Khoa học - công nghệ: Chìa khóa giúp Việt Nam khẳng định vị thế trong ASEAN
Để vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới trong bối cảnh thế giới và khu vực biến động nhanh, phức tạp và khó lường, Việt Nam xác định khoa học - công nghệ là chìa khóa giúp khẳng định vị thế của mình trong ASEAN.
Từ một thành viên mới với trình độ phát triển còn chênh lệch so với các nước sáng lập, trong 30 năm qua (1995 - 2025) Việt Nam đã từng bước vươn lên trở thành thành viên chủ động, có trách nhiệm, giữ vị trí, vai trò nòng cốt, tham gia tích cực vào quá trình xây dựng tầm nhìn phát triển và định hướng chính sách lớn của ASEAN. Để vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới trong bối cảnh thế giới và khu vực biến động nhanh, phức tạp và khó lường, Việt Nam xác định khoa học - công nghệ là chìa khóa giúp khẳng định vị thế của mình trong ASEAN. Vì khoa học - công nghệ giúp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xanh và bền vững, đồng thời giúp hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực, tạo ra những đóng góp quan trọng cho sự phát triển chung của cả khối. Do đó, xác định khoa học - công nghệ là “chìa khóa” - một trong những yếu tố then chốt để khẳng định vị thế Việt Nam trong ASEAN là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với xu thế phát triển chung của khu vực và thế giới.
1. Vị thế của Việt Nam trong ASEAN
Vị thế của Việt Nam trong ASEAN được thể hiện qua vai trò thành viên chủ động, tích cực và có trách nhiệm, với những đóng góp quan trọng trong việc nâng cao vị thế của Hiệp hội trên trường quốc tế. Trong suốt 30 năm là thành viên ASEAN, Việt Nam không ngừng củng cố và nâng cao vị thế của mình với tư cách là thành viên chủ động, tích cực, có trách nhiệm, cùng những đóng góp quan trọng trong việc định hình sự phát triển chung,nâng cao vị thế của Hiệp hội trên trường quốc tế, đồng thời lan tỏa ảnh hưởng quốc gia ra khu vực và thế giới. Có thể khái quát những đóng góp nổi bật tạo dựng và củng cố vị thế của Việt Nam trong ASEAN, đó là:
- Thứ nhất, là thành viên tích cực, chủ động và có trách nhiệm:
Sự tham gia của Việt Nam giúp ASEAN trở thành một khối đoàn kết, thống nhất, có tiếng nói chung trong các vấn đề khu vực và quốc tế. Việt Nam gia nhập ASEAN đã tích cực thúc đẩy kết nạp các nước Lào, Myanmar (1997), Campuchia (1999), đưa Hiệp hội hoàn thành mục tiêu hội đủ 10 nước, bao quát toàn bộ khu vực Đông Nam Á, xóa đi khoảng cách giữa 2 nhóm nước ASEAN và Đông Dương vốn tồn tại trước đó. Việc mở rộng thành viên không chỉ nâng cao vị thế quốc tế của ASEAN mà còn củng cố hơn nữa sự đoàn kết và tự cường của Cộng đồng,đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực.
Tham gia ASEAN, Việt Nam đã khởi xướng, đóng vai trò nòng cốt và thúc đẩy nhiều sáng kiến, hình thành các quyết sách lớn trong ASEAN, như: Hiệp ước Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ, năm 1995); Tầm nhìn ASEAN 2020 (năm 1997) và các kế hoạch triển khai Tầm nhìn, như Chương trình hành động Hà Nội, Kế hoạch hành động Viêng Chăn; Tuyên bố hòa hợp ASEAN II (năm 2003); Hiến chương ASEAN (năm 2007); Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN (2009 - 2015); Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025, các kế hoạch triển khai trên từng trụ cột và nhiều thỏa thuận quan trọng khác, như Kế hoạch tổng thể về kết nối ASEAN (MPAC) và Sáng kiến liên kết ASEAN (IAI) về thu hẹp khoảng cách phát triển,...đồng thời đảm nhận thành công vai trò điều phối quan hệ giữa ASEAN với các đối tác lớn như với Trung Quốc (2009 - 2012), với Liên minh châu Âu (EU) (2012-2015), với Ấn Độ (2015 - 2018) và với Nhật Bản (2018 - 2021),...
- Thứ hai, đóng góp đáng kể vào liên kết kinh tế khu vực và thúc đẩy thương mại tự do:
Gia nhập ASEAN (28/7/1995), là một bước ngoặt lớn, đánh dấu sự hội nhập sâu rộng vào khu vực và quốc tế, từ đâyViệt Nam tích cực tham gia các hoạt động hợp tác kinh tế, thương mại, đóng góp vào việc xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực ổn định và phát triển. Đặc biệt, sự tham gia tích cực của Việt Nam vào các hiệp định thương mại tự do (FTA) bao gồm: Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC),Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), đã góp phần kết nối khu vực với hầu hết các quốc gia trên thế giới, đảm bảo sự gắn kết kinh tế ASEANvới các thị trường lớn.
