Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, động lực, thách thức và cơ hội phát triển
Sự ra đời của Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá toàn diện trong giáo dục và đào tạo là một định hướng chiến lược, xác định lại tầm nhìn và chiến lược mới, là một bước tiếp nối đồng thời là một trọng trách Bộ Chính trị yêu cầu, tin tưởng giao phó cho ngành giáo dục và đào tạo thực hiện để nâng tầm giáo dục Việt Nam.
Sau 10 năm triển khai Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện, giáo dục và đào tạo, Việt Nam đã đạt nhiều kết quả quan trọng ở từng cấp bậc học. Tuy nhiên, trong bối cảnh thế giới thay đổi sâu sắc, toàn diện, đặc biệt là công nghệ số và trí tuệ nhân tạo đang tái định hình nền giáo dục trên phạm vi toàn cầu, Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình, hệ thống chính trị đổi mới mạnh mẽ và yêu cầu đột phá khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, thì giáo dục và đào tạo Việt Nam cần đổi mới quyết liệt để trở thành động lực then chốt cho sự phát triển của đất nước.
Sự ra đời của Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá toàn diện trong giáo dục và đào tạo là một định hướng chiến lược, xác định lại tầm nhìn và chiến lược mới, là một bước tiếp nối đồng thời là một trọng trách Bộ Chính trị yêu cầu, tin tưởng giao phó cho ngành giáo dục và đào tạo thực hiện để nâng tầm giáo dục Việt Nam.
Trước hết, cần xác định rõ chủ trương, định hướng của Đảng đặt ra cho giáo dục và đào tạo ở Nghị quyết 71-NQ/TW là nhất quán, đồng bộ, không thể tách rời trong hệ thống tư tưởng của bốn Nghị quyết trụ cột trước đó. Nếu như Nghị quyết 57-NQ/TW xác định khoa học công nghệ là đột phá chiến lược hàng đầu, đề ra quan điểm chỉ đạo, mục tiêu cụ thể cùng hệ thống nhiệm vụ, giải pháp toàn diện nhấn mạnh vai trò trung tâm của người dân và doanh nghiệp, coi nhà khoa học là nhân tố then chốt, Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, kiến tạo, đồng thời đề cao ý nghĩa của giáo dục - đào tạo trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao[1], thì tiếp nối tinh thần đó, Nghị quyết 71-NQ/TW đã khẳng định giáo dục không chỉ là một thành tố trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mà còn là lĩnh vực trọng yếu được định hướng chiến lược riêng. Nghị quyết đã đặt ra những mục tiêu cụ thể, đặc biệt về thể chế, mô hình, đầu tư và năng lực hội nhập của giáo dục và đào tạo Việt Nam[2].
1. Điểm mới về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo trong Nghị quyết 71-NQ/TW, nhìn từ thực tiễn triển khai Nghị quyết 29-NQ/TW
Nhìn nhận thẳng thắn vào những điểm hạn chế, bất cập trong việc thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW năm 2013 về đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo[3], Nghị quyết 71-NQ/TW đã đề ra định hướng đổi mới mang tính đột phá để nâng tầm giáo dục và đào tạo Việt Nam trên trường quốc tế với những tiêu chí, thang đo định lượng rõ nét, kiểm soát chặt chẽ nguồn đầu tư công và hiệu quả đầu ra của những chính sách giáo dục. Đột phá giáo dục bắt đầu từ đổi mới tư duy, nhận thức, kiến tạo thể chế mở và lấy đầu tư công làm động lực dẫn dắt xã hội hóa giáo dục [4].
Thứ nhất, lần đầu tiên, một văn kiện của Đảng đề cập đến “chỉ số vốn con người và nghiên cứu đóng góp vào chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) ngang bằng các nước có thu nhập trung bình cao” và đạt “trên mức các nước trung bình cao” trong mục tiêu đến năm 2035 [5]. Đồng thời lượng hóa các kết quả qua các mục tiêu về sản phẩm đầu ra của giáo dục và đào tạo với “hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng và chất lượng đứng vào nhóm 20 quốc gia hàng đầu thế giới”, “ít nhất 5 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín” [6]. Đặt trong bối cảnh đổi mới mạnh mẽ về thể chế và quan điểm của Tổng Bí thư Tô Lâm về năng lực cạnh tranh quốc gia, đột phá khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, sẽ thấy đây là một quan điểm chỉ đạo kiên quyết và nhất quán của Tổng Bí thư đối với giáo dục và đào tạo.
