Vai trò của công tác dân vận trong Cách mạng tháng Tám năm 1945
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đánh dấu thắng lợi vĩ đại đầu tiên của Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thắng lợi này đã mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời cho thấy sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân khi được tập hợp dưới ngọn cờ cách mạng. Đóng góp vào thành công ấy chính là công tác dân vận, là nghệ thuật vận động, giác ngộ và tổ chức quần chúng của Đảng ta.
Dân vận và công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta; là điều kiện quan trọng bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng và củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Công tác dân vận là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của mọi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên các đoàn thể nhân dân, cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang. Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nhất là trong bối cảnh đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đổi mới và tăng cường thực hiện thật tốt hơn nữa công tác dân vận trong thời gian tới.
1. Công tác vận động quần chúng là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng
Lịch sử đã chứng minh, trước Cách mạng Tháng Tám 1945, nhân dân ta phải sống dưới ách thống trị “một cổ hai tròng” của cả chế độ thực dân và phong kiến. Hơn 80 năm đô hộ, thực dân Pháp cùng bè lũ phong kiến tay sai đã áp bức, bóc lột khiến đời sống của đa số người dân vô cùng cơ cực: nông dân mất đất, công nhân lâm vào cảnh bần cùng, tầng lớp tiểu tư sản, trí thức cũng không có quyền tự do cơ bản. Đỉnh điểm là nạn đói khủng khiếp năm1945 do phát xít Nhật và thực dân Pháp gây ra đã cướp đi sinh mạng của trên 2 triệu người dân Việt Nam. Trên trường quốc tế, chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc, phát-xít Đức đã đầu hàng Hồng quân Liên Xô, phát-xít Nhật cũng suy yếu nhiều. Ngày 9/3/1945, Nhật nổ súng đảo chính Pháp trên toàn cõi Đông Dương, Pháp chống trả yếu ớt và nhanh chóng đầu hàng. Nhân thời cơ đó, ngày 12/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta. Tuy nhiên đến đầu tháng 8/1945, Nhật hoàng mới chính thức đầu hàng Đồng minh vô điều kiện, tạo thời cơ ngàn năm có một để nhân dân ta vùng lên giành chính quyền.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra cho cách mạng nước ta là phải huy động được tối đa sức mạnh của toàn dân tộc cho cuộc Tổng khởi nghĩa. Thực tiễn lịch sử cho thấy các phong trào yêu nước trước đó (phong trào Cần Vương (1885 - 1896), khởi nghĩa Yên Thế (1884 - 1913), đến khởi nghĩa Yên Bái (1930)… đều thất bại, một phần vì chưa tập hợp được lực lượng quần chúng rộng rãi, một phần thiếu sự lãnh đạo thống nhất. Ngược lại, Cách mạng Tháng Tám diễn ra trong khoảng từ ngày 14 đến ngày 28/8/1945, chỉ trong 15 ngày chúng ta đã thành công, là do Đảng ta đã biến được những mâu thuẫn sâu sắc giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc và bè lũ tay sai thành hành động cách mạng trên quy mô cả nước. Điều này cho thấy Đảng Cộng sản Đông Dương đã làm tốt công tác dân vận: tuyên truyền, giác ngộ quần chúng về mục tiêu độc lập dân tộc; tổ chức và dẫn dắt các tầng lớp nhân dân đứng lên đấu tranh; đồng thời linh hoạt tận dụng thời cơ và phương pháp đấu tranh phù hợp. Nói cách khác, cách mạng muốn thắng lợi thì phải “lấy dân làm gốc”, đó là tư tưởng nhất quán mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn nhấn mạnh ngay từ những ngày đầu chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa.
Ngay từ khi mới thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam (tiền thân là Đảng Cộng sản Đông Dương) đã xác định công tác vận động quần chúng là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng. Tháng 2/1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thay mặt Đảng kêu gọi “công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh và toàn thể đồng bào bị áp bức” gia nhập, ủng hộ và đi theo Đảng. Lời hiệu triệu này thể hiện rõ quan điểm: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Đảng ra đời để tập hợp, tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh tự giải phóng. Từ tư tưởng đó, Đảng nhanh chóng xây dựng các tổ chức quần chúng và đào tạo cán bộ chuyên trách làm công tác dân vận. Tháng 10/1930, Hội nghị Trung ương lần thứ nhất đã thông qua các Án nghị quyết về Công nhân vận động, Nông dân vận động, Thanh niên vận động,… và thành lập Hội Phản đế đồng minh, hình thức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây chính là những bước đi đặt nền móng cho công tác dân vận của Đảng.
