Hướng đi tất yếu cho phát triển bền vững đó là nâng cao năng lực số cho nguồn nhân lực
Hiện nay, năng lực số đã trở thành yếu tố then chốt, định hình lại cách chúng ta sống và làm việc. Sự trỗi dậy của các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data) và điện toán đám mây đang tạo ra những thay đổi sâu rộng trên toàn cầu, tác động đến mọi khía cạnh của kinh tế - xã hội. Vì vậy, việc nâng cao năng lực số cho nguồn nhân lực không chỉ là lựa chọn mà đã trở thành hướng đi tất yếu để đảm bảo sự phát triển bền vững cho các quốc gia và tổ chức.
1. Trong quá trình thực hiện chuyển đổi số, Đảng và Nhà nước cũng nhấn mạnh đến việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi số. Đảng và Nhà nước đã có một loạt các chính sách nhằm hỗ trợ, khuyến khích phát triển nhân lực đáp ứng chuyển đối số, như: Nghị quyết 36-NQ/TW, ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị xác định việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phải gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; Quyết định số 99/QĐ-TTg, ngày 14/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực an toàn, an ninh thông tin đến năm 2020 (Đề án 99); Quyết định số 749/QĐ-TTg, ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Trong đó, nhấn mạnh vai trò của nguồn nhân lực số và đặt ra các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể trong phát triển nguồn nhân lực số. Tiếp nối sau khi Đề án 99 kết thúc, ngày 06/01/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 21/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực an toàn thông tin giai đoạn 2021-2025”; Quyết định số 146/QĐ-TTg, ngày 28/01/2022 phê duyệt Đề án “Nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động thúc đẩy thực hiện chuyển đổi số; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng xây dựng Đề án Nâng tầm kỹ năng lao động Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045.
Theo Báo cáo chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam năm 2022 của Bộ Thông tin và Truyền thông, cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin và an toàn thông tin ngày càng được bổ sung, phát triển. Giai đoạn 2017 - 2022, tỷ lệ cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin trong các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chiếm gần 2%; tỷ lệ cán bộ chuyên trách an ninh thông tin tăng 0,4%. Đối với cơ quan nhà nước các tỉnh/thành phố, tỷ lệ cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin tăng 0,3% giai đoạn 2017 - 2022.
Tuy nhiên, tỷ lệ cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin và an toàn thông tin ở các bộ, cơ quan thuộc bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ cao hơn và tăng nhanh hơn ở các cơ quan nhà nước của tỉnh, thành phố.
Theo Báo cáo về thị trường IT Việt Nam 2023 của TopDev, lực lượng lao động đang làm việc trong ngành công nghệ thông tin năm 2023 ước tính đạt 530.000 lao động trong khi cầu về nhân lực này được xác định là cần khoảng 550.000. Tỷ lệ lao động trong ngành này chỉ chiếm 1% trong tổng lực lượng lao động trên 15 tuổi của toàn nền kinh tế, đây là tỷ lệ khá thấp so với các nước định hướng công nghệ, như: Hoa Kỳ (4%), Hàn Quốc (2,5%) hay Ấn Độ (1,78%). Mặc dù, đứng top 10 các quốc gia đào tạo ra nhiều kỹ sư nhất sau: Nga, Mỹ, Iran, Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Ukraine, Mexico, Pháp và đang đặt mục tiêu trong thời gian tới nhân lực công nghệ thông tin sẽ chiếm 2%-3% dân số, tức là nhân lực số sẽ vào khoảng 2-3 triệu người, thì mục tiêu này của Việt Nam cũng khó thực hiện được. Do đó, Việt Nam được xác định là vẫn sẽ thiếu hụt khoảng gần 200 nghìn lập trình viên/kỹ sư.
