Kinh nghiệm quốc tế về phát triển doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân và bài học rút ra cho Việt Nam
Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị khẳng định: Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, lực lượng tiên phong trong phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thực tế trong những năm qua, các doanh nghiệp tư nhân có đóng góp rất quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn những rào cản về chính sách dẫn đến kìm hãm sự phát triển của kinh tế tư nhân, cũng như phát huy nội lực của nền kinh tế.
Thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân là một yêu cầu tất yếu cần đặt ra trong bối cảnh hiện nay. Tại Việt Nam, Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị vừa ban hành đã khẳng định: Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, lực lượng tiên phong trong phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thực tế trong những năm qua, các doanh nghiệp tư nhân có đóng góp rất quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn những rào cản về chính sách dẫn đến kìm hãm sự phát triển của kinh tế tư nhân, cũng như phát huy nội lực của nền kinh tế. Bài viết nghiên cứu kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp tư nhân ở một số nước trên thế giới từ đó rút ra những bài học cho Việt Nam nhằm phát triển khu vực doanh nghiệp tư nhân thời gian tới.
1. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Chính sách luôn đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế tư nhân (KTTN) ở Trung Quốc, Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khoá IX năm 1999 khẳng định: “Nhà nước bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của kinh tế cá thể và kinh tế tư doanh”. Sau khi xác định rõ vai trò và vị trí của KTTN, môi trường thể chế và chính sách mới tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển KTTN ở Trung Quốc đã hình thành và hoàn thiện:
- Từng bước thực hiện chính sách phá bỏ hàng rào hạn chế ngành nghề, giải quyết những khó khăn trong việc vay vốn, giảm những hạn chế trong việc đầu tư trực tiếp trên thị trường vốn đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong đó bao gồm KTTN, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tư nhân tham gia vào cải cách doanh nghiệp Nhà nước, đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng.
- Trung ương đẩy nhanh thực hiện quyết định ngành nghề hoá khoa học kỹ thuật, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp khoa học kỹ thuật tư nhân, thúc đẩy các doanh nghiệp tư nhân chuyển sang mô hình khoa học kỹ thuật. Chiến lược phát triển miền Tây bắt đầu khởi động cũng được xem như một quyết sách kinh tế lớn, tạo không gian phát triển rộng lớn cho các loại hình sở hữu tư nhân, cá thể ở các tỉnh miền Tây, đồng thời cũng mang lại cơ hội cho các doanh nghiệp tư nhân ở các miền khác hướng về đây cùng phát triển.
- Giải quyết các vấn đề cản trở cho sự phát triển kinh tế tư nhân để phát triển lành mạnh và liên tục của kinh tế tư nhân: Giải quyết những khó khăn trong việc huy động vốn của kinh tế tư nhân như phát hành chứng khoán, trái phiếu, và tham gia vào thị trường tài chính trong và ngoài nước. Đẩy mạnh cải cách hành chính. Khắc phục tình trạng quản lý thiếu quy phạm của các doanh nghiệp tư nhân. Nâng cao trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp tư nhân. Ngăn chặn các hành vi chộp giật trong kinh doanh tư nhân như làm hàng giả, trốn lậu thuế, gây ô nhiễm môi trường… Một kinh nghiệm điển hình phát triển về dệt may Trung Quốc: Là quốc gia sản xuất và xuất khẩu dệt may lớn nhất trên thế giới, các doanh nghiệp dệt may chủ yếu là các doanh nghiệp khu vực KTTN. Trung Quốc bắt đầu xây dựng hệ thống phát triển các thương hiệu của doanh nghiệp. Kết hợp với lợi thế về thị trường tiêu thụ nội địa khổng lồ, nhiều doanh nghiệp dệt may Trung Quốc chiếm giữ thị phần lớn trong nước hợp tác với các hãng thời trang nổi tiếng hàng đầu trên thế giới theo hình thức hợp tác chủ yếu là sản xuất theo thương hiệu. Hai hình thức hợp tác được diễn ra song song xây dựng một vài thương hiệu mới dưới tên tuổi của hãng thời trang Trung Quốc, đồng thời phát triển dưới dạng đại lý bán hàng cho các hãng đó với các tên tuổi nhãn hiệu nổi tiếng sẵn có. Để đạt được những thành công đó phải kể đến sự ủng hộ của chính phủ về mặt thể chế. Các công cụ chính sách đưa ra chủ yếu tập trung vào việc nâng cấp công nghệ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nâng cấp lên những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu.
