Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực số đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số

Trong giai đoạn hiện nay, cả lý luận và thực tiễn lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho thấy, để phát triển kinh tế, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực quản lý và vận hành phù hợp. Trong các nguồn lực phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất, yếu tố cốt lõi, quyết định nhất thành công hay thất bại của mọi nền kinh tế. Phát triển kinh tế số (KTS) không nằm ngoài quy luật chi phối, ảnh hưởng của nguồn nhân lực số (NNLS).

1. Thực trạng nguồn nhân lực số và một số vấn đề đặt ra cần giải quyết

- Thực trạng nguồn nhân lực số:

Hiện nay, ở Việt Nam phát triển KTS đang diễn ra với tốc độ cao, đòi hỏi phải có NNLS tương ứng để quản lý, khai thác, sử dụng công nghệ số (CNS). Tuy nhiên, NNLS cho phát triển KTS còn thiếu về số lượng, chất lượng còn khiêm tốn, bất cập về cơ cấu. Có thể nhận thấy thực trạng nguồn nhân lực và NNLS ở nước ta như sau:

Để đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên số, chuyển đổi số thành công, việc ứng dụng công nghệ số và dữ liệu phải tập trung vào yếu tố con người

Thứ nhất, nguồn nhân lực nói chung, NNLS nói riêng thiếu về số lượng. Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động cao, nguồn nhân lực trẻ, năng động, sáng tạo, có năng lực tiếp thu kiến thức mới, như: kỹ năng số, CĐS, KTS, xã hội số là lợi thế để bổ sung nguồn nhân lực, nhưng NNLS để phát triển KTS rất thiếu về số lượng. Theo một vài nghiên cứu cho rằng, với quy mô dân số 100 triệu, xếp thứ 15 thế giới, thứ 3 ASEAN và trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng, tỷ lệ dân số trẻ là thanh, thiếu niên từ 10 - 24 tuổi chiếm 21%, tương ứng 21 triệu người, cao nhất từ trước đến nay; tỷ lệ dân số từ 15 - 64 tuổi khoảng 67,4%, tương ứng 67,4 triệu người; tỷ lệ dân số dưới 15 tuổi và từ 65 tuổi trở lên khoảng 32,6%, tương ứng 32,6 triệu người[1]. Tuy nhiên, nguồn nhân lực cũng như NNLS, luôn trong tình trạng thiếu khi triển khai Chương trình CĐS quốc gia và Chiến lược quốc gia phát triển KTS, xã hội số (XHS). Theo đó, nguồn nhân lực đào tạo chuyên ngành liên quan tới CĐS, KTS tốt nghiệp hàng năm khoảng 65.000 người, nhưng vẫn rất thấp, nên Việt Nam đứng trước nguy cơ thiếu hụt nguồn nhân lực kỹ thuật cao để thực hiện CĐS, bất chấp nhu cầu tuyển dụng của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp ngày càng cao[2].

Qua thực tiễn cho thấy, phát triển KTS phải có NNLS, nhất là NNLS chất lượng cao để tiếp cận, làm chủ và khai thác công nghệ mới, CNS. Để CĐS, phát triển KTS, mỗi năm Việt Nam thiếu khoảng 90.000 NNLS, trong khi chương trình đào tạo ngành công nghệ thông tin chưa đáp ứng nhu cầu, nên nguồn nhân lực công nghệ thông tin thiếu hụt lớn; trong đó, doanh nghiệp phần mềm thuộc nhóm có tỷ lệ nguồn nhân lực thiếu nhiều nhất. Cụ thể: năm 2021, cần 450.000 nhân sự, thì nguồn nhân lực đáp ứng 430.000 người; năm 2022, con số này lên tới 150.000 nhân sự, trong khi nhu cầu của thị trường lao động (TTLĐ) cần tuyển dụng 530.000 người và năm 2023, thiếu khoảng một triệu lao động[3].

Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực, trong đó NNLS chiếm tỷ trọng cao, là yếu tố cấu thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi của quốc gia, song Việt Nam vẫn cần đầu tư nhiều hơn để nâng cao kỹ năng cho người lao động.Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đánh giá, mặc dù chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố cấu thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi của quốc gia, nhưng Việt Nam vẫn cần đầu tư nhiều hơn để nâng cao kỹ năng cho người lao động[4].

Bên cạnh đó, một bộ phận khá lớn người lao động chưa được tập huấn về kỷ luật lao động công nghiệp. Tình trạng thể lực của lao động Việt Nam chưa đáp ứng được cường độ làm việc và những yêu cầu trong sử dụng máy móc thiết bị theo tiêu chuẩn quốc tế[5]. Điều đó cho thấy, chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, nhất là kỹ năng lao động. Tuy đánh giá này chưa tách biệt giữa nguồn nhân lực nói chung với NNLS nói riêng, nhưng đây là kết quả nghiên cứu của ADB, khi Việt Nam đang tiến hành CĐS, phát triển KTS, nên kết quả này bảo đảm tính khách quan, khoa học và phản ánh khá rõ thực trạng nguồn nhân lực, trong đó có NNLS. Hạn chế này sẽ ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chương trình CĐS và chiến lược quốc gia phát triển KTS, xã hội số.

Theo Báo cáo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), những năm gần đây, tuy có những cải thiện, nhưng nguồn nhân lực vẫn xếp hạng thấp đến trung bình khá về chất lượng, nhất là lao động chuyên môn cao và năng lực sáng tạo trong nền KTS khi so sánh với thế giới. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tay nghề chỉ đạt 60%, vẫn còn có khoảng cách xa so với yêu cầu CĐS. Sự thiếu hụt nguồn nhân lực công nghệ thông tin về số lượng và chất lượng là một trong những thách thức lớn đối với sự phát triển của nền KTS[6].

Thứ ba, cơ cấu nguồn nhân lực, trong đó chủ yếu là NNLS chưa phù hợp, nhiều bất cập giữa ngành, lĩnh vực kinh tế và trình độ đào tạo. Khi đánh giá cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27/9/2019 khẳng định: Cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu. Trong đó:

(1) Về trình độ đào tạo: Tỷ lệ nguồn nhân lực được đào tạo chuyên môn, kỹ thuật còn thấp, điều đó đồng nghĩa với chất lượng nguồn nhân lực thấp. Đây là nguyên nhân chủ yếu làm cho năng suất lao động của Việt Nam thấp so với khu vực và thế giới. Theo Tổng cục Thống kê, quý IV/2023, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ là 27,6%, tăng 0,3% so với quý III/2023 và tăng 1,2% so với cùng kỳ năm 2022. Cả nước còn 38,0 triệu lao động chưa qua đào tạo chuyên môn, kỹ thuật. Như vậy, năm 2023, lực lượng lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ chuyên môn, kỹ thuật khoảng 14,1 triệu người, chiếm 27,0%, tăng 0,6% so với năm 2022và 73% chưa qua đào tạo. Đến quý I/2024, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ là 27,8%, tăng 0,2% so với quý IV/2023 và tăng 1,4% so với cùng kỳ năm 2023[7]. Như vậy, Việt Nam còn 37,8 triệu lao động chưa qua đào tạo, chiếm 72,14%, giảm 0,86% lực lượng lao động chưa qua đào tạo so với năm 2023. 72,14% lực lượng lao động chưa qua đào tạo là một thách thức lớn trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật của nguồn nhân lực nói chung, NNLS nói riêng.