- Thứ ba, có những đóng góp quan trọng nâng vị thế ASEAN trên trường quốc tế:
Việt Nam đã nhiều lần đảm nhận vai trò kiến tạo, điều phối, dẫn dắt trong các cơ chế hợp tác, góp phần định hình một ASEAN đoàn kết, chủ động và gắn kết.Cụ thể: trong 2 lần đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Năm ASEAN đã ghi dấu ấn nổi bật vai trò, vị thế của Việt Namvới các chủ đề “Hướng tới Cộng đồng ASEAN: Từ tầm nhìn đến hành động” (2010), hay “Gắn kết và chủ động thích ứng” (2020) trong bối cảnh đại dịch Covid-19. Đặc biệt, Trong 2 nhiệm kỳ làm Ủy viên không Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (HĐBA LHQ) 2008 - 2009 và 2020 - 2021, Việt Nam đã đóng góp vào việc củng cố đoàn kết nội bộ ASEAN và nâng cao vai trò, vị thế của Hiệp hội trên trường quốc tế. Thông qua việc thúc đẩy luật pháp quốc tế, đề xuất các sáng kiến về hòa bình và an ninh, Việt Nam đã làm cho tiếng nói của ASEAN được lắng nghe nhiều hơn trong các vấn đề toàn cầu, từ đó góp phần định vị, nâng tầm ảnh hưởng của Hiệp hội.Hơn nữa, Việt Nam không chỉ tham gia đầy đủ các cơ chế hợp tác mà còn giữ vai trò dẫn dắt, kiến tạo, thúc đẩy đưa phát triển Tiểu vùng Mekong trở thành nội dung ưu tiên trong chương trình nghị sự của ASEAN và đóng góp thiết thực vào quá trình xây dựng Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045.
Đánh giá vị trí, vai trò của Việt Nam trong ASEAN,ngài Anwar Ibrahim, Thủ tướng Malaysia - Nước Chủ tịch ASEAN năm 2025 đã khẳng định: “Kể từ khi gia nhập ASEAN năm 1995, Việt Nam đã trở thành trụ cột không thể thiếu trong nỗ lực chung của chúng ta. Việt Nam đã liên tục thể hiện cam kết mạnh mẽ đối với mục tiêu và giá trị chung của ASEAN và đóng vai trò thiết yếu trong việc củng cố đoàn kết, gắn kết, đặc biệt trong các giai đoạn đầy bất định và biến động trên toàn cầu”[1].
2. Vai trò của khoa học - công nghệ trong khẳng định vị thế Việt Nam tại ASEAN
- Bối cảnh Việt Nam khẳng định vị thế trong ASEAN:
Việt Nam xác định dùng khoa học - công nghệ (KH-CN) để khẳng định vị thế tại ASEAN diễn ra trong bối cảnhtoàn cầu hóavà cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đang diễn ra mạnh mẽ, đi cùng với quá trình hội nhập khu vực, quốc tế ngày một toàn diện, sâu rộng. Trong bối cảnh đó, Việt Nam nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của KH-CN trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế số, đổi mới sáng tạo, củng cố, nâng cao vị thế, phát huy ảnh hưởng trong ASEAN cũng như trên trường quốc tế.
- Vai trò “chìa khóa”của khoa học - công nghệ trong khẳng định vị thếViệt Nam tại ASEAN:
Việt Nam khẳng định vị thế tại ASEAN bằng cách tập trung phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh quốc gia và tham gia sâu rộng vào các trụ cột của Cộng đồng. Trong đó KH-CNđược coi như “chìa khóa” để Việt Nam phát triển đất nước, đổi mới, hội nhập thành công;cùng khu vực giải quyết các thách thức chung và phát triển bền vững.Vai trò “chìa khóa” của KH-CN giúp Việt Nam khẳng định vị thế tại ASEAN thể hiện tập trung ở những nội dung chính sau:
Thứ nhất, KH-CN là động lực phát triển kinh tế.Để khẳng định vị thế trong ASEAN, Việt Nam cần tận dụng KH-CN để nâng cao năng suất lao động, đổi mới sáng tạo, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, từ đó tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập toàn cầu. Tập trung đầu tư, phát triển các ngành công nghệ cao sẽ tạo ra sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng lớn, từ đó tạo lợi thế cạnh tranh cho Việt Nam. Việc chú trọng đầu tư vào KH-CN giúp Việt Nam phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút đầu tư nước ngoài, tăng cường hợp tác khu vực trong các lĩnh vực công nghệ mới, từ đó nâng cao vị thế, uy tín và vai trò chủ động của Việt Nam trong khu vực cũng như trên trường quốc tế.Hơn nữa,Việt Nam xác định phát triển KH-CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới. Đầu tư và phát triển KH-CN giúp Việt Nam xây dựng nền tảng công nghiệp hiện đại, nâng cao tiềm lực quốc gia, năng lực tự chủ, đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển chung của ASEAN.
