Việt Nam với việc phát triển công nghiệp điện tử nhằm tham gia sâu vào chuỗi giá trị điện tử
Trong nền kinh tế Việt Nam, công nghiệp điện tử là ngành công nghiệp trọng yếu chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Mặc dù được đánh giá là ngành công nghiệp mũi nhọn và đạt được một số thành tựu trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đóng vai trò lớn trong xuất khẩu, nhưng thực tế, ngành điện tử Việt Nam vẫn đang dừng ở giai đoạn đầu.
1. Một số kết quả đạt được
Những năm qua, ngành công nghiệp điện tử của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng khá nhanh qua các năm. Đến năm 2023, tổng doanh thu ngành công nghiệp điện tử Việt Nam ước đạt khoảng 129,22 tỷ USD (Bảng 1), chiếm tỷ trọng 17,8% toàn ngành công nghiệp vàđưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu điện tử lớn thứ 11 thế giới. Doanh thu của ngành có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ, bình quân giai đoạn 2010 - 2023 đạt 29,83%/năm. Các sản phẩm chính của công nghiệp điện tử Việt Nambao gồm: linh kiện điện tử, điện thoại nguyên chiếc, linh kiện điện thoại, ti vi lắp ráp, máy tính bảng, ipad và máy vi tính.
Cùng với doanh thu, số lượng doanh nghiệp trong ngành công nghiệp điện tử cũng ngày càng tăng, từ 1,27 nghìn doanh nghiệp hoạt động năm 2010 lên 5,7 nghìn doanh nghiệp năm 2023. Bảng 2 cho thấy, sự tăng trưởng về số lượng doanh nghiệp kéo theo tăng trưởng lao động trong ngành công nghiệp điện tử. Tính đến năm 2023, Việt Nam có 1 triệu lao động làm việc trong ngành công nghiệp điện tử, chiếm khoảng 8,1% tổng số lao động của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.
Công nghiệp điện tử Việt Nam là ngành có kim ngạch xuất khẩu đứng đầu trong lĩnh vực chế biến chế tạo trong hơn 10 năm qua. Bảng 3 cho thấy, tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành công nghiệp điện tử năm 2022 đạt hơn 133,6 tỷ USD, chiếm hơn 30% tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Đặc biệt, kim ngạch xuất khẩu ngành công nghiệp điện tử giai đoạn 2010-2023 có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ, bình quân đạt 29,58%/năm.
2. Đánh giá của công cụ phân tích chiến lược kinh doanh(SWOT) đối với chuỗi cung ứng sản phẩm điện tử của Việt Nam
- Điểm mạnh(S)
S1: Lực lượng lao động dồi dào và có kỹ năng.Việt Nam có lực lượng lao động dồi dào và thời kỳ dân số vàng này dự kiến kéo dài đến năm 2039. Việt Nam cũng nằm trong danh sách các quốc gia có số lượng sinh viên tốt nghiệp kỹ sư cao nhất thế giới, đây là những lao động trẻ có kiến thức kỹ thuật cao gia nhập vào nguồn lao động khoa học, công nghệ[1].
Bên cạnh đó, Việt Nam hiện đang có những đơn vị nghiên cứu, đào tạo uy tín trong lĩnh vực bán dẫn, như: Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Thành phốHồ Chí Minh, Đại học Đà Nẵng, Đại học Bách khoa Hà Nội, cùng các doanh nghiệp lớn có nguồn lực và sẵn sàng hợp tác phát triển ngành bán dẫn là Viettel, VNPT, FPT, CMC.
S2: Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp điện tử, nhất là trong thế cạnh tranh gay gắt của ngành công nghệ thế giới.Trước xu hướng chuỗi giá trị ngành công nghiệp điện tử, công nghệ bán dẫn đang dần dịch chuyển sang các nước Đông Nam Á, Việt Nam có đầy đủ điều kiện và yếu tố cần thiết để phát triển công nghiệp điện tử, công nghiệp bán dẫn. Về vị trí, Việt Nam nằm ở trung tâm của Đông Nam Á giúp dễ dàng kết nối với các thị trường lớn trong khu vực như: Singapore, Malaysia, Thái Lan và Indonesia. Điều này làm Việt Nam trở thành điểm lý tưởng để thiết lập cơ sở sản xuất, phân phối trong lĩnh vực điện tử cho khu vực. Ngoài ra, với vị trí địa lý tiếp giáp với Trung Quốc và gần Ấn Độ - 2 thị trường lớn với nhu cầu cao về công nghệ, Việt Nam có thể tận dụng để mở rộng xuất - nhập khẩu và thu hút đầu tư từ các công ty quốc tế muốn tiếp cận những thị trường này.
