Nâng cao hiệu quả thực thi các chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu của nước ta

Hiện nay, biến đổi khí hậu (BĐKH)đang gây ra nhiều tác động tiêu cực đến kinh tế - xã hội tại các quốc gia trên thế giới. BĐKH đang tạo ra ngày càng nhiều vấn đề đáng lo ngại. Việt Nam với đường bờ biển dài trên 3.260km, đặc biệt dễ bị tổn thương trước những tác động của BĐKH.

Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam sẽ mất khoảng 12% đến 14,5% GDP mỗi năm vào năm 2050 và số người rơi vào tình trạng nghèo cùng cực vào năm 2030 có thể lên tới 1 triệu người, nếu không có các biện pháp ứng phó với BĐKH phù hợp[1]. Việt Nam đã từng bước thực hiện các giải pháp để ứng phó với BĐKH và đã đạt được một số thành tựu nhất định. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số hạn chế trong quá trình thực hiện.

Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới

1. Thiệt hại do thiên tai gây ra đối với nước ta

Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của các hiện tượng thời tiết, khí hậu cực đoan, trong đó bão, lũ lụt và hạn hán là thường xuyên và nguy hiểm nhất. Các hiện tượng thời tiết, khí hậu cực đoan gia tăng, không những gây ảnh hưởng và thiệt hại nhiều tới tài nguyên, kinh tế, phát triển xã hội, mà còn có thể ảnh hưởng đến các mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.

Theo Văn phòng Giảm nhẹ rủi ro thiên tai của Liên hợp quốc, trong vòng 20 năm qua, trên toàn thế giới, các loại hình thiên tai đã tăng lên khoảng 75%, làm hơn 1 triệu người thiệt mạng và ảnh hưởng đến hơn 4 tỷ người dân, thiệt hại kinh tế gần 3.000 tỷ USD. Trong khi đó, Việt Nam là 1 trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất từ biến đổi khí hậu. Ước tính, trong 20 năm qua, ở nước ta, các loại thiên tai đã làm hơn 13.000 người thiệt mạng, thiệt hại kinh tế hơn 6,4 tỷ USD[2].

Báo cáo của các cơ quan chức năng liên quan đều nêu rõ, thiệt hại do thiên tai gây ra ở nước ta rất nghiêm trọng. Cụ thể, Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2024 do Tổng cục Thống kê công bố ngày 06/9/2024 đã chỉ ra, thiệt hại do thiên tai trong tháng 8 chủ yếu do ảnh hưởng của mưa lớn, lũ, ngập lụt. Tính chung 8 tháng năm nay, thiên tai làm 147 người chết và mất tích, 104 người bị thương; 32,9 nghìn ngôi nhà bị sập đổ và hư hỏng; 259,3 nghìn con gia súc, gia cầm bị chết; 30,8 nghìn ha hoa màu và 84,5 nghìn ha lúa bị ngập, hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 3.374,6 tỷ đồng, gấp hơn 1,5 lần cùng kỳ năm 2023.

Từ đầu năm 2024 đến nay, thiên tai tiếp tục diễn biến bất thường, khó dự báo. Sau các đợt nắng nóng gay gắt, hạn hán, xâm nhập mặn kéo dài, thời gian gần đây đã liên tiếp xảy ra mưa lớn, sạt lở đất, ngập lụt cục bộ tại nhiều nơi trên địa bàn cả nước, nhất là tại các tỉnh miền núi.Đặc biệt, cơnbão số 3 (Yagi) đi vào đất liền trưa ngày 07/9/2024 với thời gian lưu bão kéo dài trên 12 giờ. Tâm bão khi đổ bộ vào Quảng Ninh, Hải Phòng với sức gió thực đo lớn nhất trên đất liền tại Bãi Cháy (Quảng Ninh) cấp 14, giật cấp 17; đảo Bạch Long Vỹ (Hải Phòng) cấp 13, giật cấp 14; Ba Lạt (Thái Bình) cấp 9, giật cấp 12; Hải Dương cấp 12, giật cấp 13; Hà Nội cấp 6, giật cấp 10. Sau khi bão số 3 đi qua, hoàn lưu mưa sau bão đã gây thiệt hại vô cùng to lớn đối với các tỉnh miền Bắc của nước ta.

