Thế giới 80 năm nhìn lại
Cách đây đúng 80 năm, Chiến tranh Thế giới thứ Hai kết thúc không chỉ đánh dấu sự chấm dứt của một trong những cuộc xung đột tàn khốc nhất trong lịch sử nhân loại mà còn mở ra một chương mới, đầy hứa hẹn cho tương lai. Tuy nhiên, khi nhìn vào bức tranh toàn cầu hiện tại với đầy rẫy những bất ổn, xung đột và khủng hoảng, nhiều người không khỏi đặt ra câu hỏi: Liệu 80 năm qua, thế giới đã thật sự tiến lên hay đang lùi lại?
Để trả lời cho câu hỏi này, trước tiên chúng ta hãy nhìn lại bức tranh thế giới trước năm 1945 - thời kỳ mà thế giới bị chia cắt thành các khu vực, bị chi phối bởi các đế chế và không ngừng chìm trong những cuộc chiến tranh xung đột. Từ Hòa ước Westphalia năm 1648, các nước châu Âu đã thiết lập hệ thống cân bằng quyền lực và nguyên tắc bình đẳng chủ quyền. Thế nhưng, hệ thống và những nguyên tắc này không thể ngăn chặn những cuộc chiến tranh xung đột tiếp tục xảy ra, khi mà các cuộc cách mạnh công nghệ lần thứ nhất làm thay đổi tương quan lực lượng, đưa một số cường quốc châu Âu trở thành đế quốc, không chỉ tiến hành các cuộc chiến tranh ngay tại lục địa châu Âu như cuộc chiến tranh Napoléon (1799 - 1814), mà còn mở rộng các cuộc viễn chinh của mình ra các lục địa khác để xâm chiếm và tranh giành thuộc địa của nhau. Trật tự hòa hợp quyền lực được thiết lập giữa 5 cường quốc mạnh nhất châu Âu (Anh, Pháp, Nga, Áo, Phổ) năm 1815 cũng chỉ giúp duy trì được hòa bình trong một thời gian ngắn. Dưới tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 2, tương quan lực lượng giữa các cường quốc lại một lần nữa thay đổi, một số nước đế quốc mới như Đức, Mỹ, Nhật nổi lên đòi phân chia lại thế giới, khiến vòng xoáy chiến tranh xung đột đã lan rộng ra toàn thế giới và lên đến đỉnh điểm trong nửa đầu thế kỷ XX với hai cuộc chiến tranh thế giới tàn khốc chưa từng có.
Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) đã cướp đi sinh mạng của hơn 16 triệu người và để lại di chứng tâm lý và chính trị sâu sắc cho toàn thế giới. Trật tự Versailles - Washington (1919 - 1922) không thể tạo ra một thế giới hòa bình, ổn định và công bằng, trái lại nó lại gieo mầm cho sự bất ổn trong tương lai, đặc biệt là sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít và chuẩn bị cho một cuộc Chiến tranh thế giới nữa. Khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra năm 1939 và kéo dài đến năm 1945, thế giới chứng kiến sự tàn bạo chưa từng có, với hàng chục triệu người thiệt mạng và các tội ác chiến tranh khủng khiếp như thảm sát Holocaust và vụ thả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki.
Những bước tiến trong quan hệ quốc tế 80 năm qua
So với bức tranh mờ mịt khói lửa chiến tranh của những giai đoạn trước năm 1945, thế giới trong 80 năm qua đã chứng kiến những thay đổi lớn, sáng màu, với những tiến bộ rõ rệt. Một trong những dấu ấn nổi bật nhất là làn sóng phi thực dân hóa mạnh mẽ diễn ra ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Đó không chỉ vì các cường quốc phương Tây, sau nhiều thập kỷ mệt mỏi vì chiến tranh, không còn đủ sức duy trì thuộc địa của họ, mà còn là do phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, đòi quyền tự do độc lập lan rộng trên toàn thế giới. Kết quả là, nếu như trước năm 1945, thế giới chỉ có 61 quốc gia chủ yếu là từ châu Âu, thì trong khoảng thời gian từ giữa những năm 1940 đến 1970, đã có hơn 80 quốc gia ở châu Phi và châu Á giành được độc lập. Hơn nữa, sau Chiến tranh Lạnh, thêm 20 quốc gia đã bước vào bàn cờ quan hệ quốc tế, làm phong phú thêm đa dạng văn hóa và chính trị toàn cầu.
