Tư duy mới, tầm nhìn chiến lược của Đảng về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới

Chăm lo củng cố quốc phòng vững mạnh là chủ trương chiến lược xuyên suốt của Đảng, nhằm tăng cường sức mạnh cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Bước vào thời kỳ mới, đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc có bước phát triển đột phá, thể hiện tư duy nhạy bén, tầm nhìn chiến lược của Đảng trước yêu cầu của tình hình thực tiễn.

Xuyên suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, đất nước ta luôn bị các thế lực ngoại bang tìm cách xâm lăng, thôn tính. Vì vậy, chăm lo củng cố quốc phòng vững mạnh, chủ động “giữ nước từ khi nước chưa nguy” đã trở thành ý thức thường trực, kinh nghiệm quý báu và phương thức bảo vệ Tổ quốc đặc sắc của dân tộc ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, truyền thống, kinh nghiệm quý báu đó tiếp tục được kế thừa, phát triển lên tầm cao mới, trở thành nhân tố cốt lõi để quân và dân ta đánh bại thực dân, đế quốc xâm lược, giành độc lập, thống nhất; bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Theo Tổng Bí thư Tô Lâm, Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII (10/2025) đã mở ra một trang mới trong sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng theo hướng hiện đại, để quân đội ta ngày càng phát triển hùng mạnh.

Bước vào thời kỳ mới, cùng với đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực, tư duy mới về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc cũng từng bước được hình thành, bổ sung và phát triển, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Tháng 7 năm 2003, Hội nghị Trung ương 8, khoá IX đã ban hành Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, trong đó chỉ rõ: “Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên chăm lo xây dựng tiềm lực mọi mặt của đất nước, trước hết là tiềm lực chính trị, tinh thần, tiềm lực kinh tế; tiếp tục củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân mà mấu chốt là thế trận lòng dân; đẩy mạnh giáo dục quốc phòng; phát triển phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đủ sức làm nòng cốt cùng toàn dân thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống”[1]. Đặc biệt, tại Hội nghị này, lần đầu tiên Đảng ta đưa ra quan niệm rõ ràng về đối tác, đối tượng và mối quan hệ giữa đối tác và đối tượng trong bối cảnh mới. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về đối ngoại, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.         

Tháng 10 năm 2013, trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8, khoá IX và dự báo những nhân tố tác động mới, Hội nghị Trung ương 8, khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 28/NQ-TW về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong đó, tư tưởng chủ đạo, phương châm cốt lõi là phải bảo vệ được Tổ quốc từ sớm, từ xa: Nắm vững và vận dụng nhuần nhuyễn bài học của cha ông ta: “Dựng nước đi đôi với giữ nước”; “giữ nước từ khi nước chưa nguy”; có kế sách ngăn ngừa, loại bỏ các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Đồng thời, xác định rõ, phân định rạch ròi giữa đối tác và đối tượng, giữa hai mặt của một vấn đề trong mỗi đối tác và đối tượng, khắc phục sự mơ hồ, chủ quan, mất cảnh giác, cũng như sự cứng nhắc, thiếu mềm dẻo, linh hoạt trong quan hệ quốc tế. Chủ động nắm chắc tình hình, đánh giá và dự báo đúng các tình huống phức tạp có thể xảy ra, đặc biệt là trên các vùng biển, đảo, biên giới, các địa bàn chiến lược, có phương án ứng phó, ngăn chặn, đẩy lùi từ xa và tích cực chuẩn bị lực lượng bảo đảm giành thắng lợi khi tình huống xấu xảy ra.

Đến Đại hội XII của Đảng (2016), quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc không chỉ là “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”, mà còn là “chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”, làm nguy hại đến quốc phòng và an ninh quốc gia. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Đặc biệt, ngày 16 tháng 4 năm 2018, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về Chiến lược Quốc phòng Việt Nam. Nghị quyết xác định nguyên tắc xây dựng nền quốc phòng là: Thực hiện chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược. Những nguyên tắc trên thể hiện rõ mục đích, tính chất của nền quốc phòng Việt Nam, đồng thời cho thấy mong muốn, thiện chí của Việt Nam trong quan hệ quốc tế.

Trên cơ sở đó, phương châm chỉ đạo được xác định là: Thực hiện “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, trong đó lợi ích quốc gia - dân tộc là bất biến; kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược, vận dụng sách lược mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, sự biến động phức tạp của tình hình, sự đan xen, chuyển hóa phức tạp giữa đối tác và đối tượng. Kiên định phương châm “người trước, súng sau”, lấy con người là trung tâm, trọng tâm trong công tác quốc phòng. Kiên quyết, kiên trì kết hợp vừa hợp tác vừa đấu tranh trên cơ sở nắm vững và tuân thủ luật pháp quốc tế; thêm bạn bớt thù, giữ cân bằng chiến lược với các nước lớn và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các nước và các tổ chức quốc tế, không để nước ngoài lợi dụng hoặc thỏa hiệp với nhau làm phương hại tới độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia - dân tộc.

