Xung quanh vấn đề Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu hiện nay

Khi một quốc gia trở thành một phần trong chuỗi cung ứng toàn cầu không chỉ giúp nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp, tăng thu hút đầu tư nước ngoài, tạo ra nhiều việc làm mới…, mà còn tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Chuỗi cung ứng toàn cầu bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến việc cung cấp, sản xuất, và phân phối một sản phẩm hoặc dịch vụ từ nhà cung cấp đầu tiên đến người tiêu dùng cuối cùng trên phạm vi toàn cầu. Chuỗi cung ứng toàn cầu được tổ chức với quy trình khá phức tạp, từ khâu sản xuất, lưu kho, phân phối, vận tải cho đến bán lẻ. Một quốc gia muốn tham gia có hiệu quả, nâng cao vị trí trong chuỗi cung ứng toàn cầu đòi hỏi phải hội đủ một số yếu tố nền tảng quan trọng, đáng chú ý là: nguồn lực tài chính, nguồn nhân lực chất lượng cao, năng lực quản trị toàn diện, năng lực công nghệ, năng lực cạnh tranh, và năng lực về tuân thủ theo quy chuẩn quốc tế. Trong bối cảnh có sự dịch chuyển và tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ, Việt Nam đang sở hữu nhiều yếu tố thuận lợi, và trên thực tế đã đạt được một số kết quả khả quan.

Làn sóng chuyển dịch chuỗi cung ứng đã có những tác động lớn đến Việt Nam

1. Một số kết quả đạt được trong việc tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu của Việt Nam

Trong những năm qua, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam liên tục tăng cao. FDI luôn đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam kể từ khi mở cửa. Mặc dù chịu nhiều ảnh hưởngtiêu cực của dịch bệnh Covid-19 và trong bối cảnh đầu tư toàn cầu suy giảm, lượng vốn FDI đổ vào Việt Nam vẫn ở mức cao. Nhiều tập đoàn côngnghệ hàng đầu dẫn dắt kinh tế thế giới đã đến Việt Nam tìm hiểu cơ hội đầu tư. Điều này cho thấy niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài vào môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.

Theo báo cáo của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triểnUNCTAD (2021), năm 2020 với tổng số vốn mới 16 tỷ USD, Việt Nam đã trở thành điểm sáng trong thu hút sự chuyển dịch dòng vốnFDI, và lần đầu tiên lọt vào top 20 nước dẫn đầu thế giới về thu hút FDI. Cũng trong năm 2020, Việt Nam là một trong các trung tâm đón đầu làn sóng chuyển dịch đầu tư từ Trung Quốc trong bối cảnh các doanh nghiệp trên thế giới đang đẩy nhanh quá trình đa dạng chuỗi cung ứng. Năm 2021, mặc dù đang trong “vòng xoáy” của dịch Covid-19, vốn FDI đổ vào Việt Nam vẫn đạt hơn 31,1 tỷ USD,tăng 9,2% so với năm 2020[1].

Năm 2022, các nhà đầu tư nước ngoài đã rót vào Việt Nam gần 28 tỷ USD, và đã giải ngân gần 22,4 tỷ USD, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm 2021. Mặc dù đây tuy không phải là mức tăng cao nhất trong năm so với cùng kỳ, song là tínhiệu tốt cho thấy các  doanh nghiệp  đang dần phục hồi, duy trì và mở rộng hoạtđộng sản xuất- kinh doanh sau đại dịch.

Bước sang năm 2023, việc thu hút được 36,6 tỷ USD vốn FDI đăng ký cho thấy Việt Nam tiếp tục là điểm đến an toàn, hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài[2]. Rõ ràng, sự gia tăng vững chắc của FDI càng củng cố hơn nữa vaitrò của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu, cho thấy các nhà đầu tư nướcngoài đang đặt niềm tin rất lớn vào mắt xích Việt Nam trong chuỗi cung ứng này.

