Phát triển thị trường các-bon là yếu tố chiến lược để phát triển kinh tế Việt Nam

Thị trường các-bon được bắt nguồn từ Nghị định thư Kyoto của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu. Các quốc gia có dư thừa quyền phát thải được bán, cho hoặc mua từ các quốc gia phát thải nhiều hơn hoặc ít hơn mục tiêu cam kết. Từ đó, trên thế giới đã xuất hiện một hàng hóa mới là các chứng chỉ giảm/hấp thụ phát thải khí nhà kính.

Phát triển thị trường các-bon được xem là yêu cầu cấp thiết, góp phần phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước, đồng thời tạo điều kiện mở rộng quan hệ ngoại giao thông qua đầu tư khoa học, công nghệ và tài chính giữa các quốc gia.  

Thị trường carbon chính là "chìa khóa" để thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao và khai thác các nguồn tài chính xanh

1. Quan điểm của Đảng Nhà nước trong phát triển thị trường các-bon

Hệ thống quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước trong thời gian qua luôn xác định sự cần thiết và tầm quan trọng của việc thiết lập và vận hành ổn định thị trường các-bon trong nước. Thị trường các-bon và tham gia vào thị trường các-bon thế giới lần đầu được đề cập đến tại Quyết định số 1775/QĐ-TTg, ngày 21/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án quản lý phát thải gây hiệu ứng nhà kính; quản lý các hoạt động kinh doanh tín chỉ các-bon ra thị trường thế giới”. Với quan điểm cần hình thành thị trường các-bon trong nước và tham gia vào thị trường các-bon thế giới, một trong các nhiệm vụ được đặt ra là trong giai đoạn 2012 - 2015, cần xây dựng cơ chế, chính sách tài chính để hình thành và vận hành thị trường các-bon.

Ngày 03/6/2013, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Việc phát triển thị trường các-bon được xác định là nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên tại Nghị quyết: “Thúc đẩy các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện nước ta trên cơ sở hỗ trợ tài chính và công nghệ của các nước và tổ chức quốc tế. Phát triển thị trường trao đổi tín chỉ các-bon trong nước và tham gia thị trường các-bon toàn cầu”.

Để tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương, nhiều chương trình, chiến lược đã được Chính phủ ban hành như: Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu số 2139/QĐ-TTg, ngày 05/12/2011, được thay thế bởi Quyết định số 896/QĐ-TTg, ngày 26/7/2022; Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh tại Quyết định số 1393/QĐ-TTg, ngày 25/9/2012 và được thay thế bởi Quyết định số 1658/QĐ-TTg, ngày 01/10/2021. Theo đó, một trong những nhiệm vụ trọng tâm được đặt ra là giảm phát thải khí nhà kính với những chỉ tiêu cụ thể nhằm phát triển nền kinh tế các-bon thấp.

Việt Nam đã phê duyệt Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu vào ngày 31/10/2016 theo Nghị quyết số 93/NQ-CP của Chính phủ. Thực hiện Thỏa thuận Paris, Việt Nam đã xây dựng và trình UNFCCC Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC). Để thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính tại NDC Việt Nam và cam kết theo thỏa thuận Paris, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về BĐKH. Theo đó, kế hoạch gồm 05 nhóm nhiệm vụ[1].

Luật Bảo vệ môi trường 2020 đã xác định một trong những nội dung giảm nhẹ phát thải khí nhà kính là tổ chức và phát triển thị trường các-bon trong nước. Điều 139 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định thị trường các-bon trong nước gồm các hoạt động trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon thu được từ cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon trong nước và quốc tế phù hợp với quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (khoản 1 điều 139); các cơ sở phát thải khí nhà kính thuộc đối tượng phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính được phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính và có quyền trao đổi, mua bán hạn ngạch trên thị trường các-bon trong nước (khoản 2 điều 139); Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao phối hợp thành lập thị trường các-bon trong nước. Đây là cơ sở pháp lý căn bản, tạo tiền đề xây dựng và phát triển thị trường các-bon.