Một thành quả và may mắn nữa cho loài người trong suốt 80 năm qua, là đã không để thế giới rơi vào cuộc chiến tranh thế giới thứ ba. Đó không chỉ là nhờ nỗ lực của toàn thể nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, mà còn do sự xuất hiện của vũ khí hạt nhân từ năm 1945 đã tạo ra một thực tế mới, khiến cho việc khởi xướng chiến tranh quy mô lớn trở thành điều không thể chấp nhận. Tuy nhiên, điều đáng tiếc là thế giới đã không tránh được một cuộc Chiến tranh Lạnh kéo dài hơn 4 thập kỷ (1945 - 1991), chia cắt thế giới thành hai phe đối lập do Mỹ và Liên Xô đứng đầu, dẫn đến căng thẳng, chạy đua vũ trang và các cuộc xung đột cục bộ gây nhiều chết chóc tại các khu vực trên thế giới, như Chiến tranh Triều Tiên (1952 - 1953), 2 cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ I (1946 - 1954), lần thứ II (1965 - 1975), cuộc khủng hoảng hạt nhân Cuba 1962,... Chỉ khi cả hai bên trở nên suy yếu, kiệt quệ từ những năm 1970, mới bắt đầu xuất hiện xu hướng hòa hoãn Đông - Tây. Hòa hoãn Mỹ - Trung và hòa hoãn Xô - Mỹ với các thỏa thuận cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược giữa Mỹ và Liên Xô là những tiền đề đưa đến sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh vào năm 1991. Kể từ đó, các quốc gia đều điều chỉnh chiến lược, lấy phát triển kinh tế làm trọng tâm, nhằm xây dựng sức mạnh thực sự của quốc gia.
Chiến tranh Lạnh kết thúc cũng là lúc bức tường chia cắt thị trường thế giới hạ xuống, làn sóng toàn cầu hóa, tự do hóa được giải phóng, mang đến cơ hội to lớn cho các quốc gia tiếp cận thị trường, chuyển giao công nghệ, và thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của lực lượng sản xuất. Đi kèm quá trình toàn cầu hóa là sự gia tăng phụ thuộc lẫn nhau, khiến xung đột trực tiếp giữa các cường quốc càng khó xảy ra hơn. Mặt khác, toàn cầu hóa cũng làm nảy sinh những thách thức an ninh phi truyền thống như chủ nghĩa khủng bố, biến đổi khí hậu, và tài nguyên thiên nhiên khan hiếm, khiến các nước phải ưu tiên hợp tác hơn là sự đối đầu trên qui mô toàn cầu cũng như khu vực.
Cùng với đó là những tiến bộ không ngừng của khoa học và công nghệ, đặc biệt là các cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ ba và thứ tư với sự phát triển như vũ bão của các loại công nghệ mới như công nghệ tự động hóa, internet, công nghệ AI, công nghệ sinh học - không chỉ tái định hình an ninh - chính trị và kinh tế mà còn mở ra cơ hội phát triển mới. Đồng thời, sự phát triển của khoa học công nghệ cũng dấy lên những lo ngại về “chiến tranh công nghệ cao”, gây áp lực lên các quốc gia buộc phải tìm kiếm hòa bình, thay vì xung đột.
Điểm sáng trong bức tranh thế giới 80 năm qua còn là sự nổi lên mạnh mẽ chưa từng có của chủ nghĩa đa phương, bắt đầu bằng sự ra đời của Liên hợp quốc (LHQ) ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, không chỉ nhằm ngăn ngừa xung đột mà còn gìn giữ hòa bình, giải quyết những vấn đề toàn cầu như đói nghèo, bình đẳng giới và biến đổi khí hậu. Với sự phát triển từ 51 thành viên ban đầu lên 193 quốc gia ngày nay, LHQ đã trở thành tổ chức lớn nhất và toàn diện nhất thế giới, đóng vai trò trung tâm trong việc điều phối các nỗ lực toàn cầu nhằm tìm ra giải pháp cho những thách thức nhân đạo và ổn định thế giới. Chiến tranh Lạnh kết thúc năm 1991 mở ra những điều kiện thuận lợi cho xuất hiện nhiều hơn nữa các thể chế đa phương ở cấp độ toàn cầu, như: WTO, G7/G8, G20,… hay các thể chế khu vực, như: EU, ASEAN, APEC, để giải quyết các vấn đề toàn cầu và khu vực. Sự tham gia của các cường quốc tầm trung và nhỏ trong các tổ chức quốc tế càng củng cố vai trò của chủ nghĩa đa phương, thúc đẩy cải cách và đa dạng hóa hệ thống quản trị toàn cầu. Điều này cho thấy quan hệ quốc tế đã đạt được những tiến bộ nhất định trong quá trình dân chủ hóa, cũng như một sự chuyển dịch mạnh mẽ trong cách mà các quốc gia giao tiếp và hợp tác với nhau, từ những cuộc chiến tranh tàn khốc sang các thỏa thuận hợp tác để giải quyết các thách thức toàn cầu.