Các chính sách hỗ trợ kinh tế tư nhân được nêu lên tại Đại hội Đại biểu nhân dân Toàn quốc (họp tại Bắc Kinh từ 5/3 đến 11/3/2025) tập trung vào 5 lĩnh vực gồm:
Một là, thúc đẩy khung khổ pháp luật mới và nâng cao khả năng thực thi pháp luật. Luật Thúc đẩy kinh tế tư nhân đang trong lần rà soát thứ hai vào đầu năm 2025, sẽ hợp pháp hóa các chính sách và biện pháp chính thành các khuôn khổ pháp lý. Chuẩn hóa việc thực thi pháp luật liên quan đến doanh nghiệp, giảm áp đặt các khoản phí, tiền phạt và kiểm tra tùy tiện,...
Hai là, tiếp cận thị trường, hướng tới môi trường cạnh tranh công bằng hơn. Các rào cản gia nhập thị trường sẽ tiếp tục được dỡ bỏ, đảm bảo một môi trường cạnh tranh công bằng hơn cho các doanh nghiệp tư nhân. Mở rộng khả năng tiếp cận thị trường tài chính. Các ngân hàng sẽ được khuyến khích hướng tín dụng vào các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo, đồng thời các công cụ hỗ trợ phát hành trái phiếu sẽ được củng cố để giúp doanh nghiệp huy động vốn từ thị trường chứng khoán đại chúng.
Ba là, phát triển kinh tế số: Hiệu quả nổi bật nhất của chính sách phát triển kinh tế số của Trung Quốc là tạo ra được một không gian đủ rộng lớn cho các doanh nghiệp công nghệ số trong nước khởi nghiệp, cạnh tranh và phát triển. Quyết định bảo hộ thị trường công nghệ số đã tạo cho doanh nghiệp trong nước của Trung Quốc vị thế độc quyền trước các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Ba doanh nghiệp mũi nhọn cho sự phát triển nền kinh tế số đó là: Baidu - công cụ tìm kiếm (giống Google); Alibaba - bán lẻ trực tuyến (giống Amazon); Tencent - mạng xã hội (giống Twitter hay Facebook). Bằng cách tạo lập thị trường riêng của mình song song với thị trường thế giới ở bên ngoài. Trung Quốc đã thành công trong việc tối đa hóa lợi thế về quy mô thị trường nội địa, cho các doanh nghiệp Trung Quốc tham gia tích cực vào chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu.
Bốn là, đầu tư cho R&D: Các doanh nghiệp Trung Quốc hiện nay là những nhà đầu tư R&D cho công nghệ số hàng đầu thế giới. Vốn đầu tư cho R&D được triển khai: nghiên cứu đổi mới công nghệ trong công ty và đầu tư tài chính mạo hiểm cho các start-up công nghệ. Các ngân hàng thương mại nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc cấp vốn trực tiếp cho hoạt động R&D dưới dạng tín dụng, hoặc thông qua các quỹ có quy mô lớn từ 3-21 tỷ USD.
Năm là, phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng và trình độ công nghệ đồng thời cải thiện nhận thức công chúng. Các hành vi kỳ thị kinh tế tư nhân sẽ được xử lý, những vụ việc sai phạm liên quan đến các thực thể tư nhân sẽ được xem xét và sửa chữa để tăng cường công lý tư pháp, củng cố niềm tin của công chúng.[1] Năm 2015, Bộ Giáo dục đã chỉ dẫn các trường dạy nghề trong việc xây dựng chương trình đào tạo các nội dung cách mạng công nghiệp 4.0. Đến năm 2016, đã có 300 trường dạy nghề có chương trình đào tạo riêng về lĩnh vực robot, phần lớn đều có sự hợp tác với các doanh nghiệp công nghệ lớn trong các lĩnh vực này; ngoài ra, theo kế hoạch 10 cụm đào tạo nghề lớn và 90 trường dạy nghề sẽ được thành lập trong vòng 3 năm.