Ngày 07/01/2022, Chính phủ ban hành Nghị định số 06/2022/NĐ-CP quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn đã quy định việc trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon được thực hiện trên sàn giao dịch tín chỉ các-bon, thị trường các-bon trong nước theo quy định. Nghị định 06/2022/NĐ-CP là căn cứ pháp lý quan trọng cho việc thành lập và vận hành thị trường các-bon. Trên cơ sở Nghị định này, các hoạt động cấp và xác nhận tín chỉ các-bon từ các dự án tạo tín chỉ các-bon do Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện, việc cấp và phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính do Bộ Tài nguyên và môi trường thực hiện, bù trừ giữa tín chỉ các-bon và hạn ngạch phát thải… Đến ngày 26/01/2022, Văn phòng Chính phủ đã có văn bản số 648/VPCP-NN về phê duyệt Đề án phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam.

Sản xuất điện bằng năng lượng mặt trời ở Nhà máy Điện mặt trời nổi hồ Đa Mi

Thủ tướng Chính phủ cũng ký Quyết định 01/2022/QĐ-TTg, ngày 18/01/2022 ban hành Danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính, quy định cụ thể 1912 doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực năng lượng, giao thông vận tải, xây dựng, các quá trình công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất, chất thải phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính. Đây cũng là cơ sở quan trọng để xác định đối tượng tham gia thị trường các-bon trong tương lai.

Theo đó, việc thiết lập và vận hành thị trường các-bon được đặt ra ngày càng quan trọng và cấp thiết. Trong mọi văn bản, chủ trương của Đảng và Nhà nước cũng như hệ thống pháp luật hiện hành thì thị trường các-bon là một trong những công cụ quan trọng để hướng tới mục tiêu chung giảm phát thải khí nhà kính. Nhiệm vụ này cũng đòi hỏi sự phối hợp của các cơ quan, đơn vị khác nhau nhằm giúp Chính phủ Việt Nam hướng tới mục tiêu thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính trong khuôn khổ theo đóng góp do quốc gia tự quyết định của Việt Nam trong khuôn khổ Thỏa thuận Paris, đảm bảo được mục tiêu phát triển nền kinh tế theo hướng các-bon thấp, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, từng bước hiện thực hóa mục tiêu của Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và trọng tâm là các mục tiêu cụ thể được xác định trong Đề án quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính.

2. Lợi ích của việc phát triển, vận hành thị trường các-bon

Lợi ích đối với Nhà nước:

Về mặt kinh tế, việc vận hành thị trường các-bon giúp đạt các mục tiêu giảm phát thải với mức chi phí thấp nhất. Đặc biệt với giá bán tín chỉ các-bon ngày càng tăng, doanh thu từ bán đấu giá hạn ngạch phát thải có thể quay trở lại sử dụng để bù đắp cho việc giảm thuế thu nhập cũng như tăng đầu tư công. Thêm vào đó, thị trường các-bon hình thành sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp kinh doanh đầu tư trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo và năng lượng sạch, như: năng lượng gió, năng lượng mặt trời, hydrogen xanh. Thị trường các-bon sẽ giúp Việt Nam được hưởng lợi tối đa từ các Hiệp định thương mại tự do. Các hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sẽ không vướng phải rào cản của châu Âu hay Mỹ khi Việt Nam có thị trường các-bon.

Về môi trường, phát triển thị trường các-bon sẽ giúp Việt Nam sớm đạt được các mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính theo cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Lợi ích đối với doanh nghiệp:

Trong ngắn hạn, việc phát triển và vận hành thị trường các-bon cho phép các doanh nghiệp phát thải/gây ô nhiễm nhiều có thể ngay lập tức mua các khoản tín chỉ để trang trải cho lượng khí thải mà họ thải vượt quá định mức vào khí quyển. Lượng tín chỉ các-bon này chính là giấy phép cho một doanh nghiệp hoặc tổ chức phát thải CO2, qua đó duy trì ổn định quá trình sản xuất. Đặc biệt, với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa vào thị trường như châu Âu và Mỹ, khi chưa kịp đầu tư công nghệ giảm phát thải thì doanh nghiệp có thể lên sàn giao dịch để mua bổ sung lượng tín chỉ thiếu hụt ngay. Đối với các doanh nghiệp sớm thực hiện các giải pháp giảm phát thải có thể tính toán, xác định và bán lượng tín chỉ các-bon dư thừa nhờ giảm được lượng khí thải, tạo ra thêm doanh thu cho doanh nghiệp. Từ đó, nguồn thu nhập mới này quay trở lại giúp các doanh nghiệp bù đắp chi phí triển khai các công nghệ phát thải thấp. Do đó, đầu tư càng sớm, chi phí sẽ càng thấp và lợi ích dành cho doanh nghiệp tiên phong càng lớn.