Trong giai đoạn gần đây, Việt Nam cũng đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn của nhiều nhà đầu tư lớn. Đặc biệt từ năm 2021, nhiều dự án lớn của các công ty đa quốc gia liên tiếp được ký kết. Điển hình như công ty Foxconn của Đài Loan[3] đã quyết định mở rộng quy mô sản xuất sang Việt Nam; Lego của Đan Mạch đã đầu tư hơn 1 tỷ USD tại Bình Dương để sản xuất đồ chơi gợi trí tưởng tượng cho trẻ em; Amkor Technology của Mỹ đầutư 1,6 tỷ USD sản xuất chip bán dẫn tại Bắc Ninh… Những công ty đa quốc gia đang hoạt động ở Việt Nam gần đây cũng đã quyết định mở rộng đầu tư[4]. Tập đoàn Samsung đã liên tục tăng vốn đầu tư[5]. Một trường hợp điển hình khác là nhà đầu tư Runergy PVTechnology Co., Ltd, chỉ không lâu sau khi nhận giấy chứng nhận đăng ký đầu tư dự án 293 triệu USD vào Khu công nghiệp Hoàng Mai I (Nghệ An), Công ty này đã quyết định tăng vốn đầu tư lên 440 triệu USD để nâng công suất thêm 24.255tấn thanh silic/năm và 1.515 triệu tấm đĩa bán dẫn/năm. Thời gian tới, nếu mọi việc thuận lợi, Runergy sẽ nâng tổng vốn đầu tư tại Việt Nam lên 1,2-1,4 tỷ USD.

Quang cảnh Diễn đàn “Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam”.

Việc gia nhập các hiệp định thương mại tự do (FTA) và khai thác tối đa lợi thế từ các FTA đã thúc đẩy tăng trưởng xuất, nhập khẩu. Đặc biệt, việc gia nhập EVFTA đã góp phần đưa tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam tới những thịtrường có cảng biển, hoặc là trung tâm phân phối của châu Âu[6]. Trong năm 2023, cán cân thương mại thặng dư 28 tỷ USD, vượt xa con số 11,2 tỷ USD của năm 2022, và ghi dấu ấn xuất siêu 8 năm liên tiếp.

Tham gia các FTA, đặc biệt là EVFTA đã giúp Việt Nam tiếp cận công nghệ tiên tiến từ các quốc gia ở châu Âu. Tăng cường nhập khẩu máy móc, thiết bị và công nghệ hiện đại đã đóng góp vào quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đấtnước, giúp tiêu chuẩn các sản phẩm tăng cao hơn và tăng khả năng gia nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam trên thị trườngthế giới[7]. Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm 30 nước, vùng lãnh thổ có trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa lớn nhất trên phạm vi toàn cầu,trở thành một trung tâm sản xuất hàng đầu trong khu vực.

Năm 2023 cũng đã mở ra nhiều cơ hội thu hút đầu tư cho Việt Nam trong lĩnh vực bán dẫn khi một số doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực bán dẫn đã đến Việt Nam để tìm hiểu về cơ hội hợp tác đầu tư.

Bên cạnh những kết quả khả quan đã được trong thời gian qua. Tuy nhiên, Việt Nam cũng phải đối diện với những thách thức khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, đó là:

Một là, những hạn chế của các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng vẫn còn nhiều. Phần lớn doanh nghiệp chưa có định hướng rõ ràng khi tham gia chuỗi. Các doanh nghiệp mới chỉ tập trung giải quyết những khía cạnh thuộc “phần ngọn” hơn là tập trung giải quyết các khía cạnh tiền đề, thuộc vềnăng lực nền tảng, tạo tác động dài hạn, như: xây dựng, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, làm chủ công nghệ, cải thiện năng lực quản trị, đổi mới sáng tạochất lượng sản phẩm..., nhằm nâng cao khả năng tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Ước tính có khoảng 2/3 doanh nghiệp Việt Nam chưa chuẩn bị sẵn sàng,chưa có hành động cụ thể để tham gia chuỗi cung ứng; nhiều doanh nghiệp còn gặp khó khăn về nguyên liệu, máy móc, nhân công đầu vào…

Hai là, thể chế và môi trường pháp lý của Việt Nam tuy khá đầy đủ nhưng nội dung còn tồn tại một số hạn chế; chưa xóa bỏ, xử lý kịp thời các văn bản quy phạmpháp luật vì lợi ích ngành, lợi ích nhóm, lợi ích địa phương. Một bộ phận cán bộ,công chức trong bộ máy quản lý chưa nâng cao tinh thần trách nhiệm, còn đùnđẩy, né tránh, chậm triển khai thực hiện các chính sách, giải pháp, vô cảm vớinhững khó khăn của doanh nghiệp và người dân là điểm nghẽn, cản trở quá trìnhthực hiện chính sách, cản trở hoạt động của doanh nghiệp.