Tô điểm thêm cho bức tranh thế giới trong 80 qua, là sự dịch chuyển trung tâm quyền lực thế giới từ Tây sang Đông, từ châu Âu sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương - Ấn Độ dương, nơi liên tục trong nhiều năm qua có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới, tập trung nhiều nền kinh tế lớn của thế giới, và trở thành trọng tâm chiến lược của nhiều nước trên thế giới, nơi hội tụ của các sáng kiến, chiến lược, nhưng đồng thời cũng là tâm điểm của cạnh tranh chiến lược của các nước lớn.
Cuối cùng nhưng quan trọng nhất, đó là sự chuyển dịch trật tự thế giới trong 80 năm qua. Từ một thế giới bị thống trị bởi các nước đế quốc trước Chiến tranh Thế giới thứ hai, quan hệ quốc tế đã chuyển sang một trật tự lưỡng cực, đối đầu ý thức hệ trong Chiến tranh Lạnh, mà sự tan rã của nó cùng sự sụp đổ của Liên Xô đã để lại một trật tự đơn cực với Mỹ là siêu cường duy nhất, có vai trò lãnh đạo áp đảo về kinh tế, quân sự và chính trị, định hình chương trình nghị sự quốc tế mà không gặp phải bất cứ một đối thủ nào. Tuy nhiên, khoảnh khắc đơn cực của Mỹ chỉ kéo dài khoảng 1 thập kỷ, trước khi thế giới bắt đầu chuyển sang xu thế đa cực với sự vươn lên của Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Nga, và đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ. Thoát khỏi sự ràng buộc và thống trị của một hoặc hai siêu cường quốc trong trật tự lưỡng cực hoặc đơn cực, các quốc gia vừa và nhỏ có nhiều cơ hội tự do hành động hơn trong một thế giới đa cực, đa trung tâm. Thế giới chuyển dịch từ trật tự lưỡng cực và đơn cực sang trật tự đa cực được coi là một trong những thay đổi cơ bản nhất trong quan hệ quốc tế trong 80 năm qua.
Những tồn tại của quan hệ quốc tế trong 80 năm qua
Mặc dù đã đạt được nhiều bước tiến đáng kể, quan hệ quốc tế trên chặng đường 80 năm qua dường như vẫn chưa đủ dài để nhân loại giải quyết được những thách thức cố hữu của quan hệ quốc tế, và vẫn phải đối mặt với nhiều vấn đề bất ổn mới nảy sinh. Sự phát triển của khoa học công nghệ cùng với quá trình toàn cầu hóa làm thay đổi tương quan quyền lực giữa các quốc gia, tất yếu dẫn đến sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa một bên là những cường quốc muốn thay đổi sang một trật tự mới và một bên là các cường quốc muốn duy trì trật tự cũ. Trong cuộc cạnh tranh này, các nước lớn không dám đối đầu trực tiếp với nhau, nhưng sẵn sàng can dự vào các cuộc chiến tranh ủy nhiệm, qua tay người khác để làm suy yếu các cường quốc khác.
Hơn nữa, sự chuyển dịch trật tự thế giới sang đa cực làm xuất hiện nhiều khoảng trống quyền lực, khiến các nước lớn tại các khu vực tranh giành nhau để lấp đầy, dẫn đến tình trang căng thẳng và xung đột cục bộ tại nhiều nơi trên thế giới. Hoa Kỳ và Trung Quốc, hai cường quốc lớn nhất hiện nay, đang đối diện với nhau trên nhiều mặt trận, từ thương mại, công nghệ đến quân sự. Cạnh tranh này không chỉ ảnh hưởng đến mối quan hệ song phương mà còn tác động đến ổn định toàn cầu. Căng thẳng ở Biển Đông, vấn đề Đài Loan hay Syria, Yemen đến Afghanistan, hàng triệu người đang phải sống trong đau khổ và thiếu thốn giữa những cuộc xung đột kéo dài. Đặc biệt tại Trung Đông, sự bất ổn đã kéo dài qua nhiều thập kỷ, dẫn đến hàng triệu người tị nạn và di cư, tạo ra một cuộc khủng hoảng nhân đạo nghiêm trọng mà cộng đồng quốc tế vẫn chưa thể tìm ra giải pháp thỏa đáng.