Trong dài hạn, với các yêu cầu và quy định mới của thị trường các-bon, việc tham gia vào thị trường các-bon sẽ khuyến khích và tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư vào đổi mới công nghệ sản xuất và thực hành để giảm lượng khí thải và dấu chân các-bon của họ. Điều này giúp các doanh nghiệp đạt được các mục tiêu bền vững và giảm tác động đến môi trường.

Các doanh nghiệp khi tuân thủ các quy định phát thải, tham gia vào thị trường các-bon sẽ sớm tiến tới mục tiêu phát triển bền vững, xây dựng được hình ảnh thương hiệu của mình. Điều này không chỉ tạo thuận lợi cho việc cải thiện năng lực cạnh tranh, tăng cường thu hút đầu tư mà còn giúp các tổ chức và doanh nghiệp thu hút các khách hàng/đối tác đang tìm kiếm các doanh nghiệp có trách nhiệm với môi trường.

Lợi ích đối với người dân:

          Một trong các lĩnh vực tiềm năng tham gia thị trường các-bon ở Việt Nam là nông - lâm nghiệp, với chủ thể chính là người dân. Việc tham gia vào thị trường các-bon mang lại cho người dân, cộng đồng nhiều lợi ích trực tiếp và gián tiếp. Lợi ích trực tiếp có thể kể đến nguồn thu từ lâm sản, trồng và khai thác dược liệu dưới tán rừng, hoạt động du lịch sinh thái, giáo dục môi trường... Lợi ích gián tiếp là những lợi ích kinh tế bổ sung từ chuyển nhượng kết quả giảm phát thải thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng, suy thoái rừng. Ngoài ra, việc phát triển, vận hành thị trường các-bon cũng giúp giảm thiểu lượng khí thải các-bon đưa vào không khí, từ đó giảm thiểu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, giảm thiểu các hiện tượng thời tiết cực đoan, thiên tai. Bằng cách này, thị trường các-bon đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và sức khoẻ của cộng đồng.

Như vậy, bên cạnh các lợi ích trực tiếp từ hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp, việc phát triển thị trường các-bon cũng giúp người dân cải thiện điều kiện kinh tế, nâng cao mức sống, phát triển sinh kế và tăng cường nhận thức để họ có động lực tiếp tục tham gia vào công tác bảo vệ, phát triển rừng.

3. Tiềm năng và thách thức đối với phát triển thị trường các-bon ở Việt NamTiềm năng phát triển thị trường các-bon ở Việt Nam:

Việt Nam với vị thế một nước đang phát triển, có nhiều thuận lợi để phát triển thị trường các-bon.

Thứ nhất, như đã phân tích ở trên, Việt Nam có một hệ thống văn bản pháp lý cấp quốc gia hỗ trợ việc phát triển thị trường các-bon. Sự cần thiết của việc giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và phát triển thị trường các-bon đã được khẳng định ở nhiều văn bản pháp lý như Nghị quyết 24-NQ/TW, Luật Bảo vệ môi trường 2015, Chiến lược quốc gia về Biến đổi khí hậu, Chiến lược tăng trưởng xanh, Kế hoạch hành động quốc gia về Biến đổi khí hậu… Đồng thời, Chính phủ, các bộ, ngành cũng đã ban hành những văn bản để tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện các cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon và tạo hành lang pháp lý cho các cơ quan, doanh nghiệp trong và ngoài trước triển khai các cơ chế này.

Thứ hai, Việt Nam có nhiều tiềm năng về giảm phát thải khí nhà kính. Theo NDC của Việt Nam, tiềm năng giảm phát thải trong lĩnh vực năng lượng khoảng 76 triệu tấn CO2 tương đương, lĩnh vực nông nghiệp khoảng 45 triệu tấn CO2 tương đương, lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp khoảng 66 triệu tấn CO2 tương đương, lĩnh vực chất thải khoảng 24 triệu tấn CO2 tương đương. Bên cạnh đó, lĩnh vực trồng rừng làm tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính khi thực hiện cũng sẽ tạo ra một nguồn tín chỉ các-bon để thu hút đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Ngoài ra, Việt Nam là một nước đang phát triển, các ngành kinh tế vẫn sử dụng chủ yếu các công nghệ tương đối lạc hậu so với thế giới, do đó, tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính thông qua cải tiến công nghệ là rất lớn. Ngoài ra, Chính phủ đang có chủ trương đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững, chú ý đến phát triển các ngành kinh tế ít các-bon cũng là yếu tố có lợi cho việc phát triển thị trường các-bon của Việt Nam.