Theo Báo cáo tại “Hội nghị Thường trực Chính phủ với các địa phương bị ảnh hưởng do cơn bão số 3 về các giải pháp khắc phục hậu quả, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp ổn định đời sống, khôi phục hoạt động sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng” tổ chức sáng ngày 15/9/2024, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết ước tính sơ bộ, chưa đầy đủ, thiệt hại về tài sản do bão số 3 gây ra khoảng 40.000 tỷ đồng. Trong số đó, khoảng 257.000 căn nhà, 1.300 trường học và nhiều công trình hạ tầng bị sập đổ, hư hại; 305 sự cố đê điều, chủ yếu là các tuyến đê lớn từ cấp III trở lên; trên 262.000 ha lúa, hoa màu, cây ăn quả bị ngập úng, thiệt hại, gẫy đổ; 2.250 lồng bè nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng, cuốn trôi; gần 2,3 triệu gia súc, gia cầm bị chết và gần 310.000 cây xanh đô thị gẫy, đổ. Đến nay, đã có 353 người chết, mất tích, khoảng 1.900 người bị thương và tác động sang chấn tâm lý nặng nề cho nhiều người dân tại khu vực thiên tai, nhất là trẻ em, người cao tuổi, đối tượng dễ bị tổn thương[3].

Theo cảnh báo của Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, hiện tượng La Nina sẽ tác động đến nước ta từ tháng 8/2024, nguy cơ xảy ra bão mạnh, mưa lớn, lũ lụt, lũ quét, sạt lở đất, mất an toàn hồ đập là rất cao, đe dọa nghiêm trọng đến sản xuất, sinh hoạt, tính mạng và tài sản của người dân.

Trước những diễn biến ngày càng bất thường của tình hình thiên tai, để có giải pháp hoàn chỉnh cả trước mắt và lâu dài, Chính phủ đã đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2025 giảm 30% thiệt hại về người đối với các loại hình thiên tai có cường độ, quy mô tương đương đã xảy ra trong giai đoạn 2015 - 2020. Đặc biệt, đối với các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên, khu vực chịu ảnh hưởng của hầu hết các loại thiên tai thường xảy ra ở nước ta với tần suất cao hơn và mức độ khốc liệt hơn các khu vực khác.

Theo Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai, Tổng cục Phòng, chống thiên tai, để thực hiện tốt công tác phòng, chống thiên tai khu vực này, cần tiếp tục nâng cao năng lực công tác dự báo, cảnh báo, nhất là dự báo mưa lớn cục bộ, lũ, lũ quét, sạt lở đất. Cùng với đó, nhanh chóng hoàn thành Chương trình phân vùng rủi ro thiên tai, xây dựng bản đồ phân vùng sạt lở đất, lũ quét tỷ lệ lớn, chi tiết đến cấp xã.Đồng thời phải triển khai thực hiện hiệu quả quỹ phòng, chống thiên tai, kịch bản phòng, chống thiên tai, khắc phục hậu quả thiên tai, đề xuất, kiến nghị trang thiết bị phòng, chống thiên tai...

2. Chính sách ứng phó với BĐKH của Việt Nam và những vấn đề trong chính sách ứng phó với BĐKH

Nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp bách của vấn đề BĐKH, Chính phủ đã triển khai một loạt các giải pháp toàn diện. Những giải pháp này bao gồm việc xây dựng khung chính sách, đưa ra cam kết giảm phát thải, và thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo.

Chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu rủi ro thiên tai.

Nước ta đã xây dựng một khung chính sách khá toàn diện để ứng phó với BĐKH, thể hiện qua một số văn bản chính sách quan trọng sau: Chiến lược quốc gia về BĐKH (2011); Luật Bảo vệ môi trường 2020; Quyết định số 882/QĐ-TTg, ngày 22/7/2022 phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030; Quyết định số 896/QĐ-TTg, ngày 26/7/2022 phê duyệt chiến lược quốc gia về BĐKH hậu giai đoạn đến năm 2050… Khung chính sách trên thể hiện một cách tiếp cận toàn diện và dài hạn của Việt Nam trong việc ứng phó với BĐKH, tạo ra một nền tảng vững chắc cho các hành động cụ thể ở cấp quốc gia, ngành và địa phương.

Theo Quyết định số 896/QĐ-TTg, ngày 26/7/2022, Việt Nam đã đưa ra cam kết mạnh mẽ hơn về giảm phát thải khí nhà kính (KNK). Cụ thể, Việt Nam cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 thông qua lộ trình mỗi 10 năm. Những cam kết này thể hiện sự quyết tâm cao của Việt Nam trong việc đóng góp vào nỗ lực toàn cầu nhằm giảm thiểu BĐKH.

Theo Quyết định số 500/QĐ-TTg, ngày 15/5/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Việt Nam đặt mục tiêu đầy tham vọng cho phát triển năng lượng tái tạo, cụ thể: Đến năm 2030, tỷ trọng các nguồn năng lượng tái tạo (không bao gồm thủy điện lớn) đạt khoảng 30,9% - 39,2% tổng công suất nguồn điện; đến năm 2050, tỷ trọng này sẽ tăng lên 67,5% - 71,5%.