Đồng thời, khi cạnh tranh ngày càng gay gắt để tranh giành ưu thế trong một trật tự mới, các cường quốc có xu hướng chính trị cường quyền hơn, coi thường và bỏ qua vai trò của luật pháp quốc tế và các thể thế quốc tế. Thế giới hiện có nhiều diễn đàn đa phương, nhưng vẫn không có cơ chế nào đủ sức điều hòa được lợi ích của các cường quốc về những vấn đề quan trọng nhất. Nguồn lực của LHQ và các tổ chức quốc tế khác còn hạn hẹp và chịu ảnh hưởng từ các nước lớn tài trợ.
Trong khi đó, toàn cầu hóa bên cạnh những mặt tích cực, cũng làm xói mòn bản sắc văn hóa dân tộc, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh tràn lan và cạn kiệt tài nguyên, làm trầm trọng thêm sự bất công xã hội, phân hóa giàu nghèo. Mặt trái của toàn cầu hóa khiến Chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy mạnh mẽ ở một số nước phát triển, làm cản trở thương mại và đầu tư quốc tế. Cùng với đó là sự quay trở lại của chủ nghĩa dân túy tại một số nước, kể cả Mỹ và việc chính trị hóa các thể chế đa phương có nguy cơ làm xói mòn trật tự dựa trên luật lệ.
Tình trạng bất ổn, bạo loạn xã hội, thậm chí cách mạng màu, cách mạng nhung hay mùa xuân Arập diễn ra liên tiếp tại các quốc gia non trẻ, mới giành được độc lập sau Chiến tranh thế giới hai hoặc sau Chiến tranh Lạnh, chủ yếu do giới cầm quyền thiếu kinh nghiệm và yếu kém về quản lý đất nước nhưng cũng do sự can thiệp của các nước lớn trong cuộc cạnh tranh giành ảnh hưởng tại các khu vực trên thế giới.
Biến đổi khí hậu cũng là một thách thức lớn đe dọa đến sự ổn định của các quốc gia. Biến đổi khí hậu không chỉ ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên mà còn tác động đến an ninh lương thực, nước, và sinh kế của hàng triệu người. Thiên tai, hạn hán, lũ lụt, và biến đổi khí hậu đã trở thành nguyên nhân gây ra di cư quy mô lớn, tạo thêm áp lực lên các khu vực mà thường đã không ổn định. Cộng đồng quốc tế đã có những nỗ lực đáng kể để đối phó với biến đổi khí hậu qua các hiệp định như Hiệp định Paris (2015), nhưng việc thực hiện cam kết vẫn là một thách thức lớn. Nhiều quốc gia vẫn đang ưu tiên phát triển kinh tế hơn là bảo vệ môi trường, dẫn đến những mâu thuẫn nghiêm trọng trong chiến lược phát triển.
Ngoài ra, sự xuất hiện và bùng nổ của công nghệ thông tin cũng tạo ra những thách thức mới trong an ninh mạng và quyền riêng tư của cá nhân. Duy trì an ninh và phát triển bền vững trong thời đại công nghệ cao đòi hỏi các quốc gia phải có sự phối hợp chặt chẽ và tạo ra các quy phạm phù hợp trong quan hệ quốc tế.
Kết luận
Thế giới 80 năm nhìn lại, bên cạnh những câu chuyện về những mất mát và đau thương, còn là một hành trình đầy hy vọng. Quan hệ quốc tế đã trải qua nhiều khó khăn và thử thách, nhưng cũng đã có không ít tiến bộ, tạo ra những cơ hội mới cho nhân loại.
Chúng ta cần học hỏi từ lịch sử để có thể điều chỉnh tương lai. Những bất ổn và các thách thức hiện tại đang buộc chúng ta phải suy nghĩ nghiêm túc về việc xây dựng một thế giới hòa bình, ổn định và bền vững hơn. Tự do, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia là những giá trị nền tảng cần phải được tôn trọng. Tinh thần hòa giải, đối thoại và hợp tác đa phương phải được đặt lên hàng đầu trong bối cảnh thế giới phía trước vẫn còn không ít những mâu thuẫn, xung đột lợi giữa các quốc gia. Chỉ khi các quốc gia cùng nhau hợp tác và đồng hành, chúng ta mới có thể vượt qua những thách thức và xây dựng một thế giới tốt đẹp cho các thế hệ mai sau./.
Đại sứ, TS. Tôn Sinh Thành