Trong giai đoạn 1930 - 1945, quan điểm dân vận của Đảng ngày càng hoàn thiện gắn với từng bước phát triển của phong trào cách mạng. Qua cao trào Xô viết - Nghệ Tĩnh 1930 - 1931, Đảng rút ra bài học về xây dựng khối liên minh công nông vững chắc và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất. Đến thời kỳ Mặt trận Dân chủ 1936 - 1939, Đảng chủ trương tận dụng mọi khả năng vừa hợp pháp, vừa nửa hợp pháp để vận động các tầng lớp từ công nhân, nông dân đến tiểu tư sản, tư sản dân tộc, địa chủ và nhân sĩ yêu nước tham gia mặt trận chống phát xít, đòi tự do dân sinh dân chủ. Quan điểm “đại đoàn kết dân tộc” được quán triệt sâu rộng: cách mạng không chỉ là của giai cấp vô sản mà là sự nghiệp chung của toàn dân tộc chống ách áp bức xâm lược. Tại Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì, Đảng quyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh) nhằm tập hợp rộng rãi “tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước” cùng đứng trên trận tuyến chống Nhật - Pháp, giành độc lập cho Tổ quốc. Quan điểm nhất quán của Đảng lúc này là: bất kỳ ai, thuộc giai cấp, tôn giáo hay xu hướng chính trị nào, hễ có lòng yêu nước chống ngoại xâm đều có thể trở thành lực lượng cách mạng. Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược này thể hiện tầm nhìn xa của Đảng trong việc dung hòa vấn đề giai cấp và dân tộc, tạo tiền đề quan trọng để huy động cao nhất sức mạnh toàn dân trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám.
Để tiến tới Tổng khởi nghĩa thành công, Đảng ta xác định phải làm tốt công tác tuyên tuyền, vận động, giác ngộ, tập hợp quần chúng, đó chính là công tác dân vận. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ về vai trò của quần chúng nhân dân và công tác dân vận. Người luôn khẳng định vai trò quyết định của nhân dân: “trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”, “trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ lợi ích của nhân dân”. Dân là gốc của nước, của cách mạng. “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”, “nước lấy dân làm gốc… Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Về dân vận người chỉ rõ: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những việc nên làm, những công việc mà Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”: “dân vận không thể chỉ dùng báo chương, sách vở, mít tinh, khẩu hiệu, truyền đơn, chỉ thị mà đủ. Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được. Điểm thứ hai là bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với nhân dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh của địa phương, rồi động viên và tổ chức nhân dân ra thi hành. Trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân. Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng”. Người còn chỉ rõ người cán bộ dân vận phải “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”, mỗi cán bộ, đảng viên phải trực tiếp và thường xuyên làm công tác dân vận, chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Mọi đường lối, chủ trương của Đảng đều phải xuất phát từ nguyện vọng, lợi ích của nhân dân. Bằng việc tiếp thu sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và kinh nghiệm các cuộc cách mạng trên thế giới, Đảng ta hiểu rằng “dựa vào dân, gắn bó với dân, tin ở dân” chính là bí quyết làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng lấy dân làm gốc đó đã trở thành kim chỉ nam cho toàn bộ quá trình Đảng lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành chính quyền năm 1945. Tư tưởng đó luôn được Đảng ta chỉ đạo, lãnh đạo và áp dụng xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo cách mạng từ khi thành lập nước cho tới ngày nay.