Khi Kết luận 91-KL/TW chỉ ra bất cập “tỷ lệ học sau đại học, nhất là các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ còn thấp” và Nghị quyết 57-NQ/TW khẳng định khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược, thì Nghị quyết 71-NQ/TW đã cụ thể hóa, giải tỏa điểm nghẽn, đặt lại vị trí giáo dục đại học là động lực dẫn dắt đổi mới sáng tạo quốc gia, nâng tầm các cơ sở giáo dục đại học là trung tâm phát triển nhân lực trình độ cao và đội ngũ trí thức tinh hoa. Đồng thời, lượng hóa các yêu cầu đột phá phát triển qua các chỉ tiêu cụ thể “tỷ lệ người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ đạt ít nhất 35%, trong đó ít nhất 6.000 nghiên cứu sinh, 20.000 người học các chương trình tài năng”[7]. Cùng với đó, là điều chỉnh cơ chế phân bổ ngân sách cho giáo dục đại học 3% trên tổng chi ngân sách quốc gia.
Thứ hai, đột phá phát triển giáo dục và đào tạo là sự đột phá đồng bộ, toàn diện, tương tác chặt chẽ với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, bắt đầu từ nhận thức và thể chế. Nhận thức sự đột phá phát triển về mô hình giáo dục là tính liên thông, đa chiều, giáo dục mở. Đây là chiến lược xuyên suốt, trong đó đầu tư công làm động lực, dẫn dắt, thu hút nguồn lực xã hội cho hiện đại hóa toàn diện hệ thống giáo dục quốc dân. Vai trò giáo dục ngoài công lập tiếp tục là một cấu phần quan trọng của hệ sinh thái giáo dục quốc dân nhưng vai trò của nhà nước vẫn giữ vị trí chủ đạo ở sự kiến tạo hành lang pháp lý, thúc đẩy, giám sát, điều chỉnh mô hình phát triển giáo dục trong tình hình mới. Việc mở rộng không gian phát triển của giáo dục trong Nghị quyết được định lượng hóa qua các mục tiêu cụ thể về tỷ lệ đào tạo sau phổ thông, số lượng trường chuẩn quốc gia, vị trí xếp hạng toàn cầu,…
Thứ ba, khắc phục hạn chế, bất cập trong quá trình triển khai Nghị quyết 29-NQ/TW về giáo dục nghề nghiệp[8], Nghị quyết 71-NQ/TW đã đặt lại mô hình giáo dục nghề nghiệp đúng vị trí, nâng tầm phù hợp với quốc tế: bổ sung cấp trung học nghề tương đương THPT; chương trình đào tạo nghề chất lượng cao cho đồng bào thiểu số; tích hợp dạy văn hóa với dạy nghề; tăng cường liên thông đào tạo nghề với đại học thực hành; áp dụng công nghệ mới và quản trị đào tạo nghề theo chuẩn quốc tế; hành lang pháp lý cho doanh nghiệp được mở rộng kể từ room tín dụng đến các quỹ đào tạo, thành lập trường nghề.
Thứ tư, chú trọng vai trò nhà quản lý, đột phá giáo dục và đào tạo bắt đầu từ nhận thức mới, tư duy mới trong thể chế mới, theo đó vai trò của nhà quản lý đặc biệt quan trọng. Đột phá phát triển giáo dục và đào tạo không dừng ở cải cách các vấn đề nội tại của giáo dục mà hướng tới kiến tạo thể chế mở, ở tất cả cấp học và nhận thức về phát triển đột phá bắt đầu từ nhà quản lý. Vai trò nhà quản lý là kiến tạo, vận hành và hướng dẫn thực hiện hành lang chính sách phù hợp với thể chế chính quyền địa phương hai cấp và tư duy, nhận thức tương thích với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả đổi mới. Việc điều chỉnh Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học, trong đó điểm mới là bỏ Hội đồng trường tại các đại học/trường đại học để nhất thể hóa vai trò người đứng đầu nhà trường và đứng đầu tổ chức đảng chính là một minh chứng cho việc gắn trách nhiệm, thống nhất cao hiệu quả chỉ đạo của nhà quản lý trong giáo dục và đào tạo; hay kết quả rà soát, điều chỉnh văn bản pháp quy, cắt giảm 30%, tiến tới cắt giảm 50% các thủ tục hành chính ngay trong năm 2025 là những việc nhà quản lý cần làm để kiến tạo thể chế mở, liên thông cho doanh nghiệp và đầu tư công trong giáo dục đào tạo[9].
