Vũ khí hủy diệt trong tay các siêu cường: Răn đe chiến lược đến thảm họa nhân sinh

Sự phát triển của công nghệ vũ khí hủy diệt hàng loạt làm nảy sinh những vấn đề an ninh, đặc biệt là khi có sự xuất hiện của các quốc gia bất hảo có thể thách thức các hiệp ước quốc tế về không phổ biến vũ khí hạt nhân.

1. Vũ khí giết người hàng loạt là gì?

Quả bom nguyên tử Fat Man do Mỹ ném xuống Nagasaki (Nhật Bản) ngày 09/8/1945 giết chết hơn 74.000 người dân vô tội.  

Vũ khí hủy diệt hàng loạt là loại vũ khí có khả năng gây ra sự hủy diệt đáng kể trên diện rộng, chủ yếu, bao gồm vũ khí hạt nhân, hóa học và sinh học, có thể giết chết hoặc gây tổn hại đáng kể cho nhiều người hoặc gây thiệt hại lớn cho các công trình nhân tạo, công trình tự nhiên hoặc sinh quyển. Bối cảnh lịch sử của vũ khí hủy diệt hàng loạt bắt nguồn từ những tác động thảm khốc ​​trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai, đặc biệt là ở Hiroshima và Nagasaki (Nhật Bản), nơi bom nguyên tử gây ra sự tàn phá chưa từng có. Trong bối cảnh đương đại, vẫn tồn tại những lo ngại về hiện diện các kho vũ khí khổng lồ này, cũng như khả năng các quốc gia mới phát triển kho vũ khí riêng của họ và các tổ chức khủng bố tìm cách có được vũ khí hủy diệt hàng loạt.

Sự phát triển của công nghệ vũ khí hủy diệt hàng loạt làm nảy sinh những vấn đề an ninh, đặc biệt là khi có sự xuất hiện của các quốc gia bất hảo có thể thách thức các hiệp ước quốc tế về không phổ biến vũ khí hạt nhân.

Trong khuôn khổ phức tạp này, Học thuyết về Hủy diệt lẫn nhau được đảm bảo (Mutual assured destruction, viết tắt là MAD) đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn xung đột hạt nhân giữa các cường quốc. Bất chấp những nỗ lực giải trừ vũ khí đang diễn ra, mối đe dọa từ vũ khí hủy diệt hàng loạt vẫn là mối quan tâm cấp bách trên toàn cầu, vì căng thẳng địa chính trị vẫn tiếp tục diễn biến.        

Như vậy, vũ khí hủy diệt hàng loạt là vũ khí sinh học, hóa học, phóng xạ, hạt nhân hoặc bất kỳ loại vũ khí nào khác

- Các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt:

+ Thứ nhất, vũ khí hạt nhân: Sử dụng phản ứng phân hạch hoặc tổng hợp hạt nhân để giải phóng năng lượng khổng lồ, gây ra các vụ nổ tàn khốc và bụi phóng xạ. 

+ Thứ hai, vũ khí phóng xạ: Sử dụng vật liệu phóng xạ để gây ô nhiễm và ngộ độc phóng xạ trên diện rộng. 

+ Thứ ba, vũ khí hóa học: Sử dụng các hóa chất độc hại để gây hại hoặc giết người, bao gồm chất độc thần kinh, chất gây phồng rộp và chất độc gây chảy máu. 

+ Thứ tư, vũ khí sinh học: Sử dụng các tác nhân gây bệnh (vi khuẩn, virút,...) để gây bệnh và tử vong. 

- Đặc điểm của vũ khí hủy diệt hàng loạt:

+ Tác hại lan rộng: Vũ khí hủy diệt hàng loạt được thiết kế để tác động đến số lượng lớn người, công trình xây dựng như tòa nhà hoặc cơ sở hạ tầng. Các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt thường không phân biệt được chiến binh và thường dân, bên ta hay bên đối phương. 

+ Hậu quả lâu dài: Việc sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt có thể dẫn đến những ảnh hưởng lâu dài đáng kể đến sức khỏe, thiệt hại về môi trường và gián đoạn phát triển xã hội. Vũ khí hạt nhân là một rủi ro hiện hữu[1].