Trong thực tiễn Cách mạng Tháng Tám, Đảng đã vận dụng linh hoạt nhiều hình thức, nội dung, phương pháp dân vận phong phú để tập hợp, giác ngộ và huy động quần chúng nhân dân tham gia Tổng khởi nghĩa. Trước hết, Đảng chú trọng xây dựng tổ chức mặt trận và các đoàn thể quần chúng làm cầu nối giữa Đảng với nhân dân. Từ năm 1941, Mặt trận Việt Minh và các tổ chức cứu quốc được thành lập khắp nơi, thu hút đông đảo quần chúng ở mọi giới, mọi ngành. Dưới ngọn cờ Việt Minh, nhân dân yêu nước thuộc mọi giai cấp (công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc), các tôn giáo, dân tộc thiểu số, thậm chí nhiều đảng phái và hội đoàn vốn khác biệt về chính kiến cũng được tập hợp vào khối đoàn kết chung vì mục tiêu độc lập. Nhiều tổ chức quần chúng công khai hoặc bí mật ra đời như: Nông dân cứu quốc, Công nhân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Tự vệ cứu quốc,... Đây là lực lượng nòng cốt vừa tuyên truyền, tổ chức nhân dân tại cơ sở, vừa sẵn sàng làm lực lượng đấu tranh trực tiếp khi có lệnh khởi nghĩa. Song song với đó, Đảng còn tìm cách tận dụng các hình thức hợp pháp và nửa hợp pháp để mở rộng ảnh hưởng trong quần chúng. Ở Nam Kỳ năm 1945, lực lượng cách mạng đã khéo léo vận động thanh niên tham gia tổ chức Thanh niên Tiền phong do chính quyền bù nhìn bảo trợ, biến tổ chức này thành lực lượng quần chúng cách mạng hùng hậu ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ khi Tổng khởi nghĩa nổ ra.
Về nội dung tuyên truyền, giác ngộ, Đảng ta đề ra những khẩu hiệu, thông điệp gần gũi, đáp ứng nguyện vọng bức thiết của nhân dân để thu phục lòng dân. Điển hình là khẩu hiệu “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói” được phát động ngay sau khi phát xít Nhật đảo chính Pháp (3/1945). Khẩu hiệu này đánh trúng vào nhu cầu sống còn của hàng triệu người dân đang đói khát, thôi thúc họ đứng lên hành động. Thực hiện lời kêu gọi của Việt Minh, hàng loạt kho thóc của Nhật ở nông thôn Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã bị dân chúng phối hợp với lực lượng tự vệ phá kho, mang thóc gạo chia cho người nghèo. Phong trào phá kho thóc cứu đói vừa trực tiếp cứu sống nhiều người, vừa giúp quần chúng nhận thức rõ chỉ có Việt Minh và cách mạng mới thực sự lo cho dân. Từ đó, lòng tin của nhân dân với Việt Minh càng sâu sắc, tạo tiền đề để họ tích cực tham gia cướp chính quyền khi thời cơ đến.
Nội dung tuyên truyền của Đảng thời kỳ này cô đúc trong hai khẩu hiệu lớn: “Độc lập và Tự do” và “Đánh đuổi phát xít Nhật và thực dân Pháp”. Việt Minh công bố 10 chính sách lớn, cam kết sau khi giành độc lập sẽ lập chính phủ của dân, chia ruộng đất cho dân cày, thực hiện tự do dân chủ, chăm lo dân sinh… khiến mọi tầng lớp nhân dân đều thấy tương lai của mình gắn bó với cách mạng. Công tác dân vận cũng được tiến hành khéo léo qua nhiều phương thức sáng tạo: truyền đơn, áp phích, báo chí bí mật, các bài ca cách mạng, thơ ca dễ nhớ dễ hiểu và cả hoạt động “địch vận” (vận động binh lính địch làm binh biến hoặc không chống lại cách mạng). Nhờ vậy, tư tưởng yêu nước, ý chí khởi nghĩa lan rộng nhanh chóng. Từ đô thị đến nông thôn, quần chúng đã được chuẩn bị về tư tưởng, sẵn sàng nhất tề vùng dậy theo tiếng gọi của Đảng.
Ngày 19/8/1945, hàng chục vạn nhân dân Hà Nội và các vùng lân cận với đủ mọi tầng lớp rầm rập kéo về trung tâm thành phố mít tinh, biểu tình giành chính quyền. Cuộc Tổng khởi nghĩa đã thu hút sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân trên cả nước, tạo nên khí thế cách mạng sục sôi chưa từng có.