Thứ ba, Việt Nam có những kinh nghiệm nhất định trong việc thực hiện thị trường các-bon. Với việc hoạt động chuyển nhượng, mua bán hạn ngạch phát thải khí nhà kính được đề cập trong Luật Bảo vệ môi trường 2005, nhiều doanh nghiệp đã chủ động tham gia, xây dựng và thực hiện các hoạt động giảm phát thải khí nhà kính. Theo số liệu của UNFCCC[2], tính đến hết tháng 12/2022, Việt Nam đã có 258 dự án CDM và 15 chương trình dự án được đăng ký thành công, với tổng lượng tín chỉ đã ban hành từ các dự án này là 30.736.808 CERs. Nguồn thu từ việc bán CERs đã giúp doanh nghiệp có thêm nguồn lực tài chính để mở rộng đầu tư sản xuất, kinh doanh.

Các ngành tiềm năng tham gia thị trường các-bon ở Việt Nam:

Thị trường các-bon bao gồm các hoạt động trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon thu được từ cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon trong nước và quốc tế phù hợp với quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Về nguyên lý, dự án nào giúp hấp thụ/cắt giảm khí thải nhà kính đều có thể chuyển thành tín chỉ các-bon. Theo NDC cập nhật 2022 của Việt Nam, các lĩnh vực phát thải/hấp thụ nhiều khí nhà kính nhất là: năng lượng, nông nghiệp, sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF), chất thải và các quá trình công nghiệp (IP).

Việt Nam là một trong những quốc gia có diện tích rừng lớn với tổng diện tích rừng khoảng 14,7 triệu ha, độ che phủ rừng 42% và có tiềm năng lớn đóng góp vào việc giảm khí thải nhà kính thông qua tín chỉ các-bon rừng do đây là ngành duy nhất có phát thải ròng ở mức âm. Trong những năm qua, Chính phủ và chính quyền địa phương đã thực hiện nhiều dự án, chương trình nhằm bảo vệ, quản lý và phục hồi các khu rừng, đồng thời tạo tín chỉ các-bon rừng. Trong thực tế, do yếu tố lịch sử trong nỗ lực giảm phát thải khí nhà kính chung của toàn cầu[3] tín chỉ các-bon giai đoạn đến nay chủ yếu trong lĩnh vực lâm nghiệp (rừng).

Tuy nhiên, tiềm năng về rừng chưa đánh giá hết tổng thể nền kinh tế. Là một nước đang phát triển, năng lượng, các quá trình công nghiệp, nông nghiệp và chất thải là những lĩnh vực đóng góp lớn nhất vào phát thải khí nhà kính ở Việt Nam. Chính phủ và các đối tác phát triển của Việt Nam đã và đang thể hiện sự quan tâm và cam kết trong việc thực hiện giảm phát thải khí nhà kính trong các lĩnh vực này. Nhiều biện pháp cụ thể nhằm giảm phát thải khí nhà kính trong các lĩnh vực này đã được xác định, mang lại tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính lớn cho các lĩnh vực.

Các rào cản, hạn chế trong thúc đẩy thị trường các-bon:

Do các quy tắc về thị trường các-bon trên thế giới còn đang được thảo luận giữa các quốc gia và chưa đi đến thống nhất, Việt Nam sẽ vừa phải hoàn thiện hệ thống pháp lý trong nước, vừa phải xem xét những quy định mới trong tương lai để hài hòa với các luật định. Một số hạn chế, thách thức chính về mặt pháp lý, ảnh hưởng đến việc thúc đẩy thị trường các-bon là:

Một là, các cơ chế, chính sách tài chính cho thị trường các-bon còn thiếu

+ Theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25/11/2015, Điều 5 Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13, ngày 25/6/2015 quy định tiền thu được từ lệ phí bán CERs phải nộp vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, vẫn chưa có quy định cụ thể về cơ chế tài chính đối với tiền thu được từ đấu giá hạn ngạch quyền phát thải và các loại phí trong quá trình vận hành thị trường các-bon.