2. Học thuyết Hủy diệt lẫn nhau được đảm bảo (Mutual assured destruction MAD)

Thuật ngữ “hủy diệt lẫn nhau được đảm bảo” ra đời năm 1962. Đây là một Học thuyết về chiến lược quân sự và chính sách an ninh quốc gia, trong đó nêu rằng việc sử dụng vũ khí hạt nhân trên diện rộng để tấn công vào bên phòng thủ được trang bị vũ khí hạt nhân có khả năng tấn công đáp trả sẽ dẫn đến cả hai bên bị hủy diệt hoàn toàn

Theo Học thuyết này, một khi đã được trang bị vũ khí mạnh, không bên nào có động cơ để bắt đầu xung đột hoặc giải giáp. Kết quả có thể là một nền hòa bình hạt nhân, trong đó vũ khí hạt nhân làm giảm nguy cơ leo thang khủng hoảng, vì các bên sẽ tìm cách tránh tình huống có thể dẫn đến việc sử dụng vũ khí hạt nhân.

Do đó, những người ủng hộ lý thuyết hòa bình hạt nhân tin rằng phổ biến vũ khí hạt nhân có kiểm soát có thể có lợi cho ổn định toàn cầu. Tuy nhiên, những người chỉ trích cho rằng phổ biến vũ khí hạt nhân làm tăng khả năng xảy ra chiến tranh hạt nhân thông qua việc sử dụng vũ khí hạt nhân một cách cố ý hoặc vô tình, cũng như khả năng vật liệu hạt nhân rơi vào tay các tổ chức khủng bố.

Theo Học thuyết này, mỗi bên đều có đủ vũ khí hạt nhân để tiêu diệt bên kia. Bất kỳ bên nào, nếu bị bên kia tấn công, sẽ trả đũa bằng lực lượng ngang bằng hoặc lớn hơn. Kết quả là hai bên tham chiến dẫn đến hủy diệt lẫn nhau toàn diện. Học thuyết này còn cho rằng không bên nào dám tấn công trước, vì bên kia sẽ tấn công khi được cảnh báo hoặc với lực lượng còn sống sót, họ sẽ đáp trả dẫn đến tổn thất không thể chấp nhận được cho cả hai bên.

Tuy nhiên, nhiều người cho rằng sự hủy diệt lẫn nhau chắc chắn không thể ngăn chặn được leo thang chiến tranh sử dụng vũ khí thông thường.

Trong Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ và Liên Xô đều đấu tranh để duy trì sự cân bằng hạt nhân, hoặc ít nhất là duy trì khả năng tấn công trả đũa. Mặc dù Chiến tranh Lạnh đã kết thúc vào đầu những năm 1990, học thuyết “hủy diệt lẫn nhau được đảm bảo” vẫn tiếp tục được áp dụng.

Những người ủng hộ Học thuyết “hủy diệt lẫn nhau được đảm bảo” tin rằng chiến tranh hạt nhân có thể được ngăn chặn tốt nhất, nên mỗi bên phải đầu tư vốn đáng kể vào kho vũ khí hạt nhân ngay cả khi chúng không được dự định sử dụng. Hai quốc gia đều củng cố và đa dạng hóa các hệ thống phân phối hạt nhân[2] và Hiệp ước chống tên lửa đạn đạo.

Ngày nay, quan hệ giữa Hoa Kỳ và Nga ít căng thẳng hơn, trong khi Học thuyết “hủy diệt lẫn nhau được đảm bảo” trở nên ít áp dụng hơn. Tuy nhiên, bất ổn trong quan hệ giữa các nước lớn có thể dẫn đến chiến tranh hạt nhân ngoài ý muốn, sẽ khiến một trong các bên thiếu kiềm chế, thực hiện các động thái không được tính toán thấu đáo[3] có thể kích động tấn công phủ đầu đối phương, dẫn tới bùng nổ chiến tranh hạt nhân.

Hiện nay, có dấu hiệu hệ thống toàn cầu nhằm ngăn chặn phổ biến vũ khí hạt nhân và thúc đẩy giải trừ vũ khí hạt nhân đang bắt đầu xung đột. Chế độ không phổ biến vũ khí hạt nhân đã tồn tại hơn nửa thế kỷ, nhưng một số quốc gia đang có được vật liệu và công nghệ hạt nhân nhạy cảm thông qua mua bán bất hợp pháp và thương mại ưu đãi. Iran đã tích lũy được 10 kg uranium được làm giàu cao và hạn chế nghiêm trọng việc tiếp cận các địa điểm hạt nhân của nước này, hay việc Australia trở thành quốc gia phi hạt nhân đầu tiên nhận được nhiên liệu làm giàu cao cấp cho các tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân do tham gia vào khối AUKUS[4]. Hai trường hợp này là điển hình cho những thách thức ngày càng tăng mà hệ thống không phổ biến vũ khí hạt nhân phải đối mặt. 