Thứ năm, đột phá về cơ chế, chính sách tài chính và đầu tư cho giáo dục, đây cũng là điểm đột phá, giải tỏa điểm nghẽn bất cập của Nghị quyết 29-NQ/TW. Theo đó, phân bổ rõ ràng, nhằm thực thi hiệu quả các nguồn lực tài chính cho giáo dục đi kèm với điều kiện về sứ mạng, chất lượng và hiệu quả của giáo dục: Chi cho giáo dục 20% tổng chi ngân sách quốc gia, chi đầu tư đạt ít nhất 5% tổng ngân sách và chi cho giáo dục đại học đạt ít nhất 3% tổng chi ngân sách cùng với việc thành lập Quỹ học bổng Quốc gia cho giáo dục.
Ngoài ra, một điểm nhấn tinh tế trong Nghị quyết 71-NQ/TW đó là: Các quan điểm chỉ đạo không chỉ nhấn mạnh về giáo dục, chương trình, nguồn lực mà còn nhấn mạnh lại quan điểm, thái độ về người thầy: “kiên quyết chấn chỉnh tiêu cực trong giáo dục, coi trọng danh dự người thầy, tôn vinh người thầy trong giáo dục”. Mệnh đề này thể hiện quyết tâm làm trong sạch đội ngũ, xốc lại hình ảnh người thầy trong truyền thống hiếu học của dân tộc, cũng là đánh thức sự tự tôn, tự trọng nghề nghiệp của đội ngũ nhà giáo. Luật Nhà giáo ban hành mới đây là một minh chứng cho chủ trương này.
2. Động lực và thách thức
Nghị quyết 71-NQ/TW sẽ tạo ra động lực đổi mới mạnh mẽ, bứt phá về giáo dục và đào tạo ở quyết tâm đổi mới thể chế, ưu tiên nguồn lực tài chính công và tạo cơ chế phân bổ chi đầu tư công gắn với hiệu quả đầu ra. Cùng với đó là điều chỉnh hành lang chính sách thông qua các Luật liên quan, như: Luật Giáo dục, Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại học, Luật Nhà giáo,… và hệ thống văn bản dưới luật đồng ban hành vào cuối năm 2025, đầu năm 2026. Đặc biệt, chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài cho ngành giáo dục được cụ thể hóa từ chế độ tuyển sinh các trường sư phạm đến học bổng cho học sinh sinh viên, ưu đãi về lương, phụ cấp cho nhà giáo cùng nhiều điều kiện khác.
Thách thức lớn với giáo dục và đào tạo nằm ở những yêu cầu được lượng hóa cụ thể qua các mục tiêu, thể hiện không những kỳ vọng của Đảng, Nhà nước, Nhân dân, mà còn là trọng trách nặng nề giao phó cho ngành giáo dục và đào tạo. Việc phát triển các lĩnh vực giáo dục mũi nhọn gắn trực tiếp với công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, vi mạch, công nghệ sinh học, năng lượng mới… là những lĩnh vực quyết định khả năng cạnh tranh của quốc gia, đòi hỏi phải đào tạo thế hệ nhân lực tinh hoa, có khả năng làm chủ công nghệ tiên tiến và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Kế tiếp là thách thức về đổi mới tư duy nhà quản lý đủ mạnh để khơi mở, vận hành trong khi thực tiễn còn nhiều khó khăn. Khi giáo dục được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với doanh nghiệp và xã hội, ngành giáo dục và đào tạo đứng trước thách thức rất lớn, đó là buộc phải thay đổi mạnh mẽ về tư duy khai phóng, tư duy thời chuyển đổi số. Chất lượng và cơ cấu nhân lực giáo dục chưa đồng đều, đội ngũ giáo viên và giảng viên tuy đông đảo nhưng nhiều người vẫn còn hạn chế về năng lực số, ngoại ngữ cũng như khả năng tiếp cận công nghệ mới. Công tác đào tạo lại, bồi dưỡng để thích ứng với yêu cầu của giáo dục số diễn ra chậm chạp và thiếu cơ chế khuyến khích đủ mạnh. Trong khi đó, Nghị quyết 71-NQ/TW và Nghị quyết 57-NQ/TW đều thống nhất yêu cầu tăng cường hợp tác công - tư trong đào tạo nhân lực công nghệ số, thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp vào quá trình xây dựng chương trình đào tạo, thực hành nghề nghiệp và khởi nghiệp sáng tạo. Theo đó, định hướng xây dựng một hệ sinh thái giáo dục mới - nơi tri thức, công nghệ và sáng tạo gắn kết chặt chẽ, nhằm hình thành thế hệ công dân số, công dân toàn cầu, góp phần thực hiện khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển trong giữa thế kỷ XXI.