Việt Nam đã triển khai thực hiện các chính sách ứng với BĐKH từ cách đây hơn một thập kỷ và đạt được nhiều thành tựu nhất định, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế trong lĩnh vực này.

Cách triển khai chính sách theo hướng từ trên xuống dưới như hiện nay có thể dẫn đến sự không phù hợp giữa Trung ương và địa phương. Bên cạnh đó, sự tham gia hạn chế của chính quyền, sự bất đồng trong việc tiếp cận với người dân cũng là yếu tố tác động đến quá trình triển khai và kết quả thực hiện chính sách ứng phó BĐKH ở địa phương. Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện một số chính sách về ứng phó với BĐKH, như: Chương trình Mục tiêu quốc gia về BĐKH; Chương trình Giảm nhẹ và Phòng, chống thiên tai, Chiến lược Tăng trưởng xanh; Chiến lược Bảo vệ môi trường, phát triển bền vững.Tuy nhiên, các chính sách lại có nhiều mục tiêu trùng nhau và chưa thống nhất. Chẳng hạn, có một mục tiêu của Chương trình Mục tiêu quốc gia về BĐKH là “Tăng cường năng lực tổ chức, thể chế, chính sách về BĐKH” quy định về sự tham gia phối hợp của tất cả ban, ngành về việc ứng phó với BĐKH và phòng, chống thiên tai kể từ năm 2015. Nhưng cho đến nay, Chương trình Giảm nhẹ và Phòng, chống thiên tai năm 2024 chỉ có Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng Bộ Tài nguyên và Môi trường tham gia thực hiện cho cán bộ quản lý, công chức, viên chức, học viên của các đơn vị sự nghiệp giáo dục trên các tỉnh, thành phố[4].

Theo số liệu của Bộ Tài chính, tổng chi ngân sách nhà nước cho bảo vệ môi trường có xu hướng tăng đều qua từng năm, đặc biệt ở các năm 2019 - 2022 với mức chi trên 20.000 tỷ đồng; bên cạnh đó, tổng chi trong 3 năm 2020 - 2022 là khoảng 69.107 tỷ đồng. Tuy nhiên, trong những năm này cũng là giai đoạn căng thẳng nhất của dịch bệnh Covid-19, khiến cho tổng chi ngân sách được ưu tiên hơn trong lĩnh vực y tế. Cụ thể trong 3 năm (2021 - 2023), tổng chi ngân sách cho lĩnh vực y tế đạt khoảng 226.264 tỷ đồng, gấp 3,3 lần với bảo vệ môi trường. Bởi, Việt Nam là quốc gia đang phát triển, dù đã có những nỗ lực trong việc chi ngân sách ứng phó với BĐKH, nhưng tổng chi NSNN vẫn cần phải được sử dụng cho các lĩnh vực khác, như y tế và giáo dục.

Số liệu của Bộ Tài chính cũng cho thấy, trung bình giai đoạn 2012 - 2022, tỷ trọng chi ngân sách bảo vệ môi trường với GDP là khoảng 0,75%. Tỷ trọng này vẫn khá khiêm tốn khi so sánh với các quốc gia trong khối ASEAN là khoảng 1% GDP. Theo Cơ quan Thống kê châu Âu, vào năm 2022, tỷ trọng này ở một số nước EU, như: Hà Lan (1,4%) - khoảng 353.150 tỷ đồng; Bỉ (1,2%) - khoảng 175.020 tỷ đồng; Pháp (1,1%) - khoảng 764.225 tỷ đồng, Tây Ban Nha (1,1%) - khoảng 389.950 tỷ đồng. Có sự chênh lệch lớn của ngân sách ứng phó với BĐKH của các nước này và Việt Nam, điều này cho thấy có mối quan hệ đồng biến giữa GDP và tổng chi ngân sách cho BĐKH. Do đó, với GDP của Việt Nam vào năm 2022 là khoảng 9,513 triệu tỷ đồng (409 tỷ USD), thì việc gia tăng tổng chi ngân sách bảo vệ môi trường, ứng phó với BĐKH vẫn còn khó khăn[5].