Để khôi phục vai trò của chế độ không phổ biến vũ khí hạt nhân như bức tường thành đảm bảo ổn định toàn cầu, các tổ chức và quốc gia không phổ biến vũ khí hạt nhân cần có những cách thức mới để theo dõi và giải quyết sự phát triển của vũ khí hạt nhân. Cần một cách tiếp cận sáng tạo để giám sát và hạn chế hoạt động nguy hiểm, cần các công cụ mới để theo dõi các chỉ số bổ sung về phát triển và sản xuất đầu đạn hạt nhân cho tên lửa hoặc các phương tiện vận chuyển khác. 

Thế giới đã hình thành và ra đời một số hiệp ước đa phương cấm một số loại vũ khí hủy diệt hàng loạt như Công ước về vũ khí sinh học (BWC) và Công ước về vũ khí hóa học (CWC). Nhưng vũ khí hạt nhân không bị cấm. Các chính phủ và tổ chức toàn cầu hướng đến mục tiêu giảm thiểu rủi ro hiện hữu nên ủng hộ các biện pháp giảm thiểu rủi ro hạt nhân, nhưng phản đối việc xóa bỏ hoàn toàn và nhanh chóng vũ khí hạt nhân. Việc xóa bỏ vũ khí hạt nhân tạo ra nguy cơ nghiêm trọng quay trở lại kỷ nguyên xung đột giữa các cường quốc, điều này có thể làm tăng đáng kể rủi ro hiện hữu.

Các cường quốc hạt nhân trên thế giới do dự trong việc triển khai vũ khí hạt nhân trong chiến tranh. Các đối thủ của Chiến tranh Lạnh hiểu rằng bất kỳ cuộc chiến tranh hạt nhân đều sẽ phải trả giá quá đắt. Do đó, phương Tây (do Hoa Kỳ lãnh đạo) và phương Đông (do Liên Xô, nay là Nga) ngăn cản hai nước tham gia vào chiến tranh công khai. Thành công của chính sách này là không bên nào muốn mạo hiểm phóng vũ khí hạt nhân vào bên kia, vì vậy không bên nào cho phép xảy ra đối đầu trực tiếp.

Sau Chiến tranh Lạnh, kho vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ và Nga bắt đầu thu hẹp với sự ra đời của một số hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân và giải trừ quân bị do Liên hợp quốc bảo trợ. Khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, các cường quốc hạt nhân lớn nhất thế giới không thấy cần phải tiếp tục xây dựng kho vũ khí hạt nhân. Thế giới bắt đầu cảm thấy như thể bóng ma chiến tranh hạt nhân đang mờ dần.

Mặc dù không quốc gia nào chính thức phản đối mục tiêu xóa bỏ vũ khí hạt nhân, nhưng gần đây không có tiến triển thực tế nào trong việc giải trừ vũ khí hạt nhân. Trong khi căng thẳng đang gia tăng ở Đông Bắc Á và Nam Á, dường như không có giám sát đầy đủ trong thời gian dài sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc để xác nhận lý thuyết răn đe có phù hợp với thực tế của thế giới hay không.

Tuy nhiên, Hoa Kỳ và Nga không phải là những cường quốc hạt nhân duy nhất trên thế giới. Trung Quốc đã thử quả bom hạt nhân đầu tiên. Ấn Độ, Israel và Pakistan cũng không kém cạnh. Điều thú vị là Ấn Độ, Israel và Pakistan sẽ không ký Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) mang tính bước ngoặt, nhưng nhiều nước khác sẽ ký (mặc dù họ sẽ giải trừ vũ khí không lâu sau khi tuyên bố khả năng hạt nhân), chẳng hạn như các quốc gia thuộc Liên Xô cũ, Nam Phi và Irắc. Tuy nhiên, có ba quốc gia là Syria, Iran và Triều Tiên đã thu hút sự chú ý của quốc tế với cái gọi là “các quốc gia có mối quan ngại về phổ biến vũ khí hạt nhân ngay lập tức”, có nghĩa là họ bị cáo buộc tiếp tục phát triển các chương trình hạt nhân bất chấp các yêu cầu của cộng đồng quốc tế.

Với sự phát triển liên tục của vũ khí hạt nhân của các quốc gia có chủ quyền, mối quan tâm không chỉ còn là về các đầu đạn đang được chế tạo mà còn về các phương pháp mà các vũ khí đó có thể được triển khai. Trên thực tế, vấn đề triển khai vũ khí vẫn là vấn đề tối quan trọng trong quan hệ giữa các quốc gia cũng như bản chất của chính các loại vũ khí đó.