Ngoài ra, Chính phủ còn giảm bớt gánh nặng thuế của các DNTN, khuyến khích khu vực tư nhân phát hành công khai trái phiếu, tối ưu hóa môi trường pháp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực tư nhân đầu tư phát triển. Đồng thời, khuyến khích các DNTN cải thiện quan hệ với các doanh nghiệp khác, tăng cường đổi mới khoa học, công nghệ trong sản xuất, nâng cấp công nghiệp[2] (Xinhua, 2019). Chính phủ Trung Quốc cũng chi tiết hóa các chương trình hỗ trợ DNTN được tiếp cận các khoản vay dễ dàng hơn.
Với những chính sách khuyến khích hỗ trợ kinh tế, DNTN đã có sự tăng trưởng vượt bậc. Năm 2021, số lượng DNTN thành lập mới đã lên tới 8,525 triệu, tăng 11,7% so với năm 2020. Loạt chính sách hỗ trợ trong các lĩnh vực thuế, tài chính, việc làm và bảo hiểm xã hội mà Chính phủ ban hành từ đầu năm 2020 đến nay đã góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng, giúp DNTN nước này có được động lực mạnh mẽ, từ đó đóng góp trên 50% nguồn thu từ thuế, trên 60% tổng vốn đầu tư và hơn 70% phát minh, sáng chế trong nền kinh tế quốc dân (Hữu Hưng, 2022)[3].
2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc là một quốc gia có một số điều kiện tương tự Việt Nam trước khi phát triển thành một nền kinh tế hàng đầu khu vực và thế giới. Mặc dù bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á cuối những năm 1990, nhưng kinh tế Hàn Quốc nhanh chóng phục hồi và tăng gấp 3 lần trong giai đoạn kế tiếp theo như một hiện tượng đáng chú ý. Từ đầu những năm 1960, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ xấp xỉ các nước nghèo ở Châu Phi và Châu Á vào thập niên 1950. Tuy nhiên, năm 1996 Hàn Quốc đã là thành viên của khối OECD, và nước này là thành viên câu lạc bộ nghìn tỷ đôla của thế giới vào năm 2004.
Hàn Quốc được biết đến là hình mẫu cho sự phát triển kinh tế thần kỳ, trong đó khu vực kinh tế tư nhân giữ vai trò then chốt. Để duy trì đà tăng trưởng và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước, Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ mạnh mẽ, đặc biệt tập trung vào các tập đoàn kinh tế lớn (chaebol) và các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs). Trong giai đoạn đầu của thời kỳ cải cách phát triển, Hàn Quốc ưu tiên phát triển các tập đoàn kinh tế mũi nhọn trong những ngành công nghiệp chiến lược, hướng tới xuất khẩu như sản xuất ô tô, công nghiệp nặng và điện tử. Chính phủ cung cấp hỗ trợ đa dạng, từ trợ cấp tài chính, ưu đãi thuế cho đến các khoản vay ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi để các chaebol mở rộng quy mô sản xuất và đầu tư vào công nghệ.
Những tập đoàn lớn như Samsung, Daewoo, Hyundai và LG đã tận dụng tối đa các chính sách này để vươn ra thị trường toàn cầu, trở thành trụ cột của nền kinh tế Hàn Quốc. Không chỉ đóng vai trò dẫn dắt tăng trưởng, các chaebol còn tạo ra chuỗi cung ứng rộng lớn, thúc đẩy sự phát triển của nhiều doanh nghiệp tư nhân nhỏ hơn.