Theo PAPI (Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh), từ năm 2016 đến năm 2019,có 4vấn đề mà người dân quan ngại nhất là: đói nghèo, môi trường, tăng trưởng kinh tế và việc làm. Riêng năm 2016, tỷ lệ đạt tới 12,53%, có lẽ vì mối lo ngại về môi trường sau khi xảy ra sự cố cá chết hàng loạt ở Việt Nam, còn được gọi là “Sự cố Formosa”, xảy ra ở địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.Tuy nhiên, theo PAPI, vào năm 2023,vấn đề môi trườngđã nằm ngoài danh sách 10 vấn đề mà người dân quan ngại nhất.

Có lẽ kể từ đại dịch Covid-19, mối quan tâm của người dân đã chuyển hướng sang các vấn đề kinh tế hơn là về môi trường.Sau khi mở cửa lại nền kinh tế vào cuối năm 2021, cho đến nayChính phủ vẫn nỗ lực khôi phục lại nền kinh tế, mà trong đó tập trung vào việc phát triển kinh tế vĩ mô qua các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), chính sách an sinh - xã hội. Do đó, chi ngân sách ứng phó BĐKH phải nhường cho các khoản chi khác cấp thiết hơn trong giai đoạn hiện tại.

3. Một số khuyến nghị về giải pháp

Để đảm bảo việc thực hiện hiệu quả chính sách ứng phó với BĐKH tại Việt Nam, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường về quản lý nhà nước và mục tiêu chính sách trong ứng phó với BĐKH. Nhằm đảm bảo tính nhất quán trong việc thực hiện chính sách ứng phó với BĐKH, Nhà nước nên thống nhất sự quản lý và phân quyền một cách cụ thể từ Trung ương đến địa phương. Ngoài ra, các văn bản pháp luật trong lĩnh vực này cũng nên được rà soát để thống nhất các mục tiêu và nội dung thực hiện, đặc biệt là về chi tiêu ngân sách và các phương án tài chính nhằm tối ưu hiệu quả.

Thứ hai, phát triển khoa học công nghệ trong lĩnh vực ứng phó với BĐKH. Ứng dụng công nghệ xanh thân thiện với môi trường là giải pháp cần được xem xét thực hiện nhằm giảm thiểu các chất thải độc hại làm tăng nguy cơ gây ra BĐKH.

Thứ ba, tăng cường nguồn lực tài chính dành cho ứng phó với BĐKH. Các nguồn lực trong nước và quốc tế dành cho ứng phó với BĐKH cần được đa dạng hóa, bao gồm các khoản vay ưu đãi, ODA và đầu tư từ khu vực tư nhân. Nhà nước cũng nên xem xét tạo các quỹ xanh quốc gia để hỗ trợ các dự án liên quan đến ứng phó với BĐKH.

Thứ tư, tích cực tham gia hợp tác quốc tế trong ứng phó với BĐKH. Nhằm nâng cao việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này, Nhà nước nên tăng cường tham gia vào các diễn đàn trên thế giới về BĐKH để học hỏithêm các kinh nghiệm từ cộng đồng quốc tế, từ đó có thể nhận được sự hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính.

Thứ năm, nâng cao sự quan tâm của người dân và sự chung tay của cộng đồng, doanh nghiệp. Trước hết, Nhà nước cần tổ chức các chiến dịch truyền thông và giáo dục về ứng phó với BĐKH cho đông đảo người dân. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng nên xem xét cải thiện hệ thống thu thập, phân tích và cung cấp thông tin về BĐKH để hỗ trợ việc ra quyết định chính sách tốt hơn. Ngoài ra, việc thiết lập các cơ chế khuyến khích sự tham gia của cộng đồng và doanh nghiệp trong việc thực hiện các biện pháp ứng phó với BĐKHvà tạo điều kiện doanh nghiệp đầu tư vào các dự án xanh và bền vững (giảm thuế, ưu đãi vốn vay) cũng cần được xem xét thực hiện.

Phạm Văn Viên

[1] https://vneconomy.vn/bien-doi-khi-hau-co-the-khien-viet-nam-mat-khoang-12-14-5-gdp-vao-nam-2050.htm.

[2]https://dangcongsan.vn/xay-dung-xa-hoi-an-toan-truoc-thien-tai/cuoc-chien-truong-ky-phong-chong-thien-tai-o-viet-nam-678297.html

[3] https://www.vietnamplus.vn/thiet-hai-do-bao-so-3-gay-ra-uoc-tinh-khoang-40000-ty-dong-post976883.vnp#google_vignette

[4]https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/819670/kien-tao-chinh-sach-nham-chu-dong-thich-ung-voi-bien-doi-khi-hau-o-vung-dong-bang-song-cuu-long.aspx

[5]Eurostar statistics Explained (2024), Government expenditure on environmental protection, retrieved from Government expenditure on environmental protection - Statistics Explained (europa.eu)