Chiến tranh Lạnh kết thúc, làm gia tăng an ninh hạt nhân, do vũ khí hủy diệt hàng loạt lọt vào tay các tổ chức khủng bố. Mặc dù cộng đồng toàn cầu đã nỗ lực để giảm leo thang đe dọa chiến tranh hạt nhân, nhưng một số thứ vẫn không thay đổi so với trước. Năm 2020, Tổng thống Nga Putin đã phê duyệt chính sách răn đe hạt nhân mới, cho phép sử dụng vũ khí hạt nhân trong những tình huống bị đe dọa sự tồn tại của đất nước, chống lại các cuộc tấn công của kẻ thù bằng vũ khí thông thường. Tuy nhiên, gần đây một số tài liệu đã tiết lộ một kịch bản đáng báo động: Ngưỡng hạt nhân của Nga thấp hơn mức được công bố trước đó. Theo các tài liệu này, việc sử dụng vũ khí hạt nhân là hợp lý khi các đơn vị bảo vệ khu vực biên giới bị đánh bại và kẻ thù có thể đổ bộ vào lãnh thổ Nga. Quân đội Nga cũng có thể sử dụng vũ khí hạt nhân sau khi tối đa ba sân bay, ba tàu tuần dương, hai trung tâm chỉ huy ven biển và 20 phần trăm số tàu ngầm tên lửa đạn đạo của nước này bị phá hủy.

Hoa Kỳ và Trung Quốc đều lên tiếng phản đối việc Nga sử dụng vũ khí hạt nhân ở Ukraine, đều ủng hộ việc phi hạt nhân hóa Triều Tiên và một Iran không có vũ khí hạt nhân theo những cách khác nhau. Hợp tác về những vấn đề này có thể mở ra con đường đối thoại chính sách hạt nhân.

Đến nay, Hoa Kỳ và Nga vẫn nắm giữ 89 phần trăm vũ khí hạt nhân và 86 phần trăm đầu đạn hạt nhân của thế giới. Trung Quốc đang hiện đại hóa lực lượng hạt nhân. Gần đây ba hầm chứa tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM) của Trung Quốc bị phát hiện ở các vùng hẻo lánh ở phía tây và phía bắc đất nước cho thấy một lượng lớn vũ khí và một chiến lược khác để sử dụng chúng. Trung Quốc không xây dựng lực lượng lớn và cảnh giác cao mà thay vào đó sẵn sàng trả đũa. Trung Quốc đã mở rộng hơn nữa lực lượng tên lửa đạn đạo tầm trung DF-26 có khả năng kép, thay thế hoàn toàn DF-21 tầm trung. Trên biển, Trung Quốc trang bị lại các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo Type 094 bằng tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm JL-3 tầm xa hơn. Ngoài ra, Trung Quốc gần đây đã giao nhiệm vụ hoạt động hạt nhân cho máy bay ném bom và đang phát triển một tên lửa đạn đạo phóng từ trên không có thể có khả năng hạt nhân. Nhìn chung, việc mở rộng hạt nhân của Trung Quốc là một trong những chiến dịch hiện đại hóa lớn nhất và nhanh nhất trong số các quốc gia có vũ khí hạt nhân.

Mức độ thử nghiệm bom hạt nhân trong Chiến tranh Lạnh cho thấy sự điên rồ của chính sách hạt nhân bên miệng hố chiến tranh, cuối cùng có thể hủy diệt loài người và làm ô nhiễm hành tinh trong hàng trăm nghìn năm.

Răn đe hạt nhân có hiệu quả - hoặc ít nhất cho đến nay nó đã có hiệu quả. Trong cuộc xung đột ở Ukraine, Mỹ và châu Âu trang bị vũ khí cho đồng minh nhưng không dám triển khai quân tác chiến chống lại Nga. Đổi lại, Nga không dám tấn công phương Tây. Hai bên đều đảm bảo rằng các cường quốc hạt nhân không tấn công lẫn nhau một cách công khai, giống như nó ngăn chặn chiến tranh lạnh trở nên nóng bỏng, mặc dù có rất nhiều xung đột ủy nhiệm đã xảy ra./.

Nguyễn Hồng Quân

-------------------

Chú thích:

[1] Tính đến thời điểm hiện nay, 9 quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân như: Hoa Kỳ, Nga, Pháp, Trung Quốc, Vương quốc Anh, Pakistan, Ấn Độ, Israel và Triều Tiên.

[2] Như: Hầm chứa tên lửa hạt nhân, tàu ngầm tên lửa đạn đạo và máy bay ném bom hạt nhân.

[3] Như đặt lực lượng vào tình trạng báo động.

[4] Gồm: Australia, Anh và Hoa Kỳ.