Về phương pháp dân vận và tổ chức đấu tranh, Đảng ta vận dụng linh hoạt nguyên tắc “từ thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn”. Trong giai đoạn chuẩn bị, quần chúng được dẫn dắt tham gia các hình thức đấu tranh phù hợp với điều kiện cho phép: mít tinh, biểu tình thị uy, bãi công, bãi khóa, biểu tình vũ trang từng phần. Những cuộc diễn tập ấy giúp quần chúng ngày càng giác ngộ và có kinh nghiệm đấu tranh, đồng thời làm chính quyền địch rung chuyển từng phần. Đến giữa năm 1945, phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ khắp nơi, nhiều địa phương nông thôn đã nổi dậy giành chính quyền sớm như ở Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam… Khi thời cơ chín muồi (Nhật đầu hàng), Đảng lập tức phát lệnh Tổng khởi nghĩa, hướng dẫn quần chúng đồng loạt vùng dậy trên phạm vi cả nước. Trong khoảng từ ngày 14 đến ngày 28/8/1945, dưới sự lãnh đạo của các cấp bộ Đảng và Việt Minh, nhân dân ta ở cả thành thị lẫn nông thôn đã nhất tề nổi dậy. Tại các đô thị lớn như Hà Nội, Huế, Sài Gòn, hàng vạn người dân xuống đường biểu tình có vũ trang, nhanh chóng chiếm các cơ quan chính quyền địch, trước sự bất lực hoặc tan rã của chúng. Ở nhiều nơi, quần chúng còn kết hợp vận động binh lính địch giao nộp vũ khí hoặc trung lập, tránh đổ máu không cần thiết. Nhờ huy động được sức mạnh áp đảo của quần chúng cùng sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang cách mạng, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hết sức nhanh gọn chỉ trong vòng 15 ngày, ít tổn thất nhất có thể.
Tóm lại, bằng nội dung tuyên truyền đúng đắn, hình thức tổ chức phong phú và phương pháp vận động linh hoạt, Đảng ta đã lôi cuốn được hàng triệu quần chúng vào phong trào cách mạng năm 1945. Từ người nông dân cầm cuốc, người thợ cầm búa cho đến các cụ phụ lão, em nhỏ, ai nấy đều có cách tham gia góp sức vào công cuộc “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Đây chính là nhân tố quyết định tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám.
2. Công tác dân vận là nhân tố quyết định làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 là minh chứng hùng hồn cho hiệu quả của công tác dân vận kiệt xuất của Đảng. Có thể khẳng định, công tác vận động, tập hợp quần chúng là nhân tố quyết định làm nên thắng lợi này. Sức mạnh của 25 triệu người dân Việt Nam đoàn kết một lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đánh đổ ách thống trị hàng thế kỷ của thực dân Pháp và phát xít Nhật, giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc. Nếu không có sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân, cách mạng không thể thành công chỉ trong nửa tháng, càng không thể gần như tránh được đổ máu và giữ vững chính quyền trong hoàn cảnh thù trong giặc ngoài còn lắm nguy cơ. Thắng lợi đó cho thấy vai trò to lớn của công tác dân vận, vai trò đó được thể hiện nổi bật ở các điểm sau:
Một là, đây là nền tảng của thắng lợi. Mặc dù vào năm 1945 Đảng Cộng sản Đông Dương chỉ có khoảng 5.000 đảng viên, nhưng nhờ biết dựa vào dân, tin ở dân và khéo tổ chức, Đảng đã tập hợp được hàng chục triệu quần chúng dưới cờ Việt Minh. Thực tế lịch sử cho thấy, vào giờ phút quyết định, quần chúng nhân dân chính là người trực tiếp làm nên cách mạng. Trong những ngày Tổng khởi nghĩa sục sôi, quần chúng cách mạng ở khắp các địa phương trên cả nước, thông qua các hình thức đấu tranh chính trị như mít tinh, biểu tình, đã nhanh chóng “lật nhào ách thống trị” của phát xít Nhật và tay sai, giành chính quyền về tay Nhân dân. Lực lượng đông đảo quần chúng công nông và các tầng lớp yêu nước được giác ngộ và tổ chức tốt, chính là “bão táp cách mạng” cuốn phăng mọi tàn dư thống trị cũ. Rõ ràng, nếu không có quá trình dân vận bền bỉ trước đó để xây dựng lực lượng quần chúng, Đảng ta đã không thể huy động được một sức mạnh Nhân dân to lớn đến thế.