Đặc trưng của chaebol là toàn bộ các công ty thành viên thường do một hoặc một số ít gia đình sáng lập, nắm giữ cổ phần chi phối. Các công ty tư nhân đã được tạo điều kiện hình thành và phát triển thành những tập đoàn xuyên quốc gia và trở thành động lực chính. Một trong những chiến lược xây dựng thương hiệu của tập đoàn kinh tế Hàn Quốc đó là trước hết phải trở thành số 1 trên thị trường trong nước bằng chất lượng sản phẩm và dịch vụ, giá cả cạnh tranh để chinh phục người tiêu dùng; trên cơ sở đó, từng bước vươn ra khu vực và toàn cầu. Tuy nhiên, khi đã đạt đến trình độ tăng trưởng cao như hiện nay, và trong bối cảnh cách mạng công nghiệp thay đổi phương thức sản xuất trên cơ sở thay đổi tính linh hoạt, các đặc tính kinh tế kỹ thuật của công nghệ sản xuất, có những dấu hiệu chính sách cho thấy vai trò động lực tăng trưởng đang được chuyển giao cho các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ.
Bên cạnh việc hỗ trợ các tập đoàn lớn, Hàn Quốc còn vận hành hệ thống ngân hàng do Nhà nước kiểm soát hoàn toàn, với 100% cổ phần thuộc sở hữu của Chính phủ. Thông qua các ngân hàng này, Chính phủ cung cấp các khoản tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là trong những ngành công nghiệp ưu tiên hoặc các doanh nghiệp có kết quả hoạt động tích cực.
Chính sách hỗ trợ tín dụng linh hoạt này giúp Hàn Quốc phân bổ nguồn lực tài chính một cách hiệu quả, thúc đẩy tăng trưởng trong những lĩnh vực trọng điểm. Điều này không chỉ giúp các doanh nghiệp vượt qua khó khăn mà còn tạo điều kiện để họ mở rộng sản xuất, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển.
Ngoài ra, Hàn Quốc thường xuyên tổ chức các cuộc đối thoại trực tiếp với lãnh đạo doanh nghiệp tư nhân nhằm theo dõi sát sao tình hình kinh doanh. Đây là cơ hội để doanh nghiệp nêu lên những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị giải pháp cụ thể. Dựa trên những phản hồi này, Chính phủ đưa ra các biện pháp kịp thời để tháo gỡ khó khăn, giảm thiểu rủi ro của các khoản tín dụng. Năm 2017, Hàn Quốc thành lập Bộ phụ trách SME và Starup. Bộ này đưa ra nhiều chương trình nhằm hỗ trợ vốn cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), cung cấp thông tin chính sách. Hàn Quốc thực hiện hệ thống các chính sách mới nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển và hỗ trợ khởi nghiệp như:
- Chính sách liên quan đến nguồn lực tài chính:
+ Chính phủ khởi động quỹ đầu tư mạo hiểm quy mô 10 nghìn tỷ KRW (9,3 tỷ USD).
+ Gia tăng hỗ trợ vốn vay cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua các ngân hàng thuộc sở hữu của nhà nước.
+ Bộ doanh nghiệp vừa và nhỏ và khởi nghiệp đẩy nhanh hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp có triển vọng phát triển việc làm.
+ Ủy ban dịch vụ tài chính đẩy mạnh hoạt động để thu hút các nguồn vốn tài trợ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như khởi nghiệp.
+ Chính phủ phát triển thị trường KOSDAQ để hỗ trợ hoạt động đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
+ Ngân hàng Trung ương tăng cường hỗ trợ cho vay thông qua các trung gian tài chính.
+ Chính phủ Hàn Quốc mở rộng hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ xuất khẩu.
- Nhóm chính sách giải quyết thiếu hụt nhân lực:
+ Chính phủ hỗ trợ doanh nghiệp 20 triệu KRW/năm (18.524 USD) cho mỗi lao động trẻ mới được tuyển dụng và thời gian hỗ trợ là 3 năm.
+ Chính sách tạo động lực tài chính (quỹ tiết kiệm) đối với lao động trẻ để họ ở lại lâu dài với các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ.
- Các chính sách khác:
+ Khuyến khích cách mạng 4.0.
+ Hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại quy mô nhỏ và vừa thông qua việc cắt giảm chi phí, bao gồm tiền lương lao động, bảo hiểm xã hội.
+ Phạt đối với các trường hợp đồng thầu phụ bất bình đẳng.
3. Bài học kinh nghiệm trong phát triển doanh nghiệp khu vực KTTN cho Việt Nam
Qua nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc, Hàn Quốc, để thúc đẩy phát triển doanh nghiệp khu vực KTTN trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, một số bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể rút ra như sau:
Thứ nhất, gắn chính sách phát triển doanh nghiệp KTTN với chiến lược tăng trưởng của nền kinh tế theo từng giai đoạn phát triển. Cho phép cạnh tranh công bằng giữa các thành phần kinh tế, từng bước mở rộng những lĩnh vực khác nhau mà KTTN có thể tham gia, không loại trừ những lĩnh vực độc quyền ở thành phần kinh tế nhà nước.
Thứ hai, hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), lấy công nghệ là yếu tố nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. thúc đẩy ứng dụng và phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; thúc đẩy doanh nghiệp khu vực tư nhân tham gia sâu vào chuỗi giá trị, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; tăng cường sự kết nối, liên kết giữa DNTN với doanh nghiệp khu vực khác.
Thứ ba, xây dựng nhiều chính sách ưu đãi, như: (i) hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng và trình độ công nghệ cho DNTN; (ii) cho các DNTN vay với lãi suất ưu đãi; (iii) giảm thuế ở các sản phẩm thuộc các DNTN; (iv) giảm bớt gánh nặng thuế của các DNTN nhằm khuyến khích loại hình kinh doanh cá thể, hộ gia đình chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp; (v) Có chính sách cụ thể như hỗ trợ vốn: thành lập các Quỹ đầu tư mạo hiểm, Quỹ phát triển DNTN địa phương; (vi) hỗ trợ cung cấp thông tin để các doanh nghiệp mở rộng thị trường, nhất là các thị trường mới nổi, hỗ trợ doanh nghiệp kết nối kinh doanh và chuyển giao công nghệ; (vi) có các chính sách ưu đãi khác: phát triển kinh tế số, nâng cao năng lực cạnh tranh. Tập trung vào các chính sách hỗ trợ đối với lĩnh vực đổi mới sáng tạo; công nghiệp hỗ trợ.
Thứ tư, vai trò của các doanh nghiệp tiên phong (các tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn) là rất quan trọng. Do đó, việc có các chính sách khuyến khích, hỗ trợ phù hợp đối với các doanh nghiệp quy mô lớn của tư nhân tham gia vào quá trình phát triển kinh tế, bao gồm cả việc khuyến khích liên kết giữa các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa.
Thứ năm, đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động QLNN đối với khu vực tư nhân. Những quy định pháp lý đơn giản dễ hiểu, đảm bảo tính nhất quán sẽ khuyến khích và củng cố niềm tin cho các nhà đầu tư. Hoạt động xúc tiến thương mại luôn cần được chú trọng, hoạt động này phần lớn có sự hỗ trợ của chính phủ. Cải thiện môi trường kinh doanh và sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách để thúc đẩy KTTN phát triển. Kiến tạo ra một môi trường kinh doanh công bằng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, đẩy mạnh công tác hình thành một đạo luật doanh nghiệp mang tính thống nhất giữa Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, điều này thúc đẩy các doanh nghiệp có môi trường kinh doanh thống nhất, công bằng giữa các chủ thể kinh tế./.
TS. Lê Thị Thúy
Hội đồng Lý luận Trung ương
------------
Chú thích:
[1] https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/bai-hoc-tu-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-o-trung-quoc-post366283.html
[2] Xinhua (2019), China’s private economy to thrive in better business environment, retrieved from http://www.xinhuanet.com/english/2019-12/22/c_138650517.htm.
[3] Hữu Hưng (2022), DNTN Trung Quốc phát triển mạnh, truy cập từ https://nhandan.vn/doanh-nghiep-tu-nhan-trung-quoc-phat-trien-manh-post690375.html;
