Một số giải pháp hợp tác quốc tế về quản trị quốc gia gắn với chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn

Thế giới đang ở kỷ nguyên số, với những thay đổi sâu sắc về kinh tế, xã hội và quản trị. Sự phát triển công cụ sản xuất trong nền kinh tế số tạo ra những biến đổi của lực lượng sản xuất, những mâu thuẫn với quan hệ sản xuất hiện hữu, hình thành phương thức sản xuất mới, đòi hỏi thay đổi căn bản cách thức tổ chức sản xuất và quản lý xã hội. Thực tế đó, đòi hỏi mỗi quốc gia phải có nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả đáp ứng với yêu cầu phát triển khách quan trong kỷ nguyên số.

Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp Phó Chủ tịch phụ trách quan hệ Chính phủ toàn cầu của Tập đoàn Apple, ông Nick Ammann. Ảnh: Lâm Khánh/TTXVN

1. Hiện nay, nước ta đang tăng cường hợp tác quốc tế về công nghệ, kinh nghiệm quản trị quốc gia, xây dựng thể chế số, thực hiện các cam kết về phát triển bền vững, kinh tế xanh với Liên hợp quốc hay cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 tại COP26[1]. Cụ thể:

- Hoàn thiện thiện khung pháp lý và thể chế: (1) Tham gia các hiệp định quốc tế như Hiệp định Đối tác Kinh tế số Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) hay các sáng kiến toàn cầu về dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, nhằm nâng cao năng lực và vị thế quốc gia trên trường quốc tế; (2) Việt Nam qua hợp tác quốc tế các quy định pháp lý về chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu xuyên biên giới đang được xây dựng, hoàn thiện để phù hợp với xu hướng quốc tế.

- Tăng cường hợp tác quốc tế về quản trị quốc gia gắn với chuyển đổi số: Việt Nam đẩy mạnh hợp tác quốc tế về quản trị quốc gia gắn với chuyển đổi số thông qua việc tham gia các diễn đàn quốc tế về công nghệ số, học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia tiên tiến và ký kết các thỏa thuận hợp tác song phương, đa phương về phát triển chính phủ số. Cụ thể: (1) Thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế số: Khuyến khích các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam hợp tác với các doanh nghiệp nước ngoài để phát triển các giải pháp, sản phẩm số. Tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực công nghệ và chuyển đổi số tại Việt Nam; (ii) Hợp tác với các tổ chức quốc tế: Việt Nam tích cực tham gia và học hỏi kinh nghiệm từ các tổ chức như Liên hợp quốc, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và các tổ chức kinh tế quốc tế khác trong việc xây dựng các chính sách, khung pháp lý và chiến lược về chuyển đổi số quốc gia; (iii) Hợp tác song phương với các quốc gia: Việt Nam ký kết các thỏa thuận hợp tác về an ninh mạng và an toàn thông tin với các cường quốc công nghệ. Thúc đẩy hợp tác với các đối tác như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc để trao đổi kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực về chuyển đổi số, chính phủ số.

- Hợp tác quốc tế gắn kết chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn: (1) Qua các chương trình hợp tác phát triển nông nghiệp sạch, hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao và nông nghiệp thông minh, kết hợp với du lịch sinh thái, nhằm nâng cao giá trị và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu; (2) Qua các dự án hợp tác với các đối tác quốc tế để phát triển đô thị thông minh, sử dụng công nghệ số để quản lý năng lượng, giao thông và môi trường, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường; (3) Hợp tác trong ứng dụng công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo, blockchain và internet vạn vật (IoT) trong quản lý tài nguyên hiệu quả, giảm phát thải và tối ưu hóa quy trình sản xuất. Ví dụ sinh động nhất là Việt Nam và Đan Mạch đang hợp tác chặt chẽ trong chuyển đổi số và xanh thông qua Quan hệ Đối tác Chiến lược Xanh (GSP) ký năm 2023. Thông qua Chương trình hợp tác đối tác năng lượng (DEPP), Đan Mạch hỗ trợ Việt Nam xây dựng lộ trình phát triển carbon thấp trong ngành công nghiệp, bao gồm cả việc tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính. Hiện nay có hơn 150 doanh nghiệp Đan Mạch đang hoạt động tại Việt Nam, mang đến công nghệ xanh và mô hình kinh doanh bền vững. Đáng chú ý nhất là Tập đoàn LTP (LTP Group - Asia) có trụ sở tại Đan Mạch đã đầu tư hệ thống điện mặt trời tại Việt Nam để sử dụng năng lượng sạch cho sản xuất trang phục thể thao, ngoài trời và thời trang bền vững[2]. Việc lắp đặt hệ thống này khẳng định cam kết của LTP trong việc chuyển đổi xanh và thúc đẩy sản xuất bền vững trong ngành dệt may Việt Nam. Cả hai nước đang cùng hướng tới kinh tế tuần hoàn thông qua hợp tác ở các lĩnh vực như nông nghiệp, thực phẩm, y tế và khoa học đời sống.Việt Nam và Đan Mạch cũng hợp tác trong việc phát triển các giải pháp xanh và bền vững cho các thành phố, góp phần tạo nên các đô thị đáng sống.