+  Trong quá trình thực thi chính sách trợ giá cho sản phẩm dự áncơ chế phát triển sạch (CDM) đã phát sinh một số tồn tại, hạn chế như: (i) nguồn trợ giá cho sản phẩm dự án CDM còn hạn hẹp, thủ tục để thực thi phức tạp;(ii) Hồ sơ, thủ tục để được trợ giá sản phẩm phức tạp vì phải xác định chi phí thực tế sản xuất ra 01 đơn vị sản phẩm, mức lợi nhận kế hoạch/01 đơn vị sản phẩm.

+ Kinh phí cho việc trợ giá được bảo đảm từ nguồn thu lệ phí bán CERs (chứng chỉ giảm phát thải khí nhà kính được chứng nhận (CERs)) nên không ổn định vì phụ thuộc vào giá bán CER.

+ Do tính chất của chính sách trợ giá là nguồn tài chính hỗ trợ trực tiếp cho dự án nhưng có nhược điểm là dễ tạo ra sức ỳ, sự ỷ lại vào Nhà nước từ phía các doanh nghiệp được trợ giá nên chỉ phát huy hiệu quả trong một khoảng thời gian nhất định.

+ Các dự án CDM trong nước không phải tuân thủ quy định này, vì lượng CERs được sản xuất theo cơ chế này để bán trực tiếp cho người mua quốc tế. Do đó, cần có các quy định pháp lý điều tiết thủ tục và quy trình cho các thực thể kinh tế giao dịch trong tín dụng các-bon[4].

+ Theo Thông tư liên tịch số 58/2008/TTLT-BTC-BTNMT, tiền thu từ lệ phí bán/chuyển CERs sử dụng một phần cho phê duyệt tài liệu, kiểm tra giám sát dự án CDM, và tuyên truyền CDM và biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, Thông tư liên tịch số 45/2010/TTLT-BTC-BTN&MT, ngày 30/3/2010 quy định kinh phí của Ban chỉ đạo thực hiện Công ước khí hậu và Nghị định thư Kyoto (DNA) được cấp từ ngân sách nhà nước. Do đó, hỗ trợ kinh phí cho hoạt động của Ban cần có hướng dẫn cụ thể (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2019)[5].

Hai là, tiêu chuẩn kỹ thuật chưa hoàn thiện

- Hiện tại, chưa có chuẩn mực và tiêu chuẩn rõ ràng về việc đo lường và giao dịch các-bon, do đó cần thời gian để xây dựng các chuẩn mực và tiêu chuẩn này. Chưa có sự thống nhất về quy định và tiêu chuẩn về giá trị các-bon, dẫn đến sự chưa rõ ràng trong việc mua bán các loại chứng chỉ các-bon.

- Thiếu hệ thống thống kê, hạch toán các-bon toàn diện toàn quốc thống nhất và tiêu chuẩn hóa trong hệ thống MRV, việc thiếu dữ liệu đáng tin cậy và thiếu các phương pháp tiêu chuẩn để thu thập và xác minh dữ liệu có thể gây khó khăn cho việc đo lường và giám sát lượng khí thải các-bon, qua đó gây khó khăn cho việc xác định tổng hạn ngạch phát thải, phân bổ hạn ngạch phát thải cho thị trường các-bon trong khi đây là các điều kiện tiên quyết, bắt buộc để xây dựng chính sách tài chính cho thị trường các-bon tại Việt Nam.

- Thiếu hệ thống đo lường và giám sát lượng khí thải các-bon một cách chính xác và nhất quán là một nhiệm vụ phức tạp và đầy thách thức, đồng thời rất cần thiết cho sự phát triển của thị trường các-bon tại Việt Nam. Thiếu dữ liệu và công cụ thu thập dữ liệu chính xác, hiệu quả cũng gây ra nhiều khó khăn để xây dựng chính sách tài chính phù hợp và hiệu quả cho thị trường các-bon tại Việt Nam.

- Cách thức, tiêu chí, số liệu để phân bổ hạn ngạch phát thải cho các doanh nghiệp phát thải chưa đầy đủ. Nếu không đảm bảo hợp lý và công bằng trong việc phân bổ hạn ngạch phát thải, doanh nghiệp được phân bổ nhiều không có động lực giảm phát thải, có thể kiếm lợi nhuận từ việc bán hạn ngạch dư thừa. Trong khi đó, doanh nghiệp được phân bổ ít lại không có đủ hạn ngạch để sử dụng, gây đình trệ sản xuất kinh doanh. Đồng thời, cơ chế quản lý, giám sát, thanh tra kiểm tra để đảm bảo công bằng trong phân bổ hạn ngạch phát thải cũng phải được suy nghĩ, cân nhắc.