Tháng 10 năm 2023, Hội nghị Trung ương 8, khóa XIII tiếp tục ban hành Nghị quyết số 44/NQ-TW về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, trong đó vấn đề cốt lõi được Đảng ta nhấn mạnh là: Phát huy vai trò to lớn của nhân dân, thực hiện hiệu quả đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Dựa vào dân, lấy dân làm gốc, khơi dậy, phát huy ý chí tự lực, tự cường, truyền thống văn hóa, yêu nước, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, lấy yên dân là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, tăng cường đầu tư thích đáng cho việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy; tuyệt đối không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Hội nghị Trung ương 8, khóa XIII tiếp tục ban hành Nghị quyết số 44/NQ-TW về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Như vậy, trong thời kỳ mới, tư duy của Đảng về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc có bước phát triển quan trọng và ngày càng hoàn thiện, đó là: Từ tư duy “quân sự là chủ yếu” sang tư duy “quốc phòng là cơ bản”, với phương châm cốt lõi là làm cho đất nước không phải tiến hành chiến tranh mới là quốc phòng tối ưu, và càng chuẩn bị tốt nhất cho sẵn sàng chiến tranh thì chiến tranh càng lùi xa. Theo đó, tư duy mới, tầm nhìn chiến lược của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới được thể hiện rõ nét ở những nội dung sau:

Một là, từ mục tiêu đánh thắng các cuộc chiến tranh của đối phương đến mục tiêu ngăn chặn, đẩy lùi các nguy cơ dẫn đến chiến tranh, xung đột, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Trước đổi mới, tư duy của chúng ta vẫn chủ yếu hướng vào việc chuẩn bị và đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược của đối phương, nhấn mạnh mục tiêu bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ đến từ các đe dọa quân sự bên ngoài là chủ yếu, nên phương châm của chúng ta cũng tập trung vào tăng cường sức mạnh quân sự là cơ bản.

Trong thời kỳ mới, cùng với chuẩn bị chu đáo về mọi mặt của đất nước, sẵn sàng đánh thắng các hình thái chiến tranh của đối phương dưới mọi hình thức, quy mô (nếu xảy ra), Đảng ta luôn đề cao mục tiêu bảo vệ vững chắc Tổ quốc mà không phải tiến hành chiến tranh, quốc phòng tối ưu là làm cho đất nước không xảy ra chiến tranh, xung đột. Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm, xử lý kịp thời, triệt tiêu các mầm mống, các yếu tố bất lợi có nguy cơ dẫn đến đột biến; đấu tranh làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, ngăn ngừa chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nội hàm của mục tiêu bảo vệ Tổ quốc được phát triển, hoàn thiện đầy đủ hơn bao gồm cả phương diện lịch sử - tự nhiên và chính trị - xã hội; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc ở cả bên trong và bên ngoài biên giới lãnh thổ quốc gia; trong đó, đặt lên hàng đầu vấn đề bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, không đánh đổi lợi ích quốc gia - dân tộc bằng bất cứ giá nào. Đồng thời, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới không chỉ hướng tới mục tiêu giữ vững môi trường hoà bình, ổn định của đất nước mình mà còn góp phần tích cực vào gìn giữ hoà bình khu vực và thế giới. Điều này cho thấy tư duy, tầm nhìn chiến lược của Đảng, vì giữ gìn hoà bình khu vực và thế giới cũng chính là ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột, giữ gìn hoà bình cho chính mình. Đây là bước phát triển quan trọng nhất trong tư duy, nhận thức của Đảng về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mới.         

Hai là, từ sử dụng phương thức đấu tranh vũ trang là chủ yếu chuyển sang kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh phi vũ trang với đấu tranh vũ trang, lấy đấu tranh phi vũ trang là chủ yếu. 

Trước thời kỳ đổi mới, do phải liên tục tiến hành các cuộc chiến tranh để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc nên tư duy, nhận thức của chúng ta khi đó vẫn chủ yếu nhấn mạnh đến phương thức đấu tranh vũ trang nhằm đập tan các hoạt động chống phá bằng vũ trang của các thế lực thù địch, đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược từ bên ngoài.