2. Hợp tác quốc tế về quản trị quốc gia gắn với chuyển đổi số, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn mang lại cả thuận lợi lẫn khó khăn đối với sự phát triển của đất nước ta.

- Về thuận lợi:

Thông qua hợp tác quốc tế Việt Nam tiếp cận các kênh công nghệ tiên tiến, nguồn vốn và thị trường mới, hỏi kinh nghiệm quốc tế về quản trị quốc gia gắn với chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, từ đó thúc đẩy năng lực cạnh tranh, tạo động lực tăng trưởng mới, xây dựng xã hội số văn minh, hướng tới phát triển bền vững. Sự hợp tác này cũng giúp Việt Nam nâng cao năng lực quản lý, hoạch định chính sách, xây dựng thể chế, nguồn nhân lực và truyền thông để thích ứng với xu thế toàn cầu, vượt qua các thách thức về biến đổi khí hậu và môi trường. Có thể khái quát những thuận lợi chính sau:

+ Nâng cao năng lực quản lý và thể chế. Hợp tác quốc tế về quản trị quốc gia chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm từ các nước đi trước trong xây dựng nhà nước điện tử, hệ thống dữ liệu quốc gia và các cơ chế phối hợp liên ngành trong chuyển đổi số. Học hỏi các bài học và vận dụng các giải pháp quản trị hiện đại từ các tổ chức quốc tế. Từ đó xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý, chính sách để quản lý hiệu quả quá trình chuyển đổi số và phát triển bền vững.

+ Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Thông qua hợp tác quốc tế Việt Nam tiếp cận các mô hình quản trị quốc gia hiệu quả, kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển trong chuyển đổi số. Từ đó mở rộng thị trường khu vực, thế giới cho các sản phẩm và dịch vụ số của Việt Nam, đồng thời thu hút đầu tư quốc tế vào các lĩnh vực kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Hơn nữa, chúng ta có thể huy động nguồn vốn, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến từ bên ngoài để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh trong nước nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế.

+ Đảm bảo phát triển bền vững. Thông qua hợp tác Việt Nam tiếp thu kiến thức, công nghệ và giải pháp quản trị liên quan đến kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, năng lượng tái tạo, quản lý rác thải. Hợp tác để phát triển năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng, xử lý chất thải và nông nghiệp thông minh. Nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên.

+ Phát triển xã hội số và nguồn nhân lực. Hợp tác quốc tế về quản trị quốc gia không chỉ giúp Việt Nam tiếp cận công nghệ, phương thức làm việc mới và xu hướng thị trường quốc tế, mà còn tạo nhu cầu, thúc đẩy đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, kỹ năng mềm và khả năng hội nhập.Ví dụ trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, dịch vụ công trực tuyến qua hợp tác với các quốc gia Việt Nam trao đổi kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ và xây dựng các chương trình hợp tác cụ thể. Trong giáo dục, thời gian qua chúng ta hợp tác với các nước để phát triển chương trình đào tạo nghề và trao đổi chuyên gia; trong y tế, hợp tác ứng dụng công nghệ y tế để phát triển bệnh viện thông minh và tư vấn y tế từ xa; trong dịch vụ công trực tuyến, hợp tác học hỏi và ứng dụng các mô hình quản lý hành chính công hiện đại từ các quốc gia tiên tiến.

- Về thách thức:

+Yêu cầu thay đổi lớn trong thể chế và năng lực quản lý. Để hợp tác quốc tế về quản trị quốc gia thành công cần xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý đồng bộ, liên thông để thích ứng với các mô hình kinh tế mới, đặc biệt là kinh tế tuần hoàn. Quá trình chuyển đổi cần thay đổi tư duy từ kiểm soát hành chính sang kiến tạo sự phát triển, hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu chuyển đổi số và xanh. Hơn nữa, hợp tác quốc tế đòi hỏi năng lực quản trị quốc gia, đặc biệt là ở địa phương, phải đổi mới và nâng cao hiệu quả để có thể dẫn dắt và điều phối hiệu quả quá trình chuyển đổi phức tạp này.