(2) Về cơ cấu nguồn nhân lực ngành, lĩnh vực kinh tế: Ở Việt Nam hiện nay, cơ cấu nguồn nhân lực, nhất là NNLS theo ngành, lĩnh vực kinh tế thiếu hợp lý, nhiều bất cập; theo đó cơ cấu lao động theo 3 khu vực kinh tế chưa hợp lý, lao động làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm tỷ lệ cao, gần 30%, trong khi ở các nước phát triển, nguồn nhân lực này chỉ chiếm 3% - 4%[8]. Nguồn nhân lực ở một số ngành, lĩnh vực phi chính thức tăng nhanh, nhưng trình độ đào tạo thấp, kỹ năng của người lao động rất hạn chế. Đặc biệt, ở một số ngành, lĩnh vực kinh tế chủ yếu sử dụng CNS, như: ngân hàng, tài chính, thông tin, viễn thông, du lịch và công nghiệp mới thiếu hụt nguồn nhân lực trình độ cao, đó là NNLS. Mặt khác, trong cơ cấu nguồn nhân lực, tỷ lệ nhân lực kỹ thuật so với tổng số lao động chỉ đạt hơn 1% là tương đối thấp; trong khi chỉ số này ở Mỹ là 4%, ở Hàn Quốc là 2,5%, ở Ấn Độ là 1,78%[9].

Thứ tư, cung và cầu nguồn nhân lực, nhất là NNLS chưa đáp ứng yêu cầu TTLĐ hiện đại, linh hoạt, bền vững và hội nhập. Do tỷ lệ nguồn nhân lực qua đào tạo thấp, trình độ chuyên môn, kỹ năng, tay nghề chưa đạt yêu cầu nên khả năng cạnh tranh của TTLĐ Việt Nam rất hạn chế.

Mặt khác, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng chiếm tỷ trọng cao so với tổng số lao động có nhu cầu làm việc. Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng cho thấy sự lệch pha giữa cung và cầu trên TTLĐ; phản ánh tình trạng cung lớn hơn cầu lao động. Năm 2023, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là 4,3% với 2,3 triệu, giảm 0,3 triệu so với năm 2022; đa số lao động không sử dụng hết tiềm năng là lực lượng trẻ, từ 15 - 34 tuổi chiếm 49,3%, cao hơn so với tỷ trọng lao động nhóm tuổi này trong lực lượng lao động (31,3%)[10]. Số liệu trên cho thấy, TTLĐ ở Việt Nam nói chung, cung và cầu nguồn nhân lực nói riêng, chưa có nhiều chuyển biến về chất lượng.

- Một số vấn đề đặt ra cần giải quyết trong thực trạng NNLS:

Một là, đào tạo, phát triển NNLS trong các tổ chức, cơ quan nhà nước và hệ thống chính trị còn hạn chế, thiếu đồng bộ từ Trung ương đến địa phương; trong đó, nhiều tổ chức, cơ quan chưa quan tâm đến đào tạo, phát triển NNLS đáp ứng yêu cầu CĐS, phát triển KTS.

Hai là, còn thiếu nguồn nhân lực có kiến thức, kỹ năng, làm chủ công nghệ mới, nhất là CNS ở các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, tự động hóa hay Blockchain.

Ba là, nguồn nhân lực nói chung, nhất là NNLS thiếu các kỹ năng cần thiết để khai thác, sử dụng CNS nhằm hoàn thành mục tiêu Chương trình CĐS quốc gia và Chiến lược quốc gia phát triển KTS và xã hội số giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030.

Bốn là, số lượng cơ sở đào tạo nguồn nhân lực số tuy nhiều, nhưng quy mô còn nhỏ, cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên thiếu về số lượng, chất lượng thấp, nên chất lượng sinh viên tốt nghiệp không chỉ thiếu kỹ năng số, mà còn thiếu kỹ năng mềm, tiếng anh, tư duy mở, kỹ năng tự học, kỹ năng làm việc nhóm... phải đào tạo lại hoặc chuyển nghề, gây lãng phí lớn đến nguồn lực xã hội.

Năm là, Việt Nam còn một bộ phận không nhỏ lực lượng lao động tiềm năng chưa được khai thác, trong đó đa số lao động không sử dụng hết tiềm năng là những người từ 15 - 34 tuổi.

Sáu là, cung lao động còn nhiều bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng cầu lao động của một TTLĐ hiện đại, linh hoạt, bền vững và hội nhập khi ở Việt Nam có khoảng 38 triệu người lao động chưa qua đào tạo từ sơ cấp trở lên.

