Chuyên đề "Đảng viên tiên phong trong học tập kỹ năng số" (Phần 2)

PHẦN II. CHỦ TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI, QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỀ CHUYỂN ĐỔI SỐ

1. Quan điểm chỉ đạo của Đảng

Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo tham quan không gian giới thiệu ứng dụng chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, ngày 19/12/2024

Chuyển đổi số, cùng với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đã và đang được Đảng ta xác định là động lực quan trọng của sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Sự thay đổi về nhận thức, tư duy và hành động của Đảng trong lĩnh vực này không diễn ra một cách đột ngột, mà là kết quả của một quá trình tích lũy, tổng kết thực tiễn và bổ sung phát triển lý luận. Trong đó, các văn kiện chỉ đạo cấp chiến lược được ban hành trong những năm gần đây đã thể hiện rõ tầm nhìn, quyết tâm chính trị và cách tiếp cận đổi mới, toàn diện của Đảng về chuyển đổi số quốc gia.

Văn kiện đầu tiên đặt nền móng quan trọng cho tư duy chiến lược của Đảng về chuyển đổi số là Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đây là văn kiện mang tính dự báo chiến lược sâu sắc, đánh dấu bước chuyển từ tư duy ứng phó sang tư duy chủ động kiến tạo và dẫn dắt. Nghị quyết nêu rõ yêu cầu phải đổi mới tư duy phát triển, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển mạnh mẽ kinh tế số, xã hội số, hình thành các mô hình quản trị quốc gia, quản trị doanh nghiệp, quản trị xã hội dựa trên dữ liệu và công nghệ số. Đặc biệt, Nghị quyết nhấn mạnh vai trò then chốt của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong việc tiếp cận, làm chủ và dẫn dắt quá trình chuyển đổi số trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương.

Để cụ thể hóa yêu cầu của Đảng trong nội bộ hệ thống chính trị, ngày 29/11/2024, Ban Bí thư ban hành Quyết định số 204-QĐ/TW phê duyệt “Đề án Chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng”. Mục tiêu nhằm đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, phong cách làm việc, rút ngắn thời gian xử lý công việc cán bộ, công chức; xây dựng hạ tầng số, nền tảng số hiện đại, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan Đảng và với các cơ quan nhà nước, MTTQ, tổ chức chính trị - xã hội. Xây dựng kiến trúc hệ thống thông tin thống nhất, nền tảng số dùng chung. Số hóa hồ sơ, giấy tờ, tài liệu; phát triển phần mềm “quản lý văn bản, điều hành và tác nghiệp”; ứng dụng hệ thống theo dõi, giám sát Nghị quyết, tiến độ chuyển đổi số. Xây dựng nền tảng định danh, xác thực điện tử riêng cho Đảng (liên kết với hệ thống quốc gia)... Đề án cũng nhấn mạnh đảm bảo an toàn, an ninh thông tin; phát triển nhân lực số trong các cơ quan Đảng. 

Gắn liền với các yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, tổ chức bộ máy trong bối cảnh mới, ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây là văn kiện mang tính nền tảng và toàn diện, xác định chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu phát triển, mà là một trong ba đột phá chiến lược của quốc gia. Nghị quyết xác định rõ các quan điểm chỉ đạo lớn, trong đó đáng chú ý là quan điểm: "Phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực chính của tăng trưởng kinh tế, phát triển nhanh và bền vững đất nước." Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu phải hoàn thiện thể chế đồng bộ, ưu tiên phát triển hạ tầng số, bảo đảm an toàn, an ninh mạng, phát triển nguồn nhân lực số chất lượng cao, xây dựng văn hóa số trong toàn xã hội. Đặc biệt, Nghị quyết đặt ra yêu cầu phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu, dẫn dắt của cán bộ, đảng viên trong chuyển đổi tư duy số, hành động số, xây dựng môi trường làm việc số, phong cách lãnh đạo số và hình thành hệ sinh thái số trong hệ thống chính trị.

Như vậy, qua hệ thống các văn kiện từ năm 2019 đến nay, có thể thấy rõ sự phát triển nhất quán, liên tục và ngày càng toàn diện trong tư duy chỉ đạo của Đảng về chuyển đổi số. Từ việc chủ động tham gia cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đến xác lập chuyển đổi số là đột phá chiến lược, đưa công nghệ số vào nội bộ cơ quan Đảng, gắn kết với cải cách bộ máy và đổi mới phương thức lãnh đạo – Đảng ta đã xác định chuyển đổi số không chỉ là phương tiện để hiện đại hóa kỹ thuật, mà thực chất là một cuộc cách mạng trong lãnh đạo, quản trị và xây dựng Đảng trong kỷ nguyên mới.

2. Chính sách và hành động của Nhà nước về chuyển đổi số

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát biểu tại Ngày chuyển đổi số quốc gia 10/10/2022 với chủ đề "Chuyển đổi số giải quyết các vấn đề của xã hội vì một cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân"

Thể chế hóa quan điểm chỉ đạo của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành hệ thống chính sách tương đối đồng bộ, có tính chiến lược và hành động cao, từng bước đưa công cuộc chuyển đổi số trở thành một chương trình trọng tâm, xuyên suốt trong quản trị quốc gia và phát triển kinh tế - xã hội.

