"Giáo dục công lập là trụ cột, giáo dục ngoài công lập là thành phần quan trọng cấu thành hệ thống giáo dục quốc dân" trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
I. Cần hiểu đúng, thống nhất quan điểm chỉ đạo "Giáo dục công lập là trụ cột, giáo dục ngoài công lập là thành phần quan trọng cấu thành hệ thống giáo dục quốc dân"
Ngày 22 tháng 8 năm 2025, Bộ Chính trị khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Nghị quyết đề ra các mục tiêu cho đến năm 2035 và tầm nhìn đến 2045 cùng với 6 quan điểm chỉ đạo và 8 giải pháp (đột phá). Trong đó xác định "Giáo dục công lập là trụ cột, giáo dục ngoài công lập là thành phần quan trọng cấu thành hệ thống giáo dục quốc dân". Việc nhận thức đúng và thống nhất về quan điểm này có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm triển khai hiệu quả Nghị quyết số 71-NQ/TW; trong đó, cần làm rõ vai trò của Nhà nước với tư cách là chủ thể của giáo dục công lập và vai trò của thị trường với tư cách là chủ thể của giáo dục ngoài công lập.
1. Vai trò chủ đạo của Nhà nước được thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:
Một là, Nhà nước không chỉ thực hiện chức năng quản lý đối với phát triển giáo dục - đào tạo (đối với cả giáo dục công lập và ngoài công lập), mà còn cung cấp dịch vụ giáo dục ở những lĩnh vực cơ bản, thiết yếu nhằm bảo đảm công bằng xã hội; đồng thời định hướng về sứ mạng, mục tiêu, chiến lược, quy hoạch phát triển và quản lý chất lượng giáo dục - đào tạo. Đối với các nhu cầu giáo dục chất lượng cao, Nhà nước ban hành cơ chế, chính sách phù hợp để khuyến khích xã hội và thị trường tham gia cung ứng dịch vụ.
Hai là, ban hành khuôn khổ pháp lý cho sự vận động, hình thành và phát triển thị trường hàng hoá dịch vụ giáo dục - đào tạo, tạo sự cạnh tranh lành mạnh, hạn chế các tác động tiêu cực của cơ chế thị trường (Xây dựng chính sách không những nhằm quản lý Nhà nước về giáo dục mà còn kiến tạo, thúc đẩy giáo dục phát triển).
Ba là, xây dựng khuôn khổ pháp lý và cơ chế, chính sách cho các cơ sở giáo dục - đào tạo thực hiện cơ chế tự chủ; Định hướng đổi mới và xây dựng mô hình nhà trường năng động, hiện đại, sáng tạo cho thế kỷ 21.
Bốn là, Nhà nước cung cấp nguồn lực chủ yếu, lớn nhất cho giáo dục - đào tạo, nhưng có sự đổi mới trong phương thức cung cấp để nâng cao hiệu quả đầu tư các nguồn lực của nhà nước và của xã hội (Cung cấp và điều tiết nguồn lực (con người, tài chính, đất đai) cho giáo dục, trong cung cấp, điều tiết nguồn lực thì vai trò điều tiết là quan trọng hơn vì Nhà nước không những là chủ thể nắm trong tay nhiều nguồn lực nhất mà còn là chủ thể xây dựng chính sách để phát huy được nguồn lực của cả Nhà nước và nguồn lực trong xã hội).
Năm là, ban hành và thực hiện các chính sách đảm bảo công bằng, bình đẳng trong giáo dục - đào tạo; ưu tiên đầu tư cho phát triển giáo dục - đào tạo ở những vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc ít người, các đối tượng chính sách.
Sáu là, ban hành cơ chế chính sách hợp tác và hội nhập quốc tế về giáo dục - đào tạo đảm bảo mục tiêu đặt ra, có chất lượng và hiệu quả cao. Vai trò chủ đạo của Nhà nước được cụ thể hóa khác nhau đối với các cấp bậc học và loại hình đào tạo.
2. Vai trò của thị trường trong giáo dục
Vai trò của thị trường được thể hiện trên các mặt chủ yếu sau: (i) Đa dạng hoá các thành phần, các chủ thể tham gia, cung ứng hàng hoá dịch vụ giáo dục - đào tạo, nhất là đối với đào tạo đại học và đào tạo nghề; (ii) Hình thành thị trường hàng hoá dịch vụ giáo dục - đào tạo (thị trường đặc biệt - thị trường không hoàn hảo); tạo sự cạnh tranh trong giáo dục - đào tạo. (iii) Thúc đẩy đổi mới và phát triển các mô hình nhà trường hiện đại - năng động - sáng tạo. Hình thành đa dạng các hình thức giáo dục - đào tạo, các cơ chế hoạt động của các cơ sở giáo dục - đào tạo: không vì lợi nhuận, vì lợi nhuận, bán vì lợi nhuận. Tạo sự kết hợp, hợp tác công - tư có hiệu quả trong phát triển giáo dục - đào tạo. (iv) Đòi hỏi gắn mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục - đào tạo với nhu cầu xã hội; (v) Thúc đẩy hội nhập, hợp tác quốc tế về giáo dục - đào tạo theo cơ chế thị trường.