Bảy là, xu hướng lao động có việc làm tăng, nhưng chất lượng TTLĐ chưa được cải thiện đáng kể khi số lực lượng lao động phi chính thức làm các công việc bấp bênh, thiếu tính ổn định chiếm tỷ trọng lớn, khoảng 3/5 tổng số lực lượng lao động có việc làm hiện nay.

2. Kiến nghị một số giải pháp

Ở Việt Nam KTS là một trong ba trụ cột của Chương trình CĐS quốc gia, song đang gặp không ít thách thức; trong đó, lớn nhất là NNLS chưa đáp ứng yêu cầu. Do đó, phát triển NNLS là vấn đề cần thiết đặt ra từ thực tiễn, đòi hỏi phải có giải pháp phù hợp. Để NNLS đáp ứng yêu cầu phát triển KTS cần ưu tiên đầu tư phát triển NNLS cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, cần có cơ chế, chính sách ưu đãi, thu hút, khuyến khích tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp công nghệ mới, CNS tham gia đào tạo, phát triển NNLS nhằm tạo ra NNLS chất lượng cao; thu hút chuyên gia CNS người nước ngoài làm việc tại Việt Nam thông qua cơ chế, chính sách hỗ trợ kinh phí, tạo thuận lợi về thủ tục xuất, nhập cảnh; phát triển mạng lưới kết nối nhân tài, thu hút sự tham gia đóng góp của các nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài; vận động đội ngũ trí thức tài năng là người Việt Nam ở  nước ngoài tham gia hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập.

Thứ hai, đẩy mạnh và đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục bằng nhiều hình thức phong phú, thiết thực, phù hợp với từng chủ thể trong hệ thống chính trị,nhất là cấp uỷ, cán bộ chủ trì các cấp từ Trung ương đến địa phương và các tổ chức kinh tếnhằm nâng cao nhận thức về sự cần thiết, tầm quan trọng của phát triển NNLS, coi đó là nhiệm vụ trọng tâm “được đặt ở mức ưu tiên cao trong các chiến lược phát triển quốc gia”[11], vừa là nhiệm vụ của hệ thống chính trị, vừa là mục tiêu cơ bản trong Chương trình CĐS quốc gia và Chiến lược quốc gia phát triển KTS, XHS.

Thứ ba, thường xuyên, rà soát, kịp thời điều chỉnh, bổ sung, ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến phát triển KTS, NNLS bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất, tránh chồng chéo theo hướng làm rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm các chủ thể trực tiếp tham gia quá trình đào tạo, phát triển NNLS, nhất là vai trò Nhà nước kiến tạo phát triển giáo dục, đào tạo[12].

Thứ tư, tăng cường gắn kết giữa cơ sở giáo dục đại học và người sử dụng lao động; khuyến khích, hỗ trợ hình thức hợp tác giữa cơ sở giáo dục đại học, tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia đào tạo, phát triển NNLS; trong đó, cơ quan nhà nước là cầu nối giữa các cơ sở giáo dục đại học với người sử dụng lao động trong xây dựng chương trình đào tạo NNLS theo yêu cầu của TTLĐ với mục tiêu kép, vừa bổ sung nguồn nhân lực kỹ thuật từ các cơ sở giáo dục đại học cho doanh nghiệp, vừa gia tăng cơ hội cho sinh viên thực tập, làm việc thực tế thông qua các chương trình phối hợp với cơ quan, đơn vị, tập đoàn, doanh nghiệp để hỗ trợ sinh viên thăm quan, thực tập ngắn hạn, trên cơ sở đó rèn kỹ năng nghề nghiệp và định hướng tốt hơn cho công việc sau khi tốt nghiệp.

Thứ năm, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, thực chất về chất lượng đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ ở các cơ sở giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nhất là NNLS theo Quyết định số 69/QĐ-TTg, ngày 15/01/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án nâng cao chất lượng giáo dục đại học giai đoạn 2019 - 2025, góp phần nâng cao chất lượng NNLS và năng suất lao động, thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, tăng cường năng lực cạnh tranh của quốc gia trong khu vực và trên thế giới trong quá trình phát triển KTS.

