là một trong những nước phát thải khí nhà kính lớn nhất[7], Trung Quốc đã duy trì quỹ đạo tăng thứ hạng của chỉ số ETI trong 10 năm qua, cải thiện mạnh mẽ hiệu suất hệ thống và mức độ sẵn sàng chuyển đổi.
3. Một số gợi mở cho Việt Nam
Nước ta là một trong các nền kinh tế phát triển nhanh ở Đông Nam Á, dân số trên 100 triệu người, và có thị trường năng lượng thuộc nhóm lớn nhất trong khu vực. Nhu cầu điện năng của Việt Nam dự kiến sẽ tăng từ 10% đến 12% hàng năm cho đến năm 2030, vì vậy nước ta trở thành một trong những quốc gia có mức tăng trưởng tiêu thụ điện năng nhanh ở châu Á. Trong những năm gần đây, nước ta đã thành công trong việc mở rộng đầu tư sang các dự án điện gió và điện mặt trời. Với những thành tựu đã đạt được, quá trình chuyển dịch năng lượng trong nước cũng gặp phải một số thách thức lớn, đó là: (i) Hệ thống chính sách, pháp luật về phát triển năng lượng tái tạo còn chưa đầy đủ, chưa theo kịp với thay đổi nhanh chóng của thực tiễn; (ii) Nhu cầu vốn cho phát triển năng lượng còn hạn chế, thiết bị và công nghệ năng lượng tái tạo cần có sự đầu tư lớn và tính trả vốn kéo dài; (iii) Tính hợp lý về giá cả và khả năng cạnh tranh còn yếu; (iv) Năng lực tiếp nhận và ứng dụng công nghệ về năng lượng tái tạo của các chủ thể trong nước còn nhiều hạn chế; (v) Quá trình thực hiện còn nhiều vướng mắc, chồng chéo, thủ tục triển khai dự án phức tạp.
Trên cơ sở của kinh nghiệm thế giới và thực tế phát triển năng lượng tái tạo ở nước ta, có thể gợi mở phát triển năng lượng tái tạo ở nước ta như sau:
Một là, cần có chính sách trợ vốn hiệu quả cho các dự án và hỗ trợ lắp đặt thiết bị và phát triển công nghệ. Kinh nghiệm từ các quốc gia cho thấy, phát triển năng lượng tái tạo phải gắn với hỗ trợ, đầu tư về vốn, về giá... bởi giai đoạn xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển quy mô ngành và công nghệ đòi hỏi rất nhiều nguồn lực. Tuy nhiên, với thực tế nguồn ngân sách hạn chế trong khi có nhiều mục tiêu cần phát triển, Chính phủ Việt Nam có thể tận dụng các dự án hỗ trợ, hợp tác phát triển với nước ngoài, hay trợ giúp các doanh nghiệp năng lượng bằng cách định hướng hỗ trợ, thu hút một số nguồn đầu tư nước ngoài phù hợp với tiêu chí phát triển năng lượng tái tạo theo hướng bền vững của nước ta, ví dụ như: trái phiếu xanh, trái phiếu bền vững…
Hai là, cần ban hành khung khổ pháp lý phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành năng lượngphát triển. Nhà nước cần đặt ra những mục tiêu phù hợp, xây dựng và đưa ra những chính sách, kế hoạch phát triển trong trung và dài hạn để đẩy mạnh tăng trưởng ngành năng lượng tái tạo, bảo đảm phát triển kinh tế hiệu quả và bền vững. Trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách, kế hoạch, cần phải xem xét những yếu tố tự nhiên, chọn lọc phát triển các loại năng lượng, trong đó tập trung vào năng lượng gió và mặt trời, cũng như chỉ rõ vai trò của tất cả các cấp, các ngành có liên quan.
Ba là, cần ưu tiên việc phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo liên quan đến năng lượng tái tạo. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, gia tăng số lượng bằng phát minh, sáng chế liên quan đến năng lượng tái tạo là một trong những bí quyết chính có thể giúp Việt Nam đạt được thành công như các quốc gia nói trên. Tuy nhiên để làm được điều này, Chính phủ Việt Nam không chỉ cần khuyến khích việc nghiên cứu khoa học thông qua các cơ chế trợ cấp, mà còn cần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao có thể áp dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo vào lĩnh vực năng lượng tái tạo.
Nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch năng lượng diễn ra hiệu quả trong thời gian tới, cần thực hiện tốt một số giải pháp bao gồm:
Thứ nhất, đầu tư hiệu quả vào cơ sở hạ tầng năng lượng. Hạ tầng năng lượng đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch năng lượng tại Việt Nam. Lập quy hoạch đúng cách có thể hỗ trợ quá trình chuyển dịch thành công sang một nền kinh tế trung lập carbon với chi phí tối thiểu.
Thứ hai, xây dựng và ban hành chính sách giảm phát thải carbon - đây là một hợp phần đóng vai trò quan trọng trong hệ thống chính sách về khí hậu và chuyển dịch năng lượng trên thế giới. Tăng cường đầu tư chính phủ cho các biện pháp sử dụng hiệu quả năng lượng tại các tòa nhà công cộng. Xây dựng và ban hành lộ trình chuyển đổi dần các nhà máy điện than đến hạn để các đơn vị quản lý vận hành nhà máy điện có thời gian điều chỉnh tình hình tài chính và xây dựng lộ trình giảm sâu phát thải carbon rõ rang, phù hợp với các mục tiêu đề ra trong Hiệp định Paris...
Thứ ba, nhất thiết cần lập chiến lược, kế hoạch (trung và dài hạn) và mục tiêu phát triển năng lượng tái tạo[8].
ThS. Nguyễn Văn Tỵ
[1] Ban Kinh tế Trung ương, Hợp tác Đức (GIZ), Liên minh châu Âu (EU) (2022), Chuyển dịch năng lượng Việt Nam, cơ hội và thách thức, NxbThanh niên.
[2] Ban Kinh tế Trung ương, Hợp tác Đức (GIZ), Liên minh châu Âu (EU) (2022), Chuyển dịch năng lượng Việt Nam, cơ hội và thách thức, NxbThanh niên.
[3] Ministry of Economy Malaysia (2023), National Energy Transition Roadmap (NETR):Energising the Nation, Powering our Future,retrieved from https://www.ekonomi.gov.my/sites/default/files/2023-09/National%20Energy%20Transition%20Roadmap_0.pdf.
[4] Malaysian Investment Development Authority (MIDA), 2023, Malaysia’s Approach towards Renewable Energy,retrieved fromhttps://www.mida.gov.my/mida-news/malaysias-approach-towards-renewable-energy/.
[5] Gồm thủy điện, năng lượng gió, điện mặt trời, năng lượng sinh học.
[6] DNV (2023), Energy Transition Outlook China 2024: A national forecast to 2050, retrieved fromhttps://energy.pku.edu.cn/docs//2024-05/3eee62e2f8644f9bb7999cd3f5fc5208.pdf.
[7] Hiện chiếm 1/3 tổng lượng phát thải KNK toàn cầu.
[8] Ví dụ như: ban hành chính sách toàn diện để khuyến khích chuyển dịch sang các phương thức vận tải sạch hơn, ban hành các quy định về tỷ lệ nội địa hóa hoặc cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp chuyển dịch sang năng lượng sạch...
