Nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: soi đường cho kỷ nguyên vươn mình

Đảng ta xác định phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực to lớn và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước. Bước vào kỷ nguyên vươn mình, nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vừa có thời cơ lớn, vừa đứng trước những thách thức chưa từng có, đòi hỏi những giải pháp đồng bộ từ xây dựng con người, khơi thông nguồn lực đến bảo vệ chủ quyền văn hóa trên không gian số.

Quan niệm về nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Hiểu theo nghĩa rộng nhất, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử thông qua lao động. Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong xã hội có giai cấp, văn hóa mang tính giai cấp, như văn hóa tư sản, văn hóa vô sản hay văn hóa xã hội chủ nghĩa. Theo đó, nền văn hóa xã hội chủ nghĩa (XHCN) là nền văn hóa được xây dựng trên cơ sở hệ tư tưởng cách mạng của giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo; kế thừa, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại; đặt giá trị nhân văn và ý thức xã hội lên hàng đầu, khuyến khích mọi người cùng tham gia xây dựng một xã hội tốt đẹp, công bằng, tiến bộ và bền vững.

“Văn hóa soi đường” trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Theo Người, đó là những con người có đạo đức cao quý, tình cảm trong sáng, hết lòng vì Tổ quốc, vì nhân dân, làm việc tự giác và có kỷ luật. Hướng tới mục đích lớn lao ấy, xây dựng nền văn hóa XHCN là một trong những đích đến quan trọng, để Việt Nam trở thành một xã hội văn minh, công bằng, phồn vinh và hạnh phúc, nơi mỗi người dân có điều kiện phát triển toàn diện cả về vật chất lẫn tinh thần.

Nền văn hóa XHCN Việt Nam được hình thành, phát triển một cách tự giác, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN; lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, giữ vai trò chủ đạo, quyết định phương hướng phát triển. Đó là nền văn hóa của dân, do dân, vì dân, mang tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc, gắn liền và phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), phát triển con người và lợi ích của nhân dân lao động. Nền văn hóa ấy vừa giúp dân tộc ta giữ gìn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, vừa tiếp nhận tinh hoa văn hóa thế giới; đồng thời bảo đảm văn hóa của các dân tộc anh em trên lãnh thổ Việt Nam được bảo tồn, hội nhập và phát triển, thống nhất trong đa dạng.

Kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến nay, dân tộc ta đã trải qua hai kỷ nguyên và đang bước vào kỷ nguyên thứ ba. Kỷ nguyên thứ nhất là kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng CNXH (1930 - 1975), khởi đầu từ khi Đảng ra đời năm 1930, với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cùng những thành tựu xây dựng CNXH ở miền Bắc giai đoạn 1954 - 1975. Kỷ nguyên thứ hai là kỷ nguyên thống nhất đất nước, đổi mới, phát triển (1975 - 2025), mở đầu bằng thắng lợi vĩ đại mùa Xuân năm 1975, non sông thu về một mối, cả nước đi lên CNXH; tiếp đó là công cuộc đổi mới từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986), đưa đất nước phát triển mạnh mẽ, toàn diện.

Kỷ nguyên thứ ba - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc - được xác định có điểm khởi đầu là Đại hội XIV của Đảng. Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, đây là kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, xây dựng thành công nước Việt Nam XHCN dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu; mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đất nước đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, phát triển của thế giới và văn minh nhân loại.

Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược: đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng XHCN. Muốn vậy, phải khơi dậy mạnh mẽ tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc và khát vọng phát triển, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đây cũng chính là những giá trị mà văn hóa có sứ mệnh bồi đắp.

Cơ sở để nền văn hóa XHCN Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đặt văn hóa ở vị trí đặc biệt quan trọng. Điều đó được thể hiện nhất quán từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên năm 1930, Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943, Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 1946, đến Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (năm 1998), Nghị quyết số 33-NQ/TW Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (năm 2014) và Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021. Văn kiện Đại hội XIII tiếp tục khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước.

Văn hoá Việt Nam là kết tinh những giá trị tốt đẹp của dân tộc trong tiến trình hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước

Ngày 07/01/2026, Bộ Chính trị khóa XIII ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, khẳng định: “Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”. Nghị quyết yêu cầu văn hóa phải đi trước soi đường, thấm vào từng quyết sách phát triển, và lần đầu tiên đặt ra nhiều chỉ tiêu định lượng cụ thể: bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa; các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và phấn đấu 9% vào năm 2045; hình thành 5 - 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa; phấn đấu nằm trong nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm vào năm 2045. Nghị quyết cũng thống nhất chọn ngày 24/11 hằng năm là “Ngày Văn hóa Việt Nam”, là ngày nghỉ có hưởng lương, và thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam.