Thứ hai, KH-CN là công cụ quan trọng thúc đẩy đổi mới và hội nhập. KH-CN là công cụ quan trọng để Việt Nam ứng dụng công nghệ mới, tiếp thu tri thức tiên tiến từ khu vực và thế giới, từ đó thích ứng với xu thế phát triển chung, khẳng định vai trò chủ động trong quá trình hội nhập. Để khẳng định vị thế trong ASEAN, Việt Nam cũng cần chia sẻ kinh nghiệm, công nghệ và tri thức tiên tiến với các nước trong khối, đồng thời hợp tác, học hỏi từ các quốc gia khác để cùng nhau phát triển. Hợp tác KH-CN giữa Việt Nam với các quốc gia trong ASEAN giúp tăng cường tiềm lực, nâng cao trình độ nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ của các thành viên, đưa Việt Nam trở thành một trung tâm công nghệ, một “ngôi sao mới” trong khu vực, từ đó nâng cao vị thế và uy tín của mình trong mắt các quốc gia thành viên ASEAN và cộng đồng quốc tế. Qua đó, Việt Nam sẽ đóng vai trò dẫn dắt trong việc định hướng các chiến lược phát triển KH-CN của ASEAN, có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong việc định hình tương lai của Cộng đồng, không chỉ về kinh tế mà còn về khoa học và công nghệ, đóng góp vào mục tiêu xây dựng một Cộng đồng ASEAN tự cường, năng động, phát triển bền vững.
Thứ ba, KH-CN là giải pháp then chốt thúc đẩy phát triển bền vững, giải quyết các thách thức chung. Ứng dụng KH-CN trong các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, nông nghiệp sạch, quản lý tài nguyên thiên nhiên giúp Việt Nam thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xanh và bền vững, phù hợp với định hướng phát triển chung của ASEAN. Việc ứng dụng KH-CN không chỉ phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế mà còn góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống và củng cố các mục tiêu Việt Nam đã cam kết với khu vực.Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nhiều lần khẳng định chủ trương: “Việt Nam không chấp nhận hy sinh an sinh xã hội, tiến bộ xã hội và môi trường để đạt được tăng trưởng kinh tế”. Trong bối cảnh các quốc gia ASEAN cùng đối mặt với nhiều thách thức như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, an ninh mạng,…, KH-CN chính là giải pháp then chốt để Việt Nam đóng góp vào các nỗ lực chung của khu vực, từ đó củng cố vai trò và uy tín của mình.
3. Giải pháp để “chìa khóa” khoa học - công nghệ giúp Việt Nam khẳng định vị thế trong ASEAN
Trong bối cảnh hiện nay, để KH-CN trở thành “chìa khóa” giúp Việt Nam khẳng định vị thế trong ASEAN, chúng ta cần quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết đề ra 7 nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm, bao gồm: hoàn thiện thể chế, tăng cường đầu tư hạ tầng, phát triển nhân tài, đẩy mạnh chuyển đổi số trong doanh nghiệp và cơ quan nhà nước, cùng hợp tác quốc tế, giúp Việt Nam nâng cao vị thế trong ASEAN vững bước tiến vào kỷ nguyên mới. Cụ thể,tập trung triển khai thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Thứ nhất, giải pháp đổi mới tư duy. Đây là giải pháp đột phá quan trọng mang tính quyết định thành công. Thực hiện giải pháp này, chúng ta cần đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức tạo đột phá về đổi mới tư duy theo hướng người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể, nguồn lực, động lực chính; nhà khoa học là nhân tố then chốt; Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.Từ đó xác định quyết tâm chính trị mạnh mẽ, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tạo xung lực mới, khí thế mới trong toàn xã hội về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Thứ hai,tăng cường đầu tư, hoàn thiện thể chế, chính sách. Thực hiện giải pháp này,Nghị quyết 57-NQ/TW yêu cầu tăng cường đầu tư, hoàn thiện hạ tầng cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đồng thờikhẩn trương, quyết liệt hoàn thiện thể chế; xoá bỏ mọi tư tưởng, quan niệm, rào cản đang cản trở sự phát triển; đưa thể chế thành một lợi thế cạnh tranh trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Theo đó, nhà nước cần có chính sách khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu và phát triển (R&D) trong các lĩnh vực công nghệ trọng điểm, như: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo và vật liệu mới.Tập trung ưu tiên nguồn lực quốc gia đầu tư cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.Chính phủ cần tạo ra hành lang pháp lý rõ ràng và thuận lợi để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, và thương mại hóa các sản phẩm khoa học công nghệ.Đổi mới tư duy xây dựng pháp luật bảo đảm yêu cầu quản lý và khuyến khích đổi mới sáng tạo, loại bỏ tư duy “không quản được thì cấm”. Bộ Tài chính cần xây dựng các chính sách ưu đãi về thuếhỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp (startup) và các tổ chức nghiên cứu, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ cao.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực. Thực hiện giải pháp này, Nghị quyết 57-NQ/TW yêu cầu chú trọng đào tạo bảo đảm nguồn nhân lực trình độ cao cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; có cơ chế, chính sách đặc biệt về nhân tài. Cụ thể: tập trung đầu tư vào giáo dục, đặc biệt là đào tạo chuyên sâu về khoa học, công nghệ, và kỹ thuật. Thu hút các chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư giỏi trong và ngoài nước. Tăng cường đào tạo kỹ năng số cho người lao động, đặc biệt là thế hệ trẻ, để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động trong kỷ nguyên số. Xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, năng động, và sáng tạo để thu hút và giữ chân nhân tài.
Thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Giải pháp này yêu cầu chính phủtạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo phát triển, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ mới. Xây dựng một hệ sinh thái khởi nghiệp hoàn chỉnh, bao gồm các trung tâm ươm tạo, không gian làm việc chung cũng như hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm. Nhà nước cần xây dựngchính sách khuyến khích hợp tác công tưgiữa các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp với các cơ quan quản lý nhà nước để thúc đẩy đổi mới sáng tạo,khuyến khích doanh nghiệp tái đầu tư hạ tầng, đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D), đẩy mạnh tiêu dùng số.
Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế. Để thực hiện tốt giải pháp này chúng ta cần chủ động tham gia các mạng lưới nghiên cứu, hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khoa học công nghệ. Chủ động thông qua hợp tác phát huy tối đa tiềm năng, trí tuệ Việt Nam nhanh chóng tiếp thu, hấp thụ, làm chủ và ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến của thế giới. Chủ động tăng cường hợp tác với các nước tiên tiến để tiếp nhận, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực công nghệ. Chủ độngđẩy mạnh hợp tác quốc tế và liên kết khu vực trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Chủ động đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, nhất là nghiên cứu cơ bản, tiến tới tự chủ và cạnh tranh về công nghệ ở một số lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu, tiềm năng, lợi thế,… phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tích cực tham gia các diễn đàn, hội nghị quốc tế về khoa học công nghệ để chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Tóm lại, thực hiện đồng bộ các giải pháp trên chúng ta có thể tin tưởng, kỳ vọng Việt Nam sẽ thực hiện được các mục tiêu đặt ra tại Nghị quyết số 57-NQ/TW. Đến năm 2030, tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt mức tiên tiến ở nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao; Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á, nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử; nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo, trung tâm phát triển một số ngành, lĩnh vực công nghiệp công nghệ số mà Việt Nam có lợi thế. Tối thiểu có 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến[2]. Đến năm 2045, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phát triển vững chắc, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Việt Nam có quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP; là một trong các trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới; thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Tỉ lệ doanh nghiệp công nghệ số tương đương các nước phát triển; tối thiểu có 10 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến. Thu hút thêm ít nhất 5 tổ chức, doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, đầu tư nghiên cứu, sản xuất tại Việt Nam[3]. Việt Nam đã dùng “chìa khóa” KH-CN để khai thác, phát huy những lợi thế của mình về nguồn nhân lực trẻ, năng động và tiềm năng công nghệ để khẳng định vị thế trong ASEAN, trở thành một trung tâm đổi mới sáng tạo và công nghệ của khu vực, đưa đất nước phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.
ThS. Trần Thị Xuân
Viện Chính trị & Quan hệ quốc tế
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
----------
Chú thích:
[1] Dẫn theo Hoàng Phương: “30 năm gia nhập ASEAN - Khẳng định dấu ấn và vị thế của Việt Nam” https://dangcongsan.org.vn/. Ngày đăng 09/08/2025 | 00:00
[2] “07 nhóm nhiệm vụ, giải pháp tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia theo Nghị quyết số 57-NQ/TW” https://molisa.gov.vn/. Ngày đăng 13/01/2025.
[3] “07 nhóm nhiệm vụ, giải pháp tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia theo Nghị quyết số 57-NQ/TW” https://molisa.gov.vn/. Ngày đăng 13/01/2025.