+ Áp lực thích ứng từ doanh nghiệp. Hợp tác gây áp lực đòi hỏi doanh nghiệp phải thay đổi mô hình sản xuất, kinh doanh, chú trọng đến các chỉ số về môi trường, xã hội, giảm tiêu hao năng lượng, sử dụng công nghệ mới và tuân thủ các cam kết phát triển bền vững. Doanh nghiệp cần vượt qua các rào cản về chi phí công nghệ, quy định pháp lý cũng như thay đổi nhận thức để đáp ứng các yêu cầu mới về phát triển xanh, bền vững hay yêu cầu về các sản phẩm có nhãn "xanh" và "tuần hoàn" từ thị trường.

+ Áp lực về nguồn lực và công nghệ. Để hợp tác quốc tế trong phát triển hạ tầng số, hạ tầng xanh, công nghệ cao thành công đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn, cần huy động hiệu quả cả nguồn lực trong nước và quốc tế. Cần đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao có kỹ năng về công nghệ, quản trị số và nhận thức xanh để đáp ứng yêu cầu của sự chuyển đổi này. Trong đó, các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là các hợp tác xã, phải đối mặt với chi phí đầu tư ban đầu cho công nghệ và quy trình mới để chuyển đổi sang kinh tế xanh và tuần hoàn.

3. Trong thời gian tới, nhằm thúc đẩy hợp tác quốc tế trong quản trị quốc gia cho chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn ở nước ta cần có các giải pháp đột phá, đó là: Một là, tăng cường chuyển giao công nghệ; Hai là, phát triển tài chính xanh; Ba là, hoàn thiện thể chế pháp lý; Bốn là, đẩy mạnh hợp tác công - tư và huy động nguồn lực; Năm là, đầu tư vào nguồn nhân lực chất lượng cao. Cụ thể:

Thứ nhất, tăng cường chuyển giao công nghệ. Hợp tác quốc tế luôn phải đặt mục tiêu hướng tới thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đặc biệt là công nghệ xanh và công nghệ số, để thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu, chính sách và thị trường. Đồng thời tích cực học hỏi và vận dụng kinh nghiệm quốc tế về công nghệ, giải pháp và mô hình vận hành từ các tập đoàn và tổ chức quốc tế.

Thứ hai, phát triển tài chính xanh. Chính phủ cần hỗ trợ phát triển và áp dụng các công cụ tài chính xanh như trái phiếu xanh, thị trường carbon và tài chính hỗn hợp. Đồng thời, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn cho các dự án xanh thông qua các cơ chế ưu đãi về tài chính và pháp lý.

Thứ ba, hoàn thiện thể chế pháp lý. Việt Nam cần sớm bổ sung, hoàn thiện khung pháp lý cho chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, tạo cơ sở để phát triển các mô hình kinh doanh và quản lý mới. Đồng thời xây dựng hệ thống phân loại xanh phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững cũng như tiêu chuẩn quốc tế, hỗ trợ các cơ quan quản lý và doanh nghiệp đánh giá, định hướng phát triển. Cùng với đó là ban hành các chính sách ưu đãi và hỗ trợ đặc biệt cho các dự án thí điểm xanh, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ sạch, năng lượng tái tạo và mô hình kinh tế tuần hoàn.

Thứ tư, đẩy mạnh hợp tác công - tư và huy động nguồn lực. Tăng cường hợp tác công - tư, huy động mọi nguồn lực trong xã hội để thúc đẩy quá trình chuyển đổi số và kinh tế xanh, đặc biệt là từ khu vực doanh nghiệp có năng lực công nghệ tốt.Phát triển hệ sinh thái số,xây dựng hệ sinh thái du lịch thông minh, phát triển các sản phẩm công nghệ số phù hợp với nhu cầu thực tế và yêu cầu quản trị hiện đại.

Thứ năm, đầu tư vào nguồn nhân lực chất lượng cao. Chú trọng đầu tư dài hạn để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng thích ứng với các yêu cầu mới của kỷ nguyên số và kinh tế xanh.Tăng cường giáo dục và truyền thông để nâng cao nhận thức của toàn xã hội về tiêu dùng bền vững và vai trò của kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn trong tiến trình phát triển đưa Việt Nam vững bước trong kỷ nguyên mới./.

TS. Nguyễn Văn Dương

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

------------------------------

Chú thích:

[1]2021- Glasgow, Scotland.

[2] Xem thêm : “Tập đoàn LTP đầu tư hệ thống điện mặt trời, thúc đẩy sản xuất bền vững trong ngành dệt may” https://dientuungdung.vn/. Ngày đăng  30/10/202517:42