Cũng theo Báo cáo về thị trường IT Việt Nam 2023, đánh giá về chất lượng nhân lực số, trong số hơn 57.000 sinh viên IT tốt nghiệp mỗi năm chỉ có khoảng 30% lực lượng nhân sự đáp ứng được những kỹ năng và chuyên môn yêu cầu thực tế mà doanh nghiệp đặt ra, 70% còn lại cần được bố trí đào tạo thêm tại doanh nghiệp trong 3 - 6 tháng để đạt hiệu quả công việc tương ứng. Như vậy, sự thiếu hụt lao động số không chỉ xuất phát từ việc đào tạo nguồn nhân lực chưa đáp ứng đủ số lượng mà còn xuất phát từ chênh lệch giữa chất lượng của lao động với nhu cầu của thị trường. Chất lượng nhân lực số còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường, quá trình nâng cao năng lực số cho nguồn nhân lực tại Việt Nam hiện vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức lớn, xuất phát từ một số nguyên nhân sau, đó là:
Thứ nhất, rào cản tâm lý và thói quen làm việc cũ. Đặc biệt ở lao động trung niên, tâm lý ngại thay đổi, sợ công nghệ là trở ngại lớn trong việc tiếp cận kỹ năng số. Điều này không chỉ gây lãng phí nguồn lực mà còn làm chậm quá trình đổi mới mô hình tổ chức.
Thứ hai, bất bình đẳng về hạ tầng và công cụ số. Tỷ lệ người sử dụng internet tại Việt Nam đạt khoảng 79,1% vào đầu năm 2024 cho thấy, vẫn còn một bộ phận dân số chưa được tiếp cận với internet, đặc biệt ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Sự chênh lệch lớn về hạ tầng công nghệ và tiếp cận thiết bị số giữa các vùng miền, giữa doanh nghiệp lớn và SMEs cũng là rào cản lớn. Theo Tổng cục Thống kê (2023), có 43% doanh nghiệp nhỏ không có hạ tầng CNTT đủ dùng cho chuyển đổi số. Tại khu vực nông thôn, chỉ 18% người lao động có máy tính cá nhân phục vụ học tập kỹ năng số.
Thứ ba, khoảng cách nhận thức và hành động. Phần lớn lực lượng lao động Việt Nam vẫn còn thiếu các kỹ năng số cần thiết.
Thứ tư, thiếu hụt chương trình đào tạo phù hợp.Hiện nay, nhiều chương trình đào tạo kỹ năng số vẫn mang tính hàn lâm, nặng lý thuyết, thiếu thực hành, không phù hợp với trình độ và nhu cầu cụ thể của từng nhóm đối tượng. Các SME, đặc biệt ở địa phương, gặp khó khăn trong tiếp cận chương trình đào tạo chất lượng.
Thứ năm, nhiều doanh nghiệp và người lao động vẫn hiểu chưa đầy đủ về bản chất và vai trò của năng lực số[1]. Điều này dẫn đến việc đầu tư vào đào tạo kỹ năng số còn rời rạc, hình thức, không gắn với nhu cầu thực tế.
2. Có thể nhận thấy rằng, trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra sâu rộng, việc nâng cao năng lực số không còn là lựa chọn mà là yêu cầu sống còn để đảm bảo năng suất lao động, tính cạnh tranh và sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Để nâng cao năng lực số cho nguồn nhân lực trong thời gian tới, cần thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, đối với bản thân cán bộ, công chức, viên chức và người lao động, cần tăng cường tính chủ động và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Cần xác định các thiếu hụt về năng lực, kỹ năng số; xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ, đáp ứng các yêu cầu của chuyển đổi số. Từng cá nhân cần có nhận thức rõ hơn về tương lai, xác định và thực hiện đúng vai trò của mình trong chuyển đổi số.
Hai là, tiếp tục xây dựng hành lang pháp lý, cũng như thiết lập hạ tầng kỹ thuật số phục vụ quá trình chuyển đổi số và phát triển kỹ năng số cho lực lượng lao động. Chính phủ cần hoạch định chính sách, ngân sách hỗ trợ cho các cơ quan nhà nước trong quá trình chuyển đổi số cũng như đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số, năng lực số cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động. Đồng thời, Chính phủ và Bộ Nội vụ cần nhanh chóng hoàn thành đề án vị trí việc làm và bổ sung chức danh phụ trách chuyển đổi số ở cơ quan, đơn vị kèm theo các tiêu chí, điều kiện và quy định về chức năng, nhiệm vụ cụ thể.