Ba là, cơ chế, chính sách huy động vốn đầu tư cho tăng trưởng xanh còn có một số vướng mắc, trong khi nhu cầu tài chính là rất lớn

- Việc phát triển thị trường các-bon đòi hỏi nguồn tài chính và đầu tư đáng kể, điều khó có thể đạt được trọn vẹn ở một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nơi vốn đầu tư còn hạn chế trong khi các mối bận tâm khác như công ăn việc làm, phát triển kinh tế còn chưa được đảm bảo triệt để. Việc phát triển thị trường các-bon ở Việt Nam có thể gặp phải sự cạnh tranh từ các lĩnh vực khác do hạn chế về nguồn lực tài chính và vốn đầu tư.

- Cơ sở pháp lý phục vụ cho hoạt động tín dụng xanh còn thiếu, đồng thời thiếu hướng dẫn chuyên ngành của các cơ quan chuyên môn về danh mục các ngành, lĩnh vực xanh với tiêu chí cụ thể[6] làm cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng các cơ chế ưu đãi, khuyến khích hoạt động xanh và cấp tín dụng xanh, thêm nữa là thiếu cơ chế hợp tác liên ngành khuyến khích doanh nghiệp đầu tư lĩnh vực xanh và khuyến khích tạo động lực cho các ngân hàng phát triển tín dụng xanh.

- Bên cạnh đó, các dự án đầu tư xanh cần thời gian hoàn vốn dài, chi phí đầu tư lớn, rủi ro thị trường cao, do vậy các tổ chức tín dụng(TCTD) khó khăn trong việc cân đối nguồn vốn để cho vay do nguồn vốn huy động chủ yếu là vốn ngắn hạn, huy động theo cơ chế thương mại có chi phí cao.

Số lượng các ngân hàng quan tâm và ban hành quy trình nội bộ về ngân hàng xanh, tín dụng xanh, quy trình thẩm định đối với các dự án xanh chưa nhiều. Đội ngũ nhân viên ngân hàng chưa được đào tạo chuyên sâu, bài bản để thực hiện thẩm định, đánh giá và quản lý rủi ro môi trường trong hoạt động cấp tín dụng, trong khi các dự án đầu tư xanh luôn tiềm ẩn rủi ro và khó đánh giá hiệu quả khoản vay cả về mặt xã hội và tài chính, tài sản bảo đảm.

Nhiều nghiên cứu nhận định, năng lực đánh giá rủi ro môi trường - xã hội của các cán bộ tín dụng còn nhiều hạn chế, hầu hết đều dựa vào kinh nghiệm của người thẩm định. Hiệu quả của việc thẩm định này còn nhiều tranh cãi khi thực tế trong giai đoạn vừa qua đã có nhiều dự án sản xuất - kinh doanh phải dừng thi hành do những tác động tiêu cực tới môi trường, gây ảnh hưởng trực tiếp tới các ngân hàng, tổ chức cấp tín dụng.

Hơn nữa, thực tiễn thực thi và tuân thủ chính sách, quy định về môi trường ở Việt Nam còn nhiều hạn chế là khó khăn cho các tổ chức tín dụng khi dự án có thể bị đình chỉ thực hiện do vi phạm quy định về môi trường. Ngoài ra, còn thiếu cơ chế chính sách trong việc tiếp nhận nguồn vốn hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế.

Bốn là, vấn đề không minh bạch trong công bố thông tin, hoặc công bố thông tin không kịp thời cũng là khó khăn, vướng mắc

Vấn đề kết nối thông tin giữa cơ quan tài chính (vận hành sàn giao dịch các-bon), cơ quan tài nguyên môi trường (quản lý hạn ngạch và giảm phát thải), doanh nghiệp phát thải, nhà đầu tư và các tổ chức, cơ quan, cá nhân có liên quan cũng là vấn đề cần quan tâm để thông tin được liên thông và tức thì.

Ngoài ra, cũng tồn tại nhiều quy định chồng chéo giữa các văn bản dưới luật khác nhau, gây nhầm lẫn hoặc cản trở các cơ quan thực hiện các hoạt động giảm phát thải khí nhà kính cũng như phát triển thị trường các-bon.