II. Trách nhiệm của Nhà nước, của thị trường trong từng cấp học, trình độ đào tạo
1. Đối với Giáo dục mầm non
Nhà nước giữ vai trò bảo đảm tiếp cận tối thiểu, điều tiết chất lượng: Nhà nước xây dựng trường lớp, chuẩn bị giáo viên và kinh phí cho phổ cập mầm non từ 3- 5 tuổi ở vùng sâu, vùng xa, khu công nghiệp và nhóm yếu thế (trẻ em nghèo, khuyết tật); ban hành, kiểm soát chương trình đào tạo, chuẩn giáo viên và cơ sở vật chất, an toàn, dinh dưỡng bữa ăn học đường.Thị trường cung ứng dịch vụ mầm non chất lượng cao, đa dạng (song ngữ, theo chuẩn quốc tế,…) đáp ứng nhu cầu cao, trả học phí cao của người dân ở các khu đô thị, khu đông dân cư. Bảo đảm cạnh tranh lành mạnh trong cung cấp dịch vụ giáo dục mầm non.
2. Đối với Giáo dục phổ thông (Tiểu học – THCS – THPT):
Nhà nước cung cấp dịch vụ công cơ bản, nền tảng (giáo dục mầm non, phổ thông, phổ cập, giáo dục bắt buộc), giáo dục cơ bản, thiết yếu (các môn khoa học cơ bản, hạt nhân,...), giáo dục đặc biệt (khuyết tật, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài), giáo dục vùng khó khăn, lĩnh vực đặc thù (công an, quân đội, ...), miễn học phí trong trường công, hỗ trợ học phí học sinh trường tư (bằng trường công); đầu tư cơ sở vật chất cho vùng khó khăn; ban hành chương trình, cung cấp sách giáo khoa; kiểm định chất lượng giáo dục (nói cách khác, những lĩnh vực thị trường không làm, làm không tốt hay không được làm thì Nhà nước phải làm);Thị trường phát triển trường tư thục, trường quốc tế, mô hình chất lượng cao - học phí cao; dạy thêm các kỹ năng bảo đảm mục tiêu giáo dục cá thể hóa.
3. Đối với Giáo dục nghề nghiệp:
Nhà nước ban hành khung trình độ quốc gia, chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, quy hoạch nguồn nhân lực, định hướng ngành nghề theo nhu cầu thị trường lao động và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đặt hàng đào tạo các ngành thiết yếu (bán dẫn, điện hạt nhân, công nghệ, nông nghiệp công nghệ cao, …); hỗ trợ học phí học nghề; ban hành cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp. Thị trường thành lập các cơ sở, đầu tư thiết bị đào tạo nghề tư thục, đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, đào tạo theo đặt hàng của Nhà nước.
4. Đối với Giáo dục đại học:
Nhà nước chuyển từ “quản lý vi mô” sang kiến tạo hệ thống; đầu tư các trường đại học nghiên cứu trọng điểm, những ngành khoa học cơ bản, chiến lược, xây dựng Quỹ học bổng quốc gia, cung cấp tín dụng cho sinh viên; ban hành khung pháp lý cho tự chủ- giải trình của cơ sở giáo dục đại học, tổ chức Hệ thống kiểm định độc lập, đặt hàng nghiên cứu và đào tạo nhân lực chất lượng cao.Thị trường đầu tư các trường đại học tư thục, đại học có yếu tố nước ngoài; quyết định mở ngành đào tạo theo nhu cầu của xã hội, quyết định mức học phí (theo mức trần của Nhà nước); nghiên cứu, ứng dụng; liên kết với doanh nghiệp.
III. Một số nhiệm vụ cần tập trung trong thời gian tới
1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về những quan điểm và những đột phá phát triển giáo dục gắn với bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, kỷ nguyên phát triển, thịnh vượng.
2. Đẩy mạnh việc xây dựng thể chế giáo dục, bao gồm:
Một là, xây dựng khung pháp lý – chính sách: Đây là phần “cứng” của thể chế được hiến định trong Hiến pháp, luật (ví dụ: Luật Giáo dục), các nghị định, thông tư, Chiến lược, quy hoạch phát triển giáo dục nhằm xác định ai có quyền gì, làm gì, chịu trách nhiệm ra sao trong giáo dục.
Hai là, thiết lập cơ chế vận hành: Là cách các chủ thể (Nhà nước, thị trường) tương tác với nhau trong thực tế hoạt động giáo dục, phân định quan hệ giữa Nhà nước– thị trường, cơ chế tài chính (ngân sách, học phí, xã hội hóa), cơ chế tuyển sinh, kiểm định, đánh giá, cơ chế quản trị trường học (tự chủ, phân cấp). Cơ chế vận hành rất quan trọng, quyết định hệ thống giáo dục hoạt động hiệu quả hay không.
Ba là, định hướng dư luận xã hội theo chuẩn mực và thông lệ về giáo dục: Gồm, văn hóa học đường, chuẩn mực nghề nghiệp giáo viên, tập quán thi cử, bằng cấp và kỳ vọng xã hội đối với giáo dục. Đây là các quy tắc “mềm” nhưng cũng rất quan trọng, thường không viết hết trong luật nhưng ảnh hưởng mạnh đến hành vi thực tế.
Tóm lại: Làm rõ, quán triệt đầy đủ và thống nhất quan điểm “Giáo dục công lập là trụ cột, giáo dục ngoài công lập là thành phần quan trọng cấu thành hệ thống giáo dục quốc dân…” là yêu cầu quan trọng nhằm tạo sự đồng thuận xã hội; từ đó hoạch định chính sách giáo dục đúng đắn, phân định rõ trách nhiệm của Nhà nước và vai trò của thị trường, bảo đảm giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai của dân tộc.
Phan Văn Long
Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
Tài liệu tham khảo:
1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của ĐCSVN, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội , 2026.
2. Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
3. Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục.
4. Phát triển giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ; Trần Quốc Toản – chủ biên, NXB CTQG, Hà Nội, 2012.