Hai là, tuyên truyền, vận động, giác ngộ cách mạng giúp toàn dân sẵn sàng nắm thời cơ, khiến cuộc Tổng khởi nghĩa diễn ra đồng loạt và nhanh gọn. Đảng ta đã nhạy bén “chớp đúng thời cơ nghìn năm có một” khi phát xít Nhật đầu hàng. Nhưng thời cơ đó chỉ được biến thành thắng lợi nhờ quần chúng đã ở tư thế sẵn sàng đứng lên. Ngay khi có lệnh khởi nghĩa, lời hiệu triệu của Chủ tich Hồ Chí Minh “giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến, toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” vang lên, lập tức triệu triệu người dân từ Bắc chí Nam hưởng ứng, nhất tề vùng dậy. Ở nông thôn, nông dân được Việt Minh trang bị giáo mác, gậy gộc nổi dậy đánh đuổi bọn hào lý, giải tán chính quyền tay sai. Tại các đô thị, công nhân, thanh niên, trí thức hòa vào dòng người biểu tình thị uy, làm tê liệt hoàn toàn bộ máy cai trị cũ. Chỉ trong vòng 15 ngày (14-28/8/1945), nhân dân ta trên cả nước đã giành chính quyền thành công, hạn chế tối đa sự chống trả của địch. Sự đồng loạt vùng lên đó rõ ràng không phải ngẫu nhiên, mà là kết quả của quá trình vận động tổ chức công phu. Chính Đảng ta, thông qua mạng lưới cán bộ dân vận từ thành thị đến nông thôn, đã bí mật truyền lệnh tổng khởi nghĩa tới từng làng xã, kêu gọi mỗi người dân tham gia vào hành động chung của toàn dân tộc. Nhờ thế, cách mạng đã bùng nổ nhất tề, tạo sức mạnh áp đảo trên phạm vi cả nước, làm kẻ thù trở tay không kịp.
Ba là, công tác dân vận xuất sắc giúp cách mạng giảm thiểu tổn thất và củng cố chính quyền mới được nhanh chóng kịp thời. Bởi lẽ Đảng đã tranh thủ được sự ủng hộ của tuyệt đại đa số nhân dân, nên chính quyền bù nhìn của địch ở hầu hết các nơi tự tan rã hoặc phải đầu hàng trước áp lực quần chúng, tránh được cảnh nồi da xáo thịt. Nhân dân cũng tích cực ủng hộ Việt Minh về vật chất và tinh thần: tự nguyện quyên góp lương thực nuôi quân khởi nghĩa, đóng góp quỹ độc lập, tham gia tự vệ giữ gìn an ninh… Nhờ thế chính quyền cách mạng non trẻ có chỗ dựa vững chắc ngay từ đầu. Uy tín của Việt Minh và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong dân chúng cao đến mức ngày 2/9/1945, khi Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, hàng chục vạn người dân đã tụ hội về thủ đô để trực tiếp chứng kiến giờ phút thiêng liêng ấy. Sự nhất trí đồng lòng của toàn dân tộc đã tạo tính chính danh và chính nghĩa mạnh mẽ cho chính quyền cách mạng, giúp ta vượt qua muôn vàn thử thách sau này.
Bốn là, vận động nhân dân xây dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ trang, rút kinh nghiệm từ các cuộc kháng chiến trước cũng như các cuộc mít tinh, biểu tình… Đảng ta đã chủ động triển khai xây dựng căn cứ địa cách mạng, điển hình là căn cứ địa Việt Bắc. Tại đây, nhân dân các dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Dao, Mông… được vận động tích cực tham gia cách mạng, tham gia du kích, lực lượng vũ trang, bảo vệ cán bộ, nuôi dấu cán bộ, cung cấp lương thực, thực phẩm… Để chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa, Đảng ta đã chủ động thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam sau này). Trên phạm vi cả nước, công tác dân vận còn vận động được đông đảo các tầng lớp nhân dân hưởng ứng lệnh tổng khởi nghĩa tham gia vào các đội du kích vũ trang, các cuộc nổi dậy giành chính quyền. Những đóng góp này đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng Tháng Tám, giúp lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.