Năm là, nhận thức về thị trường các-bon và tham gia thị trường các-bon

Vấn đề BĐKH, phát thải khí nhà kính, trao đổi, mua bán, chuyển nhượng tín chỉ các-bon đã đã quen thuộc với đội ngũ cán bộ của Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế trong nhận thức và hiểu biết về các biện pháp giảm thiểu phát thải khí nhà kính, giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu, các thỏa thuận quốc tế về biến đổi khí hậu cũng như các các quy định, điều kiện, quy trình tham gia vào thị trường các-bon.

Thị trường các-bon chưa phải là một thị trường thống nhất ở quy mô quốc tế. Các thị trường thường được tổ chức ở quy mô quốc gia hoặc khu vực, dẫn đến sự không thống nhất về tiêu chuẩn giữa các thị trường. Các tiêu chuẩn khác nhau đưa ra các định nghĩa, phạm vi, cơ sở tính toán khác nhau để đo lường mức giảm hoặc loại bỏ phát thải của mỗi dự án. Việc có quá nhiều tiêu chuẩn cũng khiến người tham gia thị trường các-bon choáng ngợp. Sự hạn chế về nhận thức và kiến thức chuyên môn trong các lĩnh vực kể trên là hạn chế không nhỏ trong việc phát triển và vận hành thị trường các-bon.

Sáu là, năng lực chuyên môn:

- Năng lực của các doanh nghiệp về kinh doanh tín chỉ các-bon còn yếu, việc triển khai các dự án theo cơ chế tín chỉ các-bon chủ yếu thông qua các công ty tư vấn. Điều này làm tăng sự phụ thuộc của các doanh nghiệp vào một bên thứ ba, đồng thời làm giảm đáng kể lợi nhuận thu về của các doanh nghiệp do các công ty tư vấn thường là công ty nước ngoài và chi phí thi tư vấn thường cao.

- Nghiên cứu khoa học và công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu, hợp tác quốc tế chưa tận dụng và thu hút được nhiều nguồn lực cho phát triển thị trường các-bon.

Bảy là, đảmbảođiềukiệnhạtầngkỹthuậtphụcvụtổchứcvậnhànhthịtrường

- Thiếu dữ liệu quốc gia và một phương pháp chuẩn mực để kiểm kê khí nhà kính, phân bổ hạn ngạch phát thải cho các cơ sở.

- Hạ tầng công nghệ còn yếu kém là một trong những hạn chế cản trở hoạt động kiểm kê lượng khí nhà kính một cách hiệu quả, do đó, gây ảnh hưởng đến việc vận hành thị trường các-bon. Hiện nay, chỉ một số ít viện nghiên cứu có đủ hệ thống máy móc, trang thiết bị và nguồn lực để tham gia thực hiện kiểm kê khí nhà kính và nghiên cứu giải pháp cắt giảm khí nhà kính.

- Hệ thống quốc gia về kiểm kê khí nhà kính chưa hoàn thiện, chưa có hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính ở cấp quốc gia và cấp ngành.

4. Định hướng và giải pháp

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, chính sách

- Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách thể chế hóa mô hình phát triển kinh tế các-bon thấp, kinh tế tuần hoàn; áp dụng các công cụ định giá các-bon gồm thuế các-bon, tín chỉ các-bon, sàn giao dịch và hoạt động kinh doanh tín chỉ các-bon.

- Xây dựng và hoàn thiện các quy định về kiểm kê, tiêu chuẩn khí thải và các quy định về báo cáo khí thải và cung cấp thông tin về thị trường các-bon để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động xây dựng các kế hoạch, lộ trình chuyển đổi công nghệ sản xuất và nguồn lực. Cần phải nhanh chóng hoàn thiện các quy định, hướng dẫn các doanh nghiệp kiểm kê khí nhà kính và hệ thống MRV (đo đạc, báo cáo, thẩm định) cấp quốc gia/ngành/tiểu ngành/cơ sở sản xuất một cách minh bạch, chính xác theo tiêu chuẩn quốc tế; xây dựng tiêu chuẩn, hệ số phát thải đối với các lĩnh vực sản phẩm kinh doanh của doanh nghiệp.

- Xây dựng cơ chế quản lý tài chính và huy động nguồn lực tài chính từ khối tư nhân cho vận hành và phát triển thị trường các-bon. Để huy động được nguồn lực tài chính từ khối tư nhân, cần có những chính sách khuyến khích, ưu đãi và hỗ trợ cho doanh nghiệp đầu tư vào các công nghệ phát thải thấp, năng lượng tái tạo.