Tiếp đó, Đại hội XIV của Đảng đề ra quan điểm: “Xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với các giá trị cơ bản: Dân tộc, dân chủ, nhân văn và khoa học; bảo đảm phát triển văn hóa ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội, để văn hóa thực sự là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực to lớn, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước; xây dựng và thực hiện đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới”. Quan điểm này đề cao sứ mệnh của văn hóa trong xây dựng con người mới, làm rõ chức năng điều tiết, điều chỉnh nhận thức, hành vi của cộng đồng, hướng con người tới chân - thiện - mỹ. Các chủ trương của Đảng đã nhanh chóng được thể chế hóa, trong đó có Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam.

Hiện thực hóa các chủ trương trên, Nhà nước đã liên tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách về văn hóa, tháo gỡ vướng mắc, khai thông nguồn lực. Con người Việt Nam được quan tâm bồi dưỡng toàn diện cả về trí tuệ, đạo đức, lối sống lẫn thể chất, tầm vóc. Các giá trị truyền thống tiếp tục được củng cố, nhiều chuẩn mực đạo đức mới hình thành; lòng yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, sẻ chia vẫn là những giá trị chủ đạo. Văn hóa gia đình, văn hóa học đường được chú trọng; môi trường văn hóa ở cộng đồng dân cư có nhiều chuyển biến, hủ tục dần được xóa bỏ, nếp sống văn minh đô thị và nông thôn ngày càng lan tỏa. Hệ thống thiết chế văn hóa từ Trung ương tới cơ sở được đầu tư, nâng cao chất lượng hoạt động.

Văn học, nghệ thuật có bước phát triển khởi sắc, làm phong phú đời sống tinh thần của Nhân dân. Đời sống âm nhạc ngày càng sôi động; hoạt động sáng tác, biểu diễn hướng tới mọi lứa tuổi, mọi phân khúc công chúng; nhiều nghệ sĩ trẻ đã có khát vọng chinh phục khán giả quốc tế. Nghệ thuật biểu diễn đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung, từ sân khấu truyền thống đến các chương trình đương đại. Việt Nam dần trở thành điểm đến của các liên hoan sân khấu, xiếc, múa rối, âm nhạc quốc tế và các chương trình biểu diễn của những nghệ sĩ, nhóm nhạc nổi tiếng thế giới.

Những giải pháp phát triển nền văn hóa XHCN Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Việt Nam đang phát triển trong một thế giới biến động nhanh, phức tạp, khó lường, nổi bật là cạnh tranh giữa các nền văn hóa, trong đó có cạnh tranh về giá trị và ảnh hưởng của công nghiệp văn hóa. Nghị quyết số 80-NQ/TW cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế: đầu tư cho văn hóa còn thấp và dàn trải; mức độ thụ hưởng văn hóa giữa các vùng, miền còn chênh lệch; công nghiệp văn hóa chưa phát triển tương xứng tiềm năng; sự bùng nổ của các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới kéo theo sự xâm nhập của các yếu tố ngoại lai phản cảm, gây xung đột giá trị. Để nền văn hóa XHCN Việt Nam đứng vững và thực hiện tốt sứ mệnh trong kỷ nguyên mới, cần tập trung vào một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định đưa Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành quốc gia độc lập, thống nhất và phát triển. Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu; lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng; giữ vai trò dự báo, kiến tạo và định hình tương lai đất nước. Giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là yêu cầu cốt lõi để đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên vươn mình, đồng thời bảo đảm nền văn hóa XHCN phát triển đúng mục tiêu, định hướng.

Hai là, xây dựng nền văn hóa của dân, do dân, vì dân. Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng. Nhân dân là chủ thể sở hữu, sáng tạo và nuôi dưỡng mọi giá trị văn hóa truyền thống cũng như hiện đại; trực tiếp xây dựng, gìn giữ và thực hành đời sống văn hóa cơ sở. Mục tiêu cao nhất của văn hóa là phục vụ Nhân dân, bồi đắp nhân cách, nâng cao đời sống tinh thần và phát triển toàn diện con người Việt Nam. Vì vậy, cần bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng văn hóa, nhất là cho các nhóm yếu thế, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số; xây dựng Nền tảng văn hóa số toàn dân để thu hẹp khoảng cách thụ hưởng; phát triển văn hóa cơ sở phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, lấy khu dân cư làm hạt nhân của môi trường văn hóa.

Ba là, xây dựng con người mới XHCN trong kỷ nguyên vươn mình. Con người vừa là trung tâm, vừa là chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển. Con người mới XHCN trong kỷ nguyên mới cần có niềm tin vững chắc vào con đường đi lên CNXH; có lòng yêu nước, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết. Đó là những con người có khả năng sáng tạo, tư duy phản biện, năng lực giải quyết vấn đề; có ngoại ngữ, kỹ năng làm việc trong môi trường quốc tế và kỹ năng số; có đạo đức nghề nghiệp, văn hóa làm việc liêm chính, trách nhiệm; có lối sống tiết kiệm, thân thiện với môi trường; hiểu biết, tự hào về bản sắc dân tộc và biết hội nhập văn hóa thế giới. Việc xây dựng con người cần bám sát chuẩn mực con người Việt Nam mà Đảng đã xác định: yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo; gắn với hệ giá trị gia đình ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh; đặt giáo dục đạo đức, văn hóa lên hàng đầu ngay từ bậc mầm non.