S3: Chính phủ Việt Nam đã xây dựng nhiều chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp điện tử.Việt Nam đã ban hành mức thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi 10% trong 15 năm, áp dụng các khoản cho đầu tư vào cả nghiên cứu và xây dựng cơ sở vật chất cho các lĩnh vực công nghệ cao, trong đó lĩnh vực điện tử, điện tử bán dẫn. Việt Nam cũng cho phép các công ty và tổ chức nghiên cứu xây dựng cơ sở nghiên cứu khoa học được miễn thuế tài sản (tiền thuê đất) trong toàn bộ thời gian thuê nếu cơ sở này được sử dụng để nghiên cứu, ươm mầm khởi nghiệp…Các bộ ngành, chính quyền địa phương của Việt Nam cũng khuyến khích các công ty nước ngoài thiết lập các chương trình nghiên cứu chung với các tổ chức địa phương. Ngoài ra, để khuyến khích các công ty thuê kỹ sư Việt Nam, thuế giá trị gia tăng (VAT) tiêu chuẩn 10% đối với dịch vụ được giảm xuống còn 5% đối với các hoạt động khoa học trong lĩnh vực công nghệ cao, như điện tử, vi mạch bán dẫn. Các hoạt động đủ điều kiện bao gồm từ nghiên cứu đến tư vấn chuyển giao công nghệ và đào tạo kỹ thuật.
- Điểm yếu (W)
W1: Các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam có quy mô nhỏ, số lượng ít và năng lực cung ứng không mạnh. Xuất khẩu hàng điện tử của Việt Nam được định vị ở phần giá trị gia tăng thấp của chuỗi giá trị toàn cầu. Điều này có nghĩa, các nhà cung cấp Việt Nam ở phần cuối của chuỗi cung ứng, chỉ sản xuất linh kiện đầu vào bậc thấp, sản xuất lắp ráp một số sản phẩm đơn giản. Trong khi đó, các khâu quan trọng của chuỗi sản xuất như: R&D (nghiên cứu và phát triển), thiết kế, logistics, tiếp thị, bán hàng… đều thuộc về các doanh nghiệp FDI.
W2: Ngành công nghiệp điện tử của Việt Nam hiện vẫn là ngành chiếm dụng lao động. Điều này đi ngược với đặc tính của ngành công nghiệp điện tử của các nước lớn trên thế giới khi ngành công nghiệp điện tử là ngành đòi hỏi lao động có trình độ khoa học kỹ thuật cao. Phần lớn các công việc trong ngành điện tử Việt Nam được xếp vào nhóm có kỹ năng trung bình.
Theo báo cáo củaTổ chức Lao động quốc tế năm 2023[2], lao động ngành điện tử ở Việt Nam tương ứng với cấp độ kỹ năng 2[3] chiếm 72,03% lao động toàn ngành, nhà chuyên môn bậc cao là các chuyên gia tương ứng với cấp độ kỹ năng 3 và 4 chiếm khoảng 6% lao động của ngành. Với mức độ kỹ năng công việc như vậy, thì việc áp khoa học kỹ thuật hiện đại và dịch chuyển lên các khâu có giá trị gia tăng cao hơn trong ngành điện tử sẽ khó khăn.
W3: Việt Nam chưa có viện nghiên cứu hoặc chuyên gia về máy móc, linh kiện hay các công nghệ then chốt.
- Cơ hội (O)
O1: Khả năng xuất khẩu hànghóa công nghệ thông tin, linh kiện điện tử Việt Nam đang tăng cao. Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế gới (WTO) và một loạt hiệp định thương mại tự do[4]cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp ngành công nghiệp điện tử đưa các sản phẩm vươn ra khu vực và thế giới.
O2: Với một thị trường rộng lớn, nền kinh tế liên tục tăng trưởng khả quan, cùng với hệ thống chính trị ổn định, Việt Nam ngày càng trở thành điểm thu hút đầu tư lý tưởng của các tập đoàn lớn về công nghệ thông tin trên thế giới.
O3: Giá các sản phẩm điện tử, công nghệ, viễn thông sẽ giảm nhiều khi gỡ bỏ hàng rào thuế quan và đây cũng là động lực phát triển công nghiệp điện tử, công nghệ, công nghiệp sản xuất thiết bị viễn thông.
O4: Cơ hội đưa Việt Nam trở thành “Công xưởng thứ hai của Thế giới” khi một loạt tập đoàn điện tử, công nghệ tuyên bố rút lui khỏi thị trường Trung Quốc, chuyển sang khu vực Đông Nam Á. Sự quan tâm và tăng cường đầu tư của 3 quốc gia hàng đầu về công nghiệp điện tử là Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc sẽ tạo đà kéo theo nhiều nhà đầu tư khác tham gia vào phát triển công nghiệp điện tử ở Việt Nam.