Năm là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám còn là thắng lợi của nghệ thuật dân vận kết hợp hài hòa giữa lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang cách mạng. Đảng ta đã khéo kết hợp tuyên truyền vận động với xây dựng các đội vũ trang tuyên truyền, lực lượng du kích, tạo nên thế trận “chính trị và vũ trang” song song. Lực lượng vũ trang tuy ít về quân số nhưng đã làm chỗ dựa tinh thần to lớn cho quần chúng nổi dậy, đồng thời trực tiếp giúp quần chúng đánh chiếm một số mục tiêu then chốt khi cần. Nghị quyết Đại hội Đảng lần III (1960) tổng kết bài học Cách mạng Tháng Tám đã khẳng định: nếu trước đó Đảng không chuẩn bị cả lực lượng vũ trang và căn cứ địa làm chỗ dựa, và nếu khi thời cơ đến mà không kịp thời phát động khởi nghĩa vũ trang hỗ trợ phong trào chính trị, thì cách mạng khó thắng lợi nhanh chóng như vậy. Nói cách khác, công tác vận động quần chúng và xây dựng lực lượng vũ trang phải gắn bó hữu cơ với nhau. Đây chính là nét đặc sắc của nghệ thuật cách mạng Việt Nam: động viên toàn dân, toàn diện, vừa đấu tranh chính trị vừa đấu tranh vũ trang, trong đó đấu tranh chính trị của quần chúng giữ vai trò quyết định.
3. Vận dụng sáng tạo những bài học lịch sử trong công tác dân vận thời kỳ mới
Những phân tích nêu trên cho thấy vai trò to lớn và có tính quyết định của công tác dân vận đối với thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945. Nhờ làm tốt công tác dân vận, Đảng ta đã huy động được sức mạnh vô địch của Nhân dân, biến một đảng với số lượng đảng viên ít ỏi trở thành lực lượng lãnh đạo cả dân tộc vùng lên đấu tranh thắng lợi. Thắng lợi này là minh chứng hùng hồn cho chân lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dạy: “Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Cách mạng Tháng Tám 1945 để lại nhiều bài học lịch sử vô giá, đặc biệt là bài học về phát huy sức mạnh nhân dân thông qua công tác dân vận của Đảng. Những bài học đó vẫn còn nguyên giá trị và cần được vận dụng sáng tạo trong công tác dân vận thời kỳ mới, thời kỳ của “Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”, các bài học tiêu biểu, đó là:
Thứ nhất, luôn kiên định tư tưởng “lấy dân làm gốc”. Mọi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Gốc có vững, cây mới bền; xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Ngày nay, Đảng ta tiếp tục khẳng định nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi cán bộ, đảng viên cần thấm nhuần quan điểm phục vụ nhân dân là vinh dự nhất, như Bác Hồ nói “không có gì vẻ vang bằng phục vụ lợi ích của nhân dân”. Điều này đòi hỏi phải thường xuyên lắng nghe ý kiến dân, tôn trọng quyền làm chủ của dân, “ý Đảng” phải phù hợp với “lòng dân”.
Thứ hai, coi trọng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bài học năm 1945 cho thấy Đảng đã huy động thành công mọi tầng lớp, giai cấp, lực lượng xã hội vào mặt trận chung. Ngày nay, đất nước bước vào thời kỳ hội nhập và phát triển, công tác dân vận càng phải hướng tới mục tiêu đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp chung. Cần đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân, đổi mới nội dung vận động để thu hút sự tham gia của mọi giới, mọi cộng đồng (nông dân, công nhân, trí thức, doanh nhân, tôn giáo, dân tộc thiểu số, kiều bào…). Như tinh thần Hồ Chí Minh, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công”, Đảng ta phải tiếp tục phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới. Khối đại đoàn kết càng vững chắc thì càng tạo nên sức mạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng hiện nay.
Thứ ba, nội dung và phương thức công tác dân vận phải thiết thực, linh hoạt, sát dân. Kinh nghiệm vận động quần chúng thời Cách mạng Tháng Tám nhắc nhở rằng công tác dân vận muốn hiệu quả phải đáp ứng đúng nhu cầu, nguyện vọng của Nhân dân và bằng những cách thức gần gũi, dễ hiểu. Ngày nay, bên cạnh việc tuyên truyền, giáo dục đường lối, chính sách, công tác dân vận cần tập trung giải quyết những vấn đề thiết thân của dân như xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm, bảo vệ môi trường, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh…. Phải làm cho người dân thấy rõ lợi ích cụ thể và ý nghĩa của các phong trào, từ đó họ “tự giác và sẵn sàng tham gia”. Về phương thức, cần kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp truyền thống (gặp gỡ trực tiếp, “ba cùng” với dân: cùng ăn, cùng ở, cùng làm) với phương pháp hiện đại (vận động qua mạng xã hội, qua các mô hình tự quản cộng đồng…). Quan trọng nhất, cán bộ dân vận phải “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”, phải sâu sát thực tiễn, gần gũi Nhân dân, nói đi đôi với làm, làm gương cho dân tin.