Thứ sáu, đổi mới nội dung, chương trình, mô hình dạy và học tiên tiến theo hướng phát triển năng lực tiếp cận, tư duy sáng tạo và khả năng thích ứng với môi trường công nghệ liên tục thay đổi và phát triển của người học; lấy đánh giá của người sử dụng lao động làm thước đo chất lượng đào tạo đối với các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin, CNS; khuyến khích mô hình giáo dục và đào tạo dựa trên nền tảng số;đa dạng hóa chương trình đào tạo, bồi dưỡng đối với lao động đã tốt nghiệp đại học trở lên theo nhu cầu TTLĐ; đưa nội dung kỹ năng số và ngoại ngữ tối thiểu vào chương trình giáo dục phổ thông.

Thứ bảy, mở rộng liên kết, hợp tác quốc tế nhằm trao đổi, học tập, chia sẻ kinh nghiệm và tranh thủ sự giúp đỡ của các nước, các tổ chức quốc tế, các cơ quan nghiên cứu quốc tế có uy tín về phát triển KTS, NNLS; khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam triển khai các chương trình liên kết, hợp tác đào tạo, trao đổi giảng viên, học viên, sinh viên với cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu trên thế giới về CĐS, CNS, kỹ năng số; khuyến khích việc học tập và nghiên cứu ở nước ngoài bằng nguồn kinh phí ngoài ngân sách nhà nước.

Thứ tám, tăng cường tổ chức các khoá đào tạo, đào tạo lại, đào tạo ngắn hạn, bồi dưỡng, tập huấn về CĐS, CNS, kỹ năng số cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ làm công tác tham mưu CĐS, phát triển KTS, công chức, viên chức và người lao động trong các tổ chức, cơ quan thuộc hệ thống chính trị từ trung ương đến xã, phường, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp tư nhân triển khai các chương trình đào tạo, đào tạo lại, đào tạo ngắn hạn, bồi dưỡng, tập huấn về CĐS, kỹ năng số cho người lao động trong các tổ chức, doanh nghiệp của mình.

ThS. Nguyễn Tiến Đạt

Báo Quân đội nhân dân

[1]https://vnbusiness.vn/viet-nam/viet-nam-con-khoang-10-nam-dan-so-vang-can-lam-gi-de-tan-dung-co-hoi-1097661.html.

[2] Đinh Thị Thanh Long (2023), Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình CĐS,Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 16, tháng 6/2023.

[3] Đinh Thị Thanh Long (2023), Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình CĐS,Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 16, tháng 6/2023.

[4]https://vov.vn/kinh-te/viet-nam-co-the-lot-vao-nhom-5-nen-kinh-te-phat-trien-nhanh-nhat-chau-a-post1089302.vov#.

[5] https://daidoanket.vn/dan-so-viet-nam-100-trieu-nguoi-co-hoi-va-thach-thuc-bai-cuoi-lam-gi-de-phat-huy-loi-the-dan-so-vang-10248799.html.

[6] Nguyễn Văn Thành (2020), Vai trò của Chính phủ điện tử trong quá trình xây dựng nền kinh tế số Việt Nam,Tạp chí Công Thương, số 19, tháng 8/2020.

[7] Tổng cục Thống kê (2024), Tình hình lao động, việc làm làm quý I năm 2024.

[8] https://nhandan.vn/phat-huy-loi-the-cua-thoi-ky-co-cau-dan-so-vang-post749254.html, ngày 23/04/2023.

[9] Đinh Thị Thanh Long (2023), Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình CĐS,Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 16, tháng 6/2023.

[10] Tổng cục Thống kê (2023), Tình hình lao động, việc làm năm 2023

[11] Thủ tướng Chính phủ (2022), Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 Phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

[12] Đó là: Xây dựng chiến lược, tạo dựng môi trường, thúc đẩy phát triển giáo dục, đào tạo; Dự báo, cung cấp thông tin và bảo đảm cân đối vĩ mô trong phát triển giáo dục, đào tạo; Thiết lập công cụ quản lý, hướng dẫn, thu hút đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo; thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch trong quản lý phát triển giáo dục, đào tạo.