- Thách thức (T)
T1: Năng lực R&D của doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế. Chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam chỉ đứng thứ 46/132 quốc gia, trong đó chỉ số về nguồn nhân lực và nghiên cứu chỉ đứng thứ 71/132 quốc gia; chỉ số đầu ra về sản phẩm tri thức và công nghệ chỉ đứng thứ 48/132 quốc gia[5]. Tại khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đứng thứ 4 sau Singapore, Malaysia và Thái Lan.
Để phát triển ngành công nghiệp điện tử, công nghệ cao, các quốc gia hàng đầu trong ngành như: Mỹ, Hàn Quốc và Đài Loan đã đầu tư lớn vào R&D, điều đó giúp họ dẫn đầu về công nghệ và đổi mới. Trong khi tại Việt Nam, mức đầu tư cho hoạt động R&D còn khá thấp. Theo Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia (2022), tổng chi quốc gia cho R&D của Việt Nam năm 2021 là 36.066 tỷ đồng, chỉ bằng 0,42% GDP, trong đó ngân sách Nhà nước là 11.137,9 tỷ đồng (chiếm hơn 30%), nguồn ngoài nhân sách Nhà nước chiếm gần 70%. Con số này thấp hơn rất nhiều so với các nước phát triển như Mỹ (chi trung bình 2,8% GDP cho hoạt động R&D), Trung Quốc (chi tương đương 2,4% GDP cho hoạt động R&D), Hàn Quốc (chi 4,2% GDP cho R&D), Nhật Bản (chi 3,58% GDP cho R&D). Điều này làm hạn chế phát triển sản phẩm mới, cải tiến công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh.
T2: Thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao. Việt Nam chưa có đội ngũ nhân lực đủ mạnh để đón đầu công nghệ, trong khi nguồn nhân lực chuyên môn cao đang bị thu hút sang các công ty xuyên quốc gia. Nhu cầu nhân lực công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông của Việt Nam khoảng 150.000 kỹ sư/năm, nhưng hiện mới đáp ứng được 40%-50%. Trong đó, riêng nhu cầu nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn là 5.000-10.000 kỹ sư/năm, song khả năng đáp ứng chưa đến 20%[6].
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo[7], Việt Nam có khoảng 160 trường đại học có chuyên ngành đào tạo về công nghệ, kỹ thuật, với số lượng đào tạo ngành kỹ thuật mỗi năm vào khoảng 134.000 sinh viên. Tuy nhiên, tỷ lệ sinh viên của 4 khối ngành STEM bao gồm: Khoa học (Science), Công nghệ (Technology), Kỹ thuật (Engineering), Toán học (Mathematic) chỉ đạt khoảng 55 người/vạn dân (bằng 29% trên tổng số sinh viên đang theo học) thấp hơn nhiều so với các quốc gia phát triển. Trong đó, số lượng sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành bán dẫn của các trường đại học kỹ thuật tại Việt Nam chỉ khoảng 1.400 người mỗi năm, chỉ bằng 1% tổng chỉ tiêu sinh viên đầu vào ngành kỹ thuật hằng năm. Như vậy, hệ thống giáo dục và đào tạo của Việt Nam chưa hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động trong lĩnh vực công nghệ và R&D. Sự kết nối giữa giáo dục với nhu cầu thực tế của ngành công nghiệp còn hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng của nguồn nhân lực cho phát triển ngành công nghiệp điện tử.
T3: Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay còn yếu. Điều này thể hiện rõ ở quy mô vốn nhỏ, kinh nghiệm quản lý kinh doanh, công nghệ kỹ thuật, trình độ cán bộ, công nhân lao động, kỹ sư còn yếu, năng suất lao động thấp.
T4: Cạnh tranh quốc tế ngành càng gia tăng. Khi hội nhập, các nhà đầu tư nước ngoài chủ yếu quan tâm vào lĩnh vực dịch vụ trong ngành công nghiệp điện tử như thiết kế…, màít có doanh nghiệp quan tâm tới sản xuất thiết bị. Các nhà sản xuất trong nước vẫn có cơ hội phát triển. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp phải thách thức lớn nhất là cạnh trạnh về giá với hàng nhập khẩu. Khi tham gia vào các hiệp định tự do, thuế nhập khẩu thiết bị toàn bộ chỉ ngang bằng hoặc thấp hơn nhập linh kiện, chưa kể đến những thách thức khi Việt Nam tham gia Hiệp định Công nghiệp thông tin mở rộng, do vậy lợi nhuận sản xuất công nghiệp còn rất thấp.
T5: Hạ tầng của Việt Nam chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành công nghiệp điện tử, đặc biệt là hạ tầng năng lượng điện. Nguồn năng lượng điện của Việt Nam chưa đáp ứng đủ nhu cầu phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Khu vực miền Bắc Việt Nam vẫn còn hiện tượng thiếu điện.