Bốn là, phát huy tính chiến đấu của văn hóa Việt Nam. Hiện không ít sản phẩm văn hóa chạy theo thị hiếu thấp, đề cao yếu tố giải trí đơn thuần, thiếu chiều sâu tư tưởng, thậm chí cổ súy lối sống lệch chuẩn. Tâm lý né tránh va chạm, ngại đấu tranh với cái sai, đồng nhất khoan dung với thỏa hiệp đang làm suy giảm vai trò phản biện và tự bảo vệ của văn hóa. Trong môi trường số, các xu hướng văn hóa ngoại lai có sức hấp dẫn lớn có thể nhanh chóng chi phối thị hiếu, lối sống; nếu thiếu bản lĩnh văn hóa, quá trình tiếp nhận rất dễ dẫn tới hòa tan, phai nhạt bản sắc. Do đó, cần xử lý hài hòa mối quan hệ giữa “xây” và “chống” như Nghị quyết số 80-NQ/TW đã chỉ rõ: lấy “xây” làm chính, dùng cái đẹp để đẩy lùi cái xấu; đồng thời kiên quyết đấu tranh, sàng lọc để văn hóa thực sự là “sức đề kháng” của xã hội và động lực nội sinh cho sự vươn mình của dân tộc.

Năm là, xây dựng văn hóa trong Đảng. Sức mạnh của Đảng trước hết nằm ở chính bản thân Đảng, là nền tảng để “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Nếu xây dựng văn hóa, con người Việt Nam là kiến tạo “bức tường thành” bảo vệ Đảng, thì xây dựng văn hóa trong Đảng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng nhằm nâng cao sức mạnh tự thân, sức đề kháng của Đảng trước mọi âm mưu chống phá. Đó là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu; giữ gìn đạo đức cách mạng và các nguyên tắc tổ chức của Đảng. Mỗi cán bộ, đảng viên phải có đạo đức, lối sống mẫu mực; phong cách làm việc dân chủ, khoa học, nêu gương; có bản lĩnh chính trị và năng lực ứng xử văn hóa đáp ứng yêu cầu hội nhập. Cùng với đó, cần phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”, 6 điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân, mẫu hình “công bộc của dân” trong toàn hệ thống chính trị, qua đó củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Sáu là, khơi thông nguồn lực, phát triển công nghiệp văn hóa, gia tăng sức mạnh mềm quốc gia. Nghị quyết số 80-NQ/TW khẳng định đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, cho tương lai của dân tộc; trong đó nguồn lực nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, nguồn lực xã hội và khu vực tư nhân là động lực quan trọng. Cần sớm hiện thực hóa cam kết chi tối thiểu 2% ngân sách cho văn hóa, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, khắc phục tình trạng dàn trải; thúc đẩy hợp tác công tư; ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp văn hóa có lợi thế như điện ảnh, âm nhạc, du lịch văn hóa, thiết kế, thời trang, trò chơi điện tử, ẩm thực và nội dung số. Song song với đó, phải đấu tranh với khuynh hướng “thương mại hóa”, chỉ coi trọng lợi ích kinh tế một chiều mà xem nhẹ lợi ích xã hội, nhân văn; đồng thời đẩy mạnh ngoại giao văn hóa, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới.

Bảy là, đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ chủ quyền văn hóa trên không gian mạng. Không gian mạng đã trở thành mặt trận tư tưởng đặc biệt gay gắt, nơi các thế lực thù địch không ngừng thúc đẩy “diễn biến hòa bình”, phát tán thông tin sai lệch, xuyên tạc lịch sử nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ quyền văn hóa số vì vậy là nhiệm vụ hệ trọng, gắn liền với sự trường tồn của chế độ. Cần xây dựng môi trường thông tin số lành mạnh, sớm ban hành và thực hiện bộ quy tắc ứng xử trên không gian số, kiên quyết xử lý thông tin xấu độc, phản văn hóa, tin giả. Dù công nghệ là công cụ quan trọng, nhưng bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên và “thế trận lòng dân” mới là pháo đài vững chắc nhất. Xây dựng thế trận an ninh văn hóa gắn với an ninh con người và chủ quyền văn hóa số chính là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” trong thời đại số.

                                                                                Hồ Thái Bảo

                                                                                Vụ Địa phương 3,

Ban Tuyên giáo Trung ương