Thứ hai, nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ

- Đánh giá nhu cầu công nghệ giảm phát thải khí nhà kính, xây dựng danh mục công nghệ sạch, phát thải ít các-bon trong các ngành sản xuất, dự báo xu hướng công nghệ để thúc đẩy ứng dụng, chuyển giao công nghệ và huy động đầu tư.

- Tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học, phát triển, ứng dụng công nghệ phục vụ phát triển thị trường các-bon trong nước.

- Tăng cường ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ trong xây dựng cơ sở dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật phục vụ quản lý hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon.

- Tăng cường công tác nghiên cứu, khảo sát, thống kê số liệu, tham gia triển khai các chương trình, dự án theo cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon và phát triển thị trường các-bon.

Thứ ba, nâng cao nhận thức, phát triển nguồn nhân lực

- Đẩy mạnh đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức nhằm tạo ra sự chuyển biến cơ bản trong tư duy, nhận thức về ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí nhà kính và phát triển thị trường các-bon.

- Xây dựng tài liệu và tổ chức tập huấn, đào tạo nhằm phổ biến nâng cao nhận thức, cập nhật kiến thức, thông tin về BĐKH, giảm phát thải khí nhà kính, phát triển thị trường các-bon cho các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương, chú trọng đội ngũ chuyên gia kỹ thuật.

- Phổ biến, nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và người dân về BĐKH, giảm phát thải khí nhà kính và phát triển thị trường các-bon nhằm xây dựng nền tảng vững chắc cho các hoạt động nghiên cứu, phát triển và chuyển giao kỹ thuật công nghệ giảm phát thải khí nhà kính. Tuyên truyền, thu hút sự quan tâm, tham gia của doanh nghiệp, cộng đồng vào các mô hình ứng dụng công nghệ thân thiện với môi trường, công nghệ tái tạo, sử dụng năng lượng sạch, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng, phát triển rừng và lâm nghiệp bền vững.

- Đẩy mạnh thực hiện chính sách đào tạo, sử dụng hợp lý cán bộ, chuyên gia trong lĩnh vực giảm phát thải khí nhà kính, trao đổi, mua bán tín chỉ các-bon. Xây dựng mạng lưới các chuyên gia uy tín, dày dặn kinh nghiệm trong và ngoài nước về kiểm kê khí nhà kính, thẩm định giảm phát thải khí nhà kính, phát triển thị trường các-bon nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý, phù hợp với lộ trình, quy định trong nước và các điều ước quốc tế về BĐKH mà Việt Nam là thành viên.

Thứ tư, hợp tác quốc tế

- Tích cực, chủ động tham gia các cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, tham gia vào thị trường các-bon quốc tế; nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế theo các cơ chế toàn cầu, khu vực và tiểu vùng; kết nối với các chính phủ, tổ chức, thể chế tài chính, địa phương, doanh nghiệp nước ngoài nhằm trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng quản lý và huy động tối đa hỗ trợ phát triển thị trường các-bon.

- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân Việt Nam tham gia các chương trình, dự án hợp tác quốc tế liên quan đến thực hiện cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon và phát triển thị trường các-bon trong nước.

ThS. Nguyễn Thị Thùy Trang

Bộ Kế hoạch và Đầu tư

 

[1](i) Nhiệm vụ giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; (ii) Nhiệm vụ thích ứng với BĐKH; (iii) Nhiệm vụ chuẩn bị nguồn lực; (iv) Nhiệm vụ thiết lập hệ thống công khai, minh bạch; (v) Nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện chính sách, thể chế. Trong đó, nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách xây dựng các quy định trong nước để áp dụng theo lộ trình các cơ chế hợp tác theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris.

 

[2] https://cdm.unfccc.int/Statistics/Public/CDMinsights/index.html

[3]Sau khi Nghị định thư Kyoto ra đời, cơ chế CDM trở thành một trong những cơ chế phổ biến nhất. Theo đó, các nước đang phát triển sử dụng tài nguyên rừng, hấp thụ các-bon, chuyển thành tín chỉ các-bon bán cho nước “giàu” để bù đắp vào hạn ngạch mà quốc gia này thải ra nhiều.

[4]Ho Tuan Le và cộng sự, 2022

[5]Bộ Tài nguyên và Môi trường (2019). Hoạt động hỗ trợ dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch (CDM)

[6]Khái niệm, quy định, tiêu chuẩn/điều kiện về danh mục các ngành/lĩnh vực xanh.