Ba là, hợp tác công - tư - quốc tế để tăng tốc đào tạo. Khuyến khích hợp tác với các nền tảng, như: Coursera, Google Career Certificates, Microsoft Learn, để tổ chức đào tạo quy mô lớn. Kêu gọi doanh nghiệp công nghệ đồng hành đào tạo miễn phí cho sinh viên, người lao động chuyển ngành.Nâng cao năng lực số cho nguồn nhân lực không thể thực hiện theo kiểu phong trào, ngắn hạn, hoặc “đào tạo cho có”. Đây phải là chiến lược quốc gia, bám sát nhu cầu của thị trường lao động, gắn chặt với chuyển đổi số doanh nghiệp và cộng đồng. Nếu thực hiện nghiêm túc và có hệ thống, đây sẽ là đòn bẩy then chốt để Việt Nam phát triển bền vững trong nền kinh tế số toàn cầu.
Bốn là, tái cấu trúc hệ thống giáo dục - đào tạo gắn với kỹ năng số. Đưa kỹ năng số thành môn học bắt buộc từ phổ thông, tập trung vào năng lực sử dụng công cụ số, tư duy số, an toàn mạng. Đối với bậc đại học - dạy nghề, cần tích hợp kỹ năng số vào tất cả các ngành học (không chỉ công nghệ); đào tạo sinh viên sử dụng thành thạo các công cụ số của ngành nghề như: ERP, CRM, phân tích dữ liệu, IoT,… Thúc đẩy mô hình học tập suốt đời qua nền tảng trực tuyến (MOOCs, micro-credentials), đặc biệt cho người đang đi làm.
Năm là, doanh nghiệp là trung tâm phát triển năng lực số thực tiễn. Nhà nước cần khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo kỹ năng số qua chính sách ưu đãi thuế, hỗ trợ chi phí đào tạo nội bộ. Doanh nghiệp cần xây dựng lộ trình phát triển năng lực số cho từng nhóm nhân sự: từ nhân viên văn phòng đến công nhân sản xuất. Đưa kỹ năng số vào KPIs, tiêu chí đánh giá hiệu quả công việc, không chỉ làm hình thức, chiếu lệ.
Sáu là, giảm bất bình đẳng số, gồm: Hạ tầng - thiết bị - cơ hội tiếp cận. Mở rộng vùng phủ internet tốc độ cao, đặc biệt tại vùng sâu vùng xa. Cung cấp thiết bị học tập số cho các đối tượng yếu thế (học sinh nghèo, người lao động khu công nghiệp). Triển khai trung tâm học tập số cộng đồng (Digital Hub) tại địa phương - nơi người dân có thể học kỹ năng số miễn phí.
Bảy là, đo lường, giám sát và công khai kết quả nâng cao năng lực số. Hàng năm, cơ quan quản lý nhà nước cần công bố báo cáo “Chỉ số năng lực số của nguồn nhân lực Việt Nam” theo ngành - vùng - nhóm tuổi. Từ đó, định hướng chính sách đầu tư và đào tạo có trọng tâm, tránh dàn trải. Xây dựng hệ thống đánh giá trực tuyến trình độ kỹ năng số, cấp chứng chỉ công nhận trên toàn quốc.
Tám là, thiết lập khung năng lực số quốc gia theo chuẩn quốc tế. Xây dựng và áp dụng Khung năng lực số quốc gia (Vietnam Digital Competence Framework) tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế, như: DigComp (EU) hoặc SFIA (Úc). Khung này phải phân tầng trình độ (basic - intermediate - advanced) và phân loại theo vị trí việc làm, không chung chung. Đây là căn cứ để thiết kế chương trình đào tạo, đánh giá, tuyển dụng và phát triển nghề nghiệp./.
ThS. Nguyễn Tiến Đạt
Báo Quân đội nhân dân
-----------
Chú thích:
[1] Theo khảo sát của VCCI năm 2023, thì chỉ 26% doanh nghiệp SMEs có chiến lược cụ thể về phát triển kỹ năng số cho nhân sự. Hơn 55% người lao động cho rằng kỹ năng số “không cần thiết với công việc hiện tại”.