Bước vào thời kỳ mới, Đảng ta chủ trương kết hợp chặt chẽ đấu tranh vũ trang với đấu tranh phi vũ trang, coi trọng phương thức đấu tranh phi vũ trang, đấu tranh toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; xây dựng sức mạnh tổng hợp của đất nước về chính trị, tư tưởng, kinh tế - xã hội, văn hoá, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; chủ động ngăn ngừa, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; khắc phục tình trạng sơ hở, mất cảnh giác. Đồng thời, kết hợp bảo vệ với xây dựng, lấy xây dựng để bảo vệ, bảo vệ tốt để có điều kiện xây dựng tốt hơn. Trong bối cảnh các thế lực thù địch đang đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; cạnh tranh, xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc của nhau diễn ra ngày càng gay gắt, phức tạp, cho thấy việc kết hợp chặt chẽ phương thức đấu tranh vũ trang với phi vũ trang có ý nghĩa hết sức quan trọng và phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mới nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ thời bình.         

Tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc góp phần tạo vị thế, vai trò của Việt Nam đối với an ninh, hòa bình, ổn định của thế giới.

Ba là, từ quan điểm xác định rõ bạn - thù chuyển hóa thành tư duy linh hoạt, mềm dẻo về đối tác - đối tượng.

Đây là bước phát triển quan trọng thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược của Đảng về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Theo đó, nếu như trước đây, trong quan hệ với các quốc gia khác, chúng ta chỉ rõ ai là bạn - ai là thù; hiện nay chuyển sang tư duy về đối tác - đối tượng. Trước đây, chủ yếu đứng trên ý thức hệ và lập trường giai cấp; hiện nay, vẫn trên cơ sở đó, nhưng lấy việc đảm bảo lợi ích quốc gia - dân tộc là căn cứ quan trọng nhất để xác định đối tác - đối tượng. Trước đây, xác định đối tượng chủ yếu từ bên ngoài, sử dụng các biện pháp quân sự; hiện nay, đối tượng có cả ở bên trong và bên ngoài, sử dụng cả các biện pháp quân sự và phi quân sự để chống phá nước ta. Cùng với quá trình phát triển từ tư duy địch - ta sang tư duy đối tượng - đối tác, chúng ta cũng đã nỗ lực chuyển hóa trạng thái căng thẳng, đối đầu với một số quốc gia sang đối thoại, hợp tác, giải quyết mọi bất đồng, mâu thuẫn bằng biện pháp hòa bình theo tinh thần là “tăng đối tác, giảm đối tượng”, “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”[2].

Điều này đã khắc phục được nhận thức cứng nhắc trong xác định “bạn - thù” với quan điểm đã là bạn thì cái gì cũng tốt, đã là thù thì cái gì cũng xấu. Đồng thời, mở ra nhận thức mới về đối tượng, đối tác và sự đan xen, chuyển hóa giữa đối tượng, đối tác; theo đó, trong đối tượng có những mặt vẫn cần và có thể tranh thủ hợp tác, trong đối tác vẫn có những mặt cần cảnh giác đề phòng, đấu tranh. Với tư duy uyển chuyển, linh hoạt về đối tượng, đối tác như vậy đã mở ra nhiều cơ hội, điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.         

Bốn là, chú trọng đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, coi đây là mũi nhọn “tiên phong” để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực luôn biến động hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược, sự lôi kéo, chia rẽ, sức ép “chọn bên” từ các nước lớn diễn ra ngày càng gay gắt, quyết liệt hơn... Việc chủ trương đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng cho thấy tư duy nhạy bén, tầm nhìn chiến lược của Đảng ta.

Trong thời kỳ mới, chúng ta luôn kiên định chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ theo phương châm “thêm bạn, bớt thù”, “tăng đối tác, giảm đối tượng”, gia tăng hợp tác, tránh xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, lệ thuộc hoặc rơi vào thế phải “chọn bên”, “chọn phe”; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, đưa quan hệ hợp tác quốc phòng với các nước ngày càng đi vào chiều sâu, tạo thuận lợi cho hội nhập trong các lĩnh vực khác. Tăng cường mức độ đan xen lợi ích chiến lược với các nước, các tổ chức quốc tế, ưu tiên các nước láng giềng, các nước trong khu vực, các nước lớn, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các nước bạn bè truyền thống. Đồng thời, Việt Nam đã công khai, minh bạch chính sách quốc phòng và thực hiện nhất quán quan điểm: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đây chính là yếu tố cốt lõi để giữ cho “ngoài êm”, ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Như vậy, cùng với “những thành tựu rất to lớn, có ý nghĩa lịch sử” của gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, lĩnh vực quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc cũng có bước phát triển đột phá và đạt được những kết quả quan trọng cả về tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn, đây chính là nhân tố quan trọng góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa./.

Đại tá, TS Bùi Đình Tiệp

Phó Chủ nhiệm Chính trị Hải quân

-----------

Chú thích:

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 62, Nxb CTQG, Hà Nội, 2016, tr.408.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2021, tr.49-50.