Bước ngoặt quan trọng trong tiến trình này là việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020, phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Văn kiện này xác lập tầm nhìn chiến lược: đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia số, có nền kinh tế số phát triển năng động, xã hội số toàn diện và Chính phủ số hiệu quả. Đặc biệt, Chương trình nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi số phải lấy người dân làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực, đồng thời xác định ba trụ cột chính là: Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Quyết định số 749 cũng đề ra hệ thống giải pháp trọng tâm bao gồm: phát triển hạ tầng số, nền tảng số, dữ liệu số; bảo đảm an toàn, an ninh mạng; xây dựng thể chế số và phát triển nguồn nhân lực số. Đây là lần đầu tiên chuyển đổi số được đặt trong một khung chương trình cấp quốc gia, có mục tiêu, lộ trình và hệ thống chính sách cụ thể.

Để hiện thực hóa Chương trình này trong nội bộ Chính phủ và hệ thống hành chính Nhà nước, ngày 15/6/2021, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số 942/QĐ-TTg, phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030. Văn kiện này đặt mục tiêu đến năm 2025, 100% dịch vụ công đủ điều kiện được cung cấp trực tuyến toàn trình, tích hợp trên Cổng dịch vụ công quốc gia; 100% cơ quan Nhà nước có hệ thống báo cáo phục vụ chỉ đạo điều hành; và 90% người dân, doanh nghiệp hài lòng với dịch vụ công. Chiến lược khẳng định rằng Chính phủ số không chỉ đơn thuần là ứng dụng công nghệ thông tin vào hành chính công, mà là sự thay đổi mô hình quản trị nhà nước theo hướng số hóa toàn diện, minh bạch hóa quy trình và lấy dữ liệu làm cơ sở ra quyết định.

Trên cơ sở đó, ngày 31/3/2022, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số 411/QĐ-TTg, phê duyệt Chiến lược quốc gia về phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Chiến lược này xác định kinh tế số là động lực mới cho tăng trưởng, xã hội số là nền tảng cho phát triển bền vững, và công dân số là chủ thể quyết định thành công của chuyển đổi số quốc gia. Mục tiêu đến năm 2025, tỷ trọng kinh tế số đạt 20% GDP; tỷ lệ dân số trưởng thành có tài khoản thanh toán điện tử đạt trên 80%; và 100% cơ sở giáo dục phổ thông tổ chức dạy học trực tuyến khi cần thiết. Chiến lược cũng đề cập việc phát triển văn hóa số, đạo đức số và nâng cao năng lực số toàn dân như một giải pháp trung hạn, mang tính căn cơ và lâu dài.

Cùng với việc xây dựng các chiến lược dài hạn, Chính phủ cũng ban hành nhiều nghị quyết hành động cụ thể, trong đó nổi bật là Nghị quyết số 71-NQ/CP, ngày 01/4/2025 sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết số 71/NQ-CP đánh dấu bước tăng cường quyết tâm của Chính phủ trong việc thực hiện chiến lược chuyển đổi số gắn liền với khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Việc “sửa đổi, bổ sung cập nhật” chương trình hành động cho thấy mục tiêu tại Nghị quyết 57-NQ/TW là rất quan trọng và cần liên tục được điều chỉnh theo tình hình mới. Triển khai Nghị quyết yêu cầu sự phối hợp chặt chẽ giữa Trung ương (các bộ, ngành) và địa phương, cũng như nguồn lực lớn (tài chính, nhân lực, công nghệ).

Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật cũng không ngừng được hoàn thiện để tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho chuyển đổi số. Một số văn bản quan trọng có thể kể đến như: Nghị định số 42/2022/NĐ-CP quy định về cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng; Nghị định số 53/2022/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng; và Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi) đã được Quốc hội thông qua năm 2023. Các văn bản này góp phần hình thành nền tảng pháp lý cho vận hành chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và công dân số.

Để thúc đẩy thực hiện hiệu quả các chính sách đã ban hành, Chính phủ cũng đã chỉ đạo triển khai nhiều chương trình mục tiêu, đề án chuyên đề, cơ chế đặc thù trong các lĩnh vực, ngành nghề, địa phương. Nhiều bộ, ngành đã xây dựng Chiến lược chuyển đổi số ngành, như: Bộ Công an với Đề án 06 về phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử; Bộ Y tế với Đề án Bệnh án điện tử; Bộ Giáo dục và Đào tạo với Đề án dạy học trực tuyến kết hợp chuyển đổi số trong giáo dục; Bộ TT&TT (nay là Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch) với Chương trình phổ cập kỹ năng số toàn dân và phát triển công dân số. Đây là minh chứng cho tinh thần hành động nhất quán, toàn diện, thể hiện sự chuyển động mạnh mẽ của hệ thống hành chính nhà nước trước yêu cầu chuyển đổi số toàn dân, toàn diện và toàn quốc.

Như vậy, từ tầm nhìn chiến lược đến chương trình hành động cụ thể, từ thể chế pháp lý đến triển khai thực tiễn, Nhà nước ta đã xây dựng được một hệ thống chính sách chuyển đổi số có tính nền tảng, liên thông, có sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và hành chính công. Tuy nhiên, để các chính sách đi vào cuộc sống một cách hiệu quả, bền vững, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải hiểu rõ mục tiêu, nắm vững nội dung và chủ động tham gia tổ chức thực hiện với tinh thần trách nhiệm cao nhất.

(Còn nữa)