Một thách thức khác là mối liên kết giữa giáo dục và thị trường lao động chưa chặt chẽ, cần phải củng cố và điều chỉnh mạnh mẽ. Nhiều chương trình đào tạo vẫn xa rời thực tiễn sản xuất, dẫn đến tình trạng cử nhân thất nghiệp hoặc phải đào tạo lại sau khi ra trường. Yêu cầu nhân lực gắn liền với công nghệ chiến lược mà Nghị quyết 57 đặt ra càng làm cho vấn đề này trở nên cấp thiết. Bên cạnh đó, chính sách thu hút và giữ chân nhân tài tuy đã được đề cập với những cơ chế đặc thù, nhưng trên thực tế vẫn chưa đi vào cuộc sống; chế độ đãi ngộ, môi trường nghiên cứu và sáng tạo chưa đủ sức hấp dẫn so với điều kiện quốc tế, khiến nguy cơ “chảy máu chất xám” vẫn hiện hữu.
Không kém phần quan trọng là rào cản về nhận thức xã hội đối với đổi mới giáo dục trong kỷ nguyên số. Một bộ phận cán bộ quản lý, nhà giáo, phụ huynh và học sinh vẫn duy trì tâm lý coi trọng bằng cấp hơn năng lực thực chất, còn dè dặt trước những mô hình giáo dục mới và ngại thay đổi. Tâm lý này có thể trở thành lực cản lớn đối với tiến trình thực thi Nghị quyết trong lĩnh vực giáo dục, khiến con đường đổi mới trở nên gập ghềnh và đòi hỏi sự quyết tâm cao độ từ nhiều phía. Để tháo gỡ nút thắt này, Nghị quyết 71 đã đưa ra những giải pháp mang tính trực diện và toàn diện, đặc biệt nhấn mạnh vào ba trụ cột then chốt: bảo đảm nguồn lực tài chính, phát triển nhân lực chất lượng cao và đổi mới cơ chế quản trị đại học. Đây được coi là những đòn bẩy quan trọng, không chỉ nhằm khắc phục hạn chế hiện hữu mà còn kiến tạo nền tảng vững chắc cho quá trình chuyển đổi giáo dục phù hợp với yêu cầu của thời đại số.
3. Cơ hội và triển vọng phát triển
Bên cạnh những khó khăn, Nghị quyết 71-NQ/TW mở ra nhiều cơ hội thuận lợi để giáo dục Việt Nam bứt phá. Trước hết, sự khẳng định của Bộ Chính trị coi khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược đã đặt giáo dục vào vị trí trung tâm của tiến trình phát triển. Quyết tâm chính trị ấy đồng nghĩa với việc ngành giáo dục sẽ được ưu tiên đầu tư nguồn lực, hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo điều kiện để đổi mới căn bản và toàn diện hơn bao giờ hết, như Nghị quyết 71-NQ/TW đã chỉ ra.
Cùng với đó, sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ hiện đại đang mang đến những phương tiện mới giúp thay đổi tận gốc cách dạy và học. Các thành tựu như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật hay điện toán đám mây cho phép hình thành những mô hình giáo dục thông minh, cá thể hóa quá trình học tập, mở ra triển vọng của đại học số và môi trường học tập suốt đời. Người học vì thế có cơ hội tiếp cận tri thức mọi lúc, mọi nơi, vượt qua giới hạn không gian và thời gian của giáo dục truyền thống.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, giáo dục Việt Nam cũng đứng trước cơ hội được tiếp cận và trao đổi trực tiếp với các nền giáo dục tiên tiến. Các chương trình liên kết đào tạo, hợp tác nghiên cứu, trao đổi giảng viên - sinh viên không chỉ góp phần rút ngắn khoảng cách về chất lượng mà còn tạo ra môi trường hấp dẫn để thu hút trí thức Việt Nam ở nước ngoài cũng như chuyên gia quốc tế tham gia xây dựng nền giáo dục hiện đại.
Một điểm đáng chú ý khác là sự gắn kết ngày càng chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp được xác định là trung tâm của đổi mới sáng tạo, họ cũng trở thành đối tác chiến lược của giáo dục trong việc đào tạo nhân lực, tổ chức thực tập nghề nghiệp hay khuyến khích khởi nghiệp. Mối liên kết này sẽ giúp nâng cao tính thực tiễn của chương trình đào tạo, đồng thời bảo đảm người học có thể thích ứng nhanh với yêu cầu của thị trường lao động công nghệ cao.