Thứ tư, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong công tác dân vận. Cũng như thời kỳ Việt Minh, hiện nay hệ thống Mặt trận và các đoàn thể (Công đoàn, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Cựu chiến binh…) là cánh tay nối dài của Đảng trong việc vận động quần chúng. Bài học lịch sử cho thấy Đảng thành công khi biết dựa vào các tổ chức này để “tuyên truyền, tập hợp nhân dân đứng lên” đấu tranh. Ngày nay, cần tiếp tục củng cố, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể, hướng mạnh về cơ sở, đa dạng hóa hình thức sinh hoạt thu hút tập hợp đoàn viên, hội viên. Các phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động ở cơ sở (như “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Dân vận khéo”, “Xây dựng nông thôn mới”…), Măt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội, cả hệ thống chính trị thực hiện tốt phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng", phải thật sự thiết thực để vừa góp phần phát triển kinh tế - xã hội, vừa gắn kết cộng đồng, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
Thứ năm, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận “vừa hồng vừa chuyên”. Những cán bộ như vậy thời kỳ tiền khởi nghĩa đã ở cùng dân, am hiểu phong tục, tiếng nói của dân, biết thuyết phục cảm hóa quần chúng. Ngày nay, đội ngũ làm dân vận càng cần được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng về phẩm chất đạo đức và kỹ năng vận động quần chúng. Mỗi cán bộ, đảng viên bất kể cương vị nào cũng nên coi việc dân vận là nhiệm vụ thường xuyên của mình như lời Bác Hồ căn dặn. Phong cách “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân” phải được thể hiện ở hành động hàng ngày. Đặc biệt, trong bối cảnh thông tin mạng xã hội lan truyền nhanh, cán bộ dân vận phải nhạy bén nắm bắt dư luận, kịp thời tham mưu cho cấp ủy, chính quyền những biện pháp giải quyết tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, “không để tích tụ thành điểm nóng”. Có như vậy mới góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội từ gốc, ngay từ cơ sở.
Nhìn chung, bài học lớn nhất rút ra từ Cách mạng Tháng Tám là phải luôn nhận thức sức mạnh vô cùng to lớn của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém, dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Lời dạy ấy mãi là kim chỉ nam cho công tác dân vận của Đảng ta. Trong giai đoạn hiện nay, hơn lúc nào hết chúng ta cần nhân lên những bài học vận động quần chúng từ mùa thu cách mạng tháng tám năm xưa, khơi dậy mạnh mẽ sức dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đoàn kết và phát huy sức mạnh nhân dân chính là chìa khóa để thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Cách mạng Tháng Tám thành công đã chứng minh: khi dân tin Đảng, toàn dân đồng lòng, thì bất cứ mục tiêu cao cả nào cũng có thể đạt được, dù khó khăn thách thức lớn đến đâu, nhất là thời gian tới khi nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, thì hơn bao giờ hết, những bài học kinh nghiệm về công tác dân vận từ Cách mạng Tháng Tám vẫn luôn có giá trị và sẽ được Đảng ta vận dụng sáng tạo trong tinh hình mới.
Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 02/9: Giá trị thời đại và sức sống trường tồn”
------------
Tài liệu tham khảo
1. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Sự thật.
3. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc các khóa.
4. Truyền thống công tác dân vận của Đảng.
5. Nghị quyết số 8B-NQ/TW, ngày 27/3/1990 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân.
6. Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 3/6/2013. Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương (Khóa XI) về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới.
7. Quyết định số 23-QĐ/TW, ngày 30/7/2021 của Bộ chính trị về việc ban hành Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị.
8. Bài báo Dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên Báo Sự thật, số 120, ngày 15/10/1949, ký tên XYZ.
9. Cách mạng Tháng Tám 1945, Sự kiện và nhân chứng, NXB Quân đội Nhân dân.
10. Tạp chí Dân vận Trung ương, các số chuyên đề về công tác dân vận.