Ngoài ra, cơ sở hạ tầng logistics để hỗ trợ ngành công nghiệp điện tử còn nhiều hạn chế. Hạ tầng giao thông ở Việt Nam thiếu sự kết nối và đồng bộ. Các tuyến đường bộ chật hẹp, quá tải, đặc biệt là ở các độ thị lớn và các tuyến kết nối trọng yếu giữa các vùng miền đã gây cản trở lưu thông và tăng chi phí vận chuyển.
3. Giải pháp
Để công nghiệp điện tử của Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trịtrong thời gian tới, cần thực hiện tốt một số nội dung sau:
Một là, tiếp tụcrà soát và bổ sung các chính sách ưu đãi để khuyến khích, thu hút đầu tư vào sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Rà soát, bổ sung và hoàn chỉnh các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ngành công nghiệp điện tử. Trên cơ sở đó, xây dựng quy định áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật này trong sản xuất nhằm nâng cao chất lượng và đảm bảo uy tín của sản phẩm công nghiệp hỗ trợ trong ngành công nghiệp điện tử Việt Nam.
Cần có chính sách ưu đãi đầu tư để khuyển khích, thu hút đầu tư vào sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ngành công nghiệp điện tử giúp thúc đẩy nhanh việc khép kín chuỗi cung ứng trong nước, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh, khả năng tự chủ và chống chịu của ngành công nghiệp điện tử trong nước.
Hai là, tiếp tục triển khai các chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực công nghệ thông qua các chương trình tài trợ nghiên cứu, hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ từ trường, viện nghiên cứu cho các doanh nghiệp trong nước trong lĩnh vực điện tử. Xây dựng các chương trình liên kết, kênh thông tin giữa các doanh nghiệp quốc tế với các doanh nghiệp hỗ trợ trong nước nhằm góp phần tích cực đẩy mạnh đầu tư và chuyển giao công nghệ, mô hình quản lý, nghiên cứu sản phẩm hỗ trợ trong ngành công nghiệp điện tử.
Ba là, có chính sách thu hút, đãi ngộ, trọng dụng các chuyên gia, nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là tại các quốc gia có nền công nghiệp điện tử phát triển về làm việc tại các doanh nghiệp, trường, viện trong nước; hỗ trợ các hoạt động hợp tác đào tạo, nghiên cứu với sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài để đẩy nhanh quá trình chuyển giao tri thức, kinh nghiệm vào trong nước.
Ngoài ra, khuyến khích áp dụng mô hình đào tạo liên kết 3 bên (doanh nghiệp - viện, trường - cơ quan quản lý nhà nước) để đào tạo nguồn nhân lực tay nghề cao theo yêu cầu của doanh nghiệp.
Bốn là, có chính sách ưu đãi đầu tư để khuyến khích, thu hút đầu tư xây dựng các trung tâm nghiên cứu, phát triển, sản xuất thử nghiệm, kiểm thử và kiểm định trong lĩnh vực điện tử phục vụ các doanh nghiệp khởi nghiệm và doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước trong việc nghiên cứu, phát triển, sản xuất thử, kiểm thử và kiểm định các sản phẩm điện tử.
Năm là, để có thể cạnh tranh về giá trong giai đoạn đầu thâm nhập thị trường, Chính phủ cần thiết kế một hệ thống các chính sách hỗ trợ tín dụng, ưu đãi thuế, ưu đãi giá mua trong khuôn khổ các dự án mua sắm công đối với các sản phẩm mang thuơng hiệu Việt Nam, hỗ trợ xây dựng thương hiệu và thúc đẩy tiêu dùng trong nước thông qua các chiến dịch như “Người Việt dùng sản phẩm Việt”.
ThS. Nguyễn Văn Trung
[1]Theo Đề án phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, dự kiến đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu đào tạo thêm 50.000 kỹ sư bán dẫn. Do đó, có thể nói Việt Nam đang và sẽ có lực lượng lao động phục vụ cho ngành công nghiệp điện tử.
[2]ILO (2023), Chuỗi cung ứng điện tử Việt Nam: Thách thức và Cơ hội đối với việc làm thỏa đáng.
[3]Cấp độ kỹ năng thường được thông qua việc hoàn thành giáo dục trung học cơ sở.
[4]CPTPP, RCEP, EVFTA…
[5]WIPO (2023), Global Innovation Index 2023.
[6]Bộ Thông tin và Truyền thông (2023), Sách trắng Công nghệ thông tin - Truyền thông Việt Nam năm 2023.
[7]Bộ Giáo dục và Đào tạo (2023), Tọa đàm lấy ý kiến góp ý dự thảo quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