* * *
Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị là dấu mốc quan trọng trong tiến trình hoạch định chiến lược phát triển quốc gia, đặt khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí đột phá chiến lược. Trong tổng thể định hướng ấy, giáo dục là nền tảng và động lực quyết định, bởi chính giáo dục sẽ tạo ra thế hệ nhân lực mới, những con người có tri thức, kỹ năng và bản lĩnh để làm chủ công nghệ, sáng tạo giá trị và hội nhập quốc tế.
Nghị quyết 71-NQ/TW không chỉ tiếp nối đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đã được xác lập từ trước, mà còn mở ra một tầm nhìn mới: đưa giáo dục Việt Nam bước sang giai đoạn phát triển gắn chặt với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Cơ hội lớn đã mở ra, song đi cùng là những khó khăn không nhỏ về hạ tầng, nhân lực, thể chế và nhận thức xã hội. Chính sự kết hợp giữa quyết tâm chính trị, chính sách hỗ trợ mạnh mẽ và khát vọng vươn lên của toàn dân tộc, đặc biệt là thế hệ trẻ, sẽ là yếu tố quyết định để biến thách thức thành động lực, biến tiềm năng thành hiện thực.
Như vậy giáo dục chính là “chìa khóa vàng” để hiện thực hóa khát vọng kiến tạo đất nước hùng cườngmà Tổng Bí thư Tô Lâm đã đặt ra. Nếu tận dụng tốt thành quả khoa học - công nghệ, phát huy sức mạnh nội lực và gắn kết chặt chẽ với nhu cầu phát triển của đất nước, giáo dục Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành trụ cột vững chắc, góp phần đưa dân tộc bước vào kỷ nguyên phát triển bền vững khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Sự ra đời của Nghị quyết 71 củng cố mạnh mẽ cho định hướng đó, với những chính sách cụ thể và quyết liệt, tạo đòn bẩy để giáo dục Việt Nam thực sự bứt phá trong thập niên tới./.
TS. Nguyễn Thị Bích Hồng
Bộ Giáo dục và Đào tạo
-----------
Chú thích:
[1] Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
[2] Chính sách quốc tế hóa được đẩy mạnh chưa từng có: thu hút giảng viên xuất sắc từ nước ngoài với ưu đãi vượt trội; xây dựng các chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế; mở rộng hợp tác công-tư, liên kết với các doanh nghiệp lớn, đại học có uy tín toàn cầu; thúc đẩy giáo dục số, mô hình xuyên biên giới, viện nghiên cứu liên kết.
[3] Kết luận 71-NQ/TW, ngày 12/8/2024 của Ban Chấp hành Trung ương ban hành Kết luận của Bộ Chính trị nêu rõ: “việc thể chế hoá một số nội dung của Nghị quyết thành chính sách, pháp luật phục vụ đổi mới giáo dục và đào tạo, quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học chậm được ban hành; việc thực hiện tự chủ trong các cơ sở giáo dục, đào tạo, triển khai chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới còn gặp nhiều khó khăn; liên thông giữa các cấp học, trình độ đào tạo, phân luồng học sinh sau trung học cơ sở còn bất cập,…”
[4] Mục tiêu đến năm 2030: mở rộng tiếp cận công bằng, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông đạt trình độ tiên tiến trong khu vực châu Á; 100% cơ sở giáo dục đại học và ít nhất 80% cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt chuẩn quốc gia; 20% cơ sở được đầu tư hiện đại tương đương các nước phát triển trong khu vực.Tầm nhìn đến năm 2045: Việt Nam có hệ thống giáo dục hiện đại, công bằng, chất lượng, thuộc nhóm 20 quốc gia hàng đầu thế giới; phát triển ít nhất 5 cơ sở giáo dục đại học thuộc top 100 đại học hàng đầu toàn cầu ở một số lĩnh vực, theo bảng xếp hạng uy tín quốc tế.
[5] Mục tiêu đến năm 2035: Chỉ số vốn con người và nghiên cứu đóng góp vào chỉ số GII đạt trên mức bình quân của các nước có thu nhập trung bình cao.
[6] Tầm nhìn đến năm 2045 của Nghị quyết 71-NQ/TW.
[7] Tuyển dụng ít nhất 2.000 giáng viên giỏi từ nước ngoài, ít nhất 8 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 200 đại học hàng đầu thế giới theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín.
[8] Kết luận 91-KL/TW: “Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học chưa thực sự gắn với thị trường lao động, chưa đáp ứng yêu cầu nhân lực cho các ngành kinh tế mới, công nghệ cao”.
[9] Theo thống kê sơ bộ của Đề án 06, 261 thủ tục hành chính trong lĩnh vực giáo dục đào tạo từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, khi về đến 34 tỉnh thành đã “nở” ra thành 5.381 thủ tục hành chính.