Ba là, môi trường đầu tư của Việt Nam hiện còn một số hạn chế chưa được khắc phục[8]. Năng lực của khu vực doanh nghiệp trong nước, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ là trở ngạilớn để thu hút chuỗi cung ứng của các tập đoàn công nghệ vào Việt Nam, cũng như hạn chế khả năng Việt Nam tham gia vào các công đoạn cao trong mạng lưới sản xuất toàn cầu. Công nghiệp phụ trợ và nội lực của các ngành sản xuất trong nước còn hạn chế, nhiều ngành kinh tế chưa tự chủ được các yếu tố đầu vào, phụthuộc phần lớn vào nguyên vật liệu, linh kiện, phụ kiện nhập khẩu.

Bốn là, thị trường lao động Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu về một thị trường lao động hiện đại, linh hoạt, bền vững và hội nhập cả về cung và cầu. Cơ cấu lao động theo 3 khu vực kinh tế chưa hợp lý. Trong năm 2022, lao động làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tới 27,5% tổng số[9]. Số lượng lao động tăng nhanh, nhưng chủ yếu ở khu vực phi chính thức. Chất lượng lao động chưa đáp ứng nhu cầu, tỷ lệ lao động qua đào tạo cóbằng cấp, chứng chỉ còn thấp. Trong năm 2022, lao động không có trình độ chiếm 73,56% trong tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên; trong đó, trình độ sơ cấp 7,13%; trình độ trung cấp 3,72%; cao đẳng 3,72%; đại học trở lên 11,87%[10].

2. Kiến nghị giải pháp

Nhằm nâng cao năng lực của Việt Nam và để Việt Nam tiếp tục thăng hạng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, trong thời gian tới cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, cần tận dụng cơ hội từ chuyển đổi chuỗi cung ứng và phi toàn cầu hóa. Chính phủ cần xác định cụ thể danh mục ngành, lĩnh vực cần thu hút đầu tư nước ngoài phù hợp với tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, hoà nhịp với chuyển đổi chuỗi cung ứng. Xây dựngcác quy định, tiêu chuẩn như một bộ lọc mới nhằm lựa chọn các nhà đầu tư nước ngoài có công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường và thực sự có năng lực;đồng thời, ban hành các quy định để bảo vệ uy tín và hiệu quả đầu tư của các nhàđầu tư nghiêm túc, luôn tuân thủ pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế.

Thứ hai, phát triển hội nhập kinh tế trong ASEAN, và coi đó là trọng tâmđể đàm phán quốc tế và xây dựng chiến lược chuỗi cung ứng quốc gia đảm bảo vị trí quan trọng của Việt Nam trong khu vực. Trong đó, đặc biệt chú ý đến dự án xây dựng kênh đào Kra vì nó chắc chắn sẽ thay đổi cục diện của ngành hàng hải ASEAN và vận tải quốc tế, nhất là các tàu thương mại trên tuyến Ấn Độ Dương -Thái Bình Dương. Tích cực chủ động tham gia vào các chương trình hội nhập của Việt Nam với các thị trường lớn trong trong khu vực như RCEP, ASEAN-Ấn Độ,IPEF, CPTPP… để có thể nắm bắt và kết nối xu hướng phát triển thị trường, công nghệ và chuyển dịch của chuỗi cung ứng sản phẩm và dịch vụ.

Thứ ba, Việt Nam cần hoàn thiện, ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu lực, hiệu quả các quy hoạch trong hệ thống quy hoạch quốc gia, làm định hướng vàxác định không gian phát triển cho cả nước, các vùng, địa phương và các ngành,lĩnh vực, chú ý tới sự điều chỉnh nội hàm của tự do kinh tế, toàn cầu hoá, chuỗi cung ứng toàn cầu, chủ nghĩa bảo hộ quay trở lại và những bất định khó lường diễn ra với tần xuất dày hơn. Đồng thời, xây dựng và thực hiện hiệu quả Chiến lược độc lập, tự chủ của nền kinh tế nhằm nâng cao sức chống chịu và khả năng cạnh tranh; thích ứng linh hoạt, hiệu quả với những biến động tình hình quốc tế, khu vực và trong nước.

Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật để thực thi hiệu quả CPTPP, EVFTA, UKVFTA và RCEP. Tiếp tục rà soát nội dung cam kết trong các FTA và điều ước quốc tế mà Việt Nam đang đàm phán, đã hoàn tất đàm phán và đã ký kết để có những điều chỉnh về quy định pháp luật phù hợp. Đánh giá lại hiệu quả thực hiện các FTA để xác định những bài học, yêu cầu điều chỉnh phù hợp. Triển khai xây dựng Chỉ số FTA đối với các địa phương.

Thứ năm, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, chú trọng đặt trọng tâm vị trí biển Đông trong chiến lược phát triển đồng bộ hạ tầng kỹ thuật nói chung và giao thông vận tải của đất nước nói riêng. Nghiên cứu, hình thành phát triển các kết nối cảng biển, hệ thống dịch vụ hỗ trợ sau cảng biển với đường không, đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa.

Thứ sáu, đẩy nhanh thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chú trọng giáo dục nghề nghiệp và đào tạo việc làm. Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, trọng tâm là chuyển đổi số, hiện đại hóa cơ sở vật chất, thiết bị, thay đổi phương thức giáo dục đào tạo, nhất là giáo dục đại họcvà giáo dục nghề nghiệp. Hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút các nhà đầu tư, cả doanh nghiệp, người sử dụng lao động tích cực tham gia vào hoạt động đào tạo, phát triển kỹ năng nghề. Xây dựng các mô hình gắn kết với giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp và thị trường lao động theo từng vùng, từng địa phương phù hợp với từng nhóm đối tượng, trong đó chú trọng đối tượng đặc thù. Sắp xếp tổ chức mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt, hiện đại, dễ tiếp cận đa dạng về loại hình, hình thức tổ chức, phân bổ hợp lý cả về cơ cấu ngành, trình độ vùng, miền và đủ khả năng đáp ứng nhu cầu về đào tạo nhân lực chất lượng cao.

Thứ bảy, các doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động hơn trong quá trình tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, xây dựng chiến lược, mục tiêu và kế hoạch thực hiện. Các doanh nghiệp cần nâng cao năng lực cạnh tranh cốt lõi, quản trị tốt, xây dựng nền tảng về nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng số hóa... Bên cạnh sự hỗ trợ củaNhà nước, các doanh nghiệp cần tận dụng nhiều hơn các hỗ trợ từ các đối tác khác nhau như doanh nghiệp khác, nhất là các doanh nghiệp dẫn dắt, hiệp hội doanhnghiệp, các tổ chức quốc tế... để cải thiện vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thu Thủy

[1]https://www.vietnamplus.vn/viet-nam-va-dong-nam-a-day-nhanh-phuc-hoi-kinh-te-sau-dai-dich-post809816.vnp

[2]https://vccinews.vn/news/48504/thu-hut-fdi-khoi-sac-von-giai-ngan-lap-ky-luc.html

[3] Chuyên cung cấp sản phẩm cho Apple.

[4] Như: Samsung, LG, Coca-Cola, Nike, Adidas, Dự án Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore (VSIP)…

[5] Cụ thể: Dự án Samsung Electro-mechanics Việt Nam (Thái Nguyên) tăng vốn hai lần, 920 triệu USD và 267 triệu USD; Dự án Công ty TNHH Điện tử Samsung HCMC CE tăng vốn trên 841 triệu USD.

[6]Như: Đức, Hà Lan, Đan Mạch, Pháp, Ý.

[7]https://books.google.com/books/about?id=vy4ZEQAAQBAJ

[8] Như: hạn chế về năng lực quản lý, kết cấu hạ tầng, thủ tục đầu tư, thiếu lao động có kỹ năng, công nghiệp phụ trợ và mạng lưới logistics…

[9]https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=82736

[10]https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2024/01/tinh-hinh-thi-truong-lao-dong-viet-nam-nam-2023/