Vận hành chính quyền địa phương hai cấp - Những vấn đề đặt ra và giải pháp trọng tâm ( phần 2)
(Tiếp theo và hết)
2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân trong giai đoạn đầu vận hành
Bên cạnh những kết quả tích cực, quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc, đòi hỏi phải có những giải pháp kịp thời và hiệu quả.
Các vấn đề nổi cộm về thể chế, tổ chức bộ máy và nhân sự
Vấn đề lớn nhất là sự mâu thuẫn, chồng chéo hoặc thiếu cụ thể trong các quy định pháp luật. Một số quy định về phân cấp, phân quyền còn khác nhau giữa các luật và nghị định, dẫn đến lúng túng trong cách hiểu và thực hiện tại địa phương. Sự thiếu đồng bộ trong thể chế này là hệ quả trực tiếp của việc ban hành văn bản pháp luật trong thời gian gấp rút. Việc soạn thảo văn bản không thể lường hết được mọi vấn đề phát sinh trong thực tiễn, dẫn đến các "lỗ hổng" pháp lý mà các địa phương phải đối mặt hàng ngày.
Đáng chú ý, theo báo cáo của Ngân hàng Chính sách xã hội, việc sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc triển khai một số chương trình tín dụng chính sách. Cụ thể: (1) Thiếu căn cứ pháp lý để tiếp tục cho vay đối với các đối tượng thụ hưởng ở các xã đặc biệt khó khăn thuộc vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo khi các đơn vị này được chuyển đổi thành “đặc khu”; (2) Các quy định hiện hành chưa xác định rõ “đặc khu” có thuộc “vùng nông thôn” hay không, khiến ngân hàng chính sách xã hội không có cơ sở để triển khai cho vay theo chương trình này tại 13 đặc khu mới được thành lập.
Trước thực trạng đó, Bộ Tư pháp đã chủ trì rà soát, tổng hợp và lấy ý kiến các bộ, ngành để đề xuất phương án hoàn thiện pháp luật, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nói trên. Đây là bước đi cần thiết để bảo đảm hệ thống pháp luật thực sự đồng bộ, thống nhất, làm cơ sở cho chính quyền hai cấp vận hành thông suốt, hiệu quả, phục vụ tốt nhất cho nhân dân.
Về nhân sự, số lượng và chất lượng cán bộ, công chức được bố trí chưa đồng đều. Tình trạng “vừa thừa vừa thiếu” cán bộ diễn ra ở nhiều nơi, đặc biệt là thiếu cán bộ có trình độ chuyên môn trong các lĩnh vực mới như khoa học công nghệ, địa chính, tài chính, y tế, xây dựng. Điều này cho thấy sự thay đổi cơ cấu chưa hoàn toàn đồng bộ với năng lực của đội ngũ hiện có. Một bộ phận cán bộ còn tâm lý e ngại thay đổi, lúng túng trong việc xử lý các tình huống phát sinh sau khi tổ chức lại bộ máy, ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi nhiệm vụ.
Thách thức về cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và công nghệ
Hạ tầng cơ sở vật chất chưa đáp ứng được yêu cầu của mô hình mới. Trụ sở làm việc ở nhiều địa phương vẫn còn thiếu hoặc xuống cấp, chật hẹp, không đủ diện tích để bố trí cho số lượng cán bộ tăng lên sau sáp nhập. Đồng thời, việc xử lý 9.002 cơ sở nhà đất dôi dư là một bài toán phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp liên ngành và có thể kéo dài.
Về hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thống tại các Trung tâm Phục vụ hành chính công vẫn chưa đồng bộ, gây khó khăn trong kết nối, liên thông và chưa bảo đảm cung cấp dịch vụ công toàn trình. Các hệ thống cốt lõi như Cổng Dịch vụ công quốc gia, VNeID và một số nền tảng chuyên ngành hoạt động chưa ổn định, thậm chí quá tải, làm gián đoạn quá trình xử lý hồ sơ. Đây không chỉ là vấn đề tài chính mà còn là rào cản trực tiếp đối với mục tiêu hiện đại hóa chính quyền hai cấp.
Đặc biệt, năng lực chuyển đổi số và trình độ ứng dụng công nghệ thông tin của một bộ phận cán bộ, công chức cấp xã còn hạn chế, trong khi khối lượng công việc phải giải quyết ngày càng nhiều, dẫn tới áp lực lớn và thêm khó khăn trong giai đoạn hiện nay.
Những thực trạng này đặt ra yêu cầu chúng ta cần có kế hoạch tổng thể, đồng bộ về đầu tư cơ sở vật chất, nâng cấp hạ tầng số, đồng thời đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ để đáp ứng yêu cầu của mô hình mới. Chỉ khi giải quyết căn cơ hai “nút thắt” này, chính quyền địa phương hai cấp mới thực sự vận hành thông suốt, hiệu quả và hiện đại.
Vướng mắc về giải quyết chế độ, chính sách, bố trí nhà ở công vụ, phương tiện đưa đón cho cán bộ, công chức
Một số đối tượng cán bộ, công chức chịu sự tác động do sắp xếp tổ chức bộ máy, tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp giai đoạn đầu nhưng chưa được áp dụng chế độ, chính sách tại Nghị định số 178/2025/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 67/2025/NĐ-CP) như: Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đã có từ đủ 15 năm trở lên làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hoặc có đủ 15 năm trở lên làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã đủ tuổi nghỉ hưu, cán bộ cấp xã trở lên đang hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động, chế độ bệnh binh nghỉ ngay khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp; người lao động làm việc tại các Hội do Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ ở cấp tỉnh, cấp huyện nghỉ ngay khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp; cán bộ công đoàn chuyên trách làm việc theo chế độ hợp đồng lao động (hưởng lương và phụ cấp từ nguồn kinh phí công đoàn) nghỉ ngay khi thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp theo Kết luận số 174-KL/TW); một số quy định về chế độ, chính sách, bảo đảm giữa các đối tượng chưa bảo đảm tính tương quan. Điều này cho thấy quá trình soạn thảo chính sách chúng ta cũng chưa lường hết được các trường hợp thực tiễn.
Về ngân sách, một số địa phương (cấp xã) chưa thực hiện được chi ngân sách nhà nước kịp thời do chưa kiện toàn được bộ máy đầy đủ, gặp khó khăn trong việc bố trí cán bộ làm kế toán trưởng, hoặc chưa được cấp con dấu. Tình trạng này là hệ quả trực tiếp của việc kiện toàn bộ máy chậm trễ, cho thấy mối liên kết chặt chẽ giữa vấn đề tổ chức và vấn đề tài chính.
Về giải quyết chế độ, chính sách: Trong số 79.366 người đã nghỉ việc, mới có 41.904 người đã nhận được tiền chính sách. Việc chậm trễ này, dù một phần do quy trình thủ tục, nhưng cũng tác động đến tâm lý, niềm tin của cán bộ, công chức, viên chức đối với chính sách của Nhà nước.
Bên cạnh đó, một số địa phương còn khó khăn trong việc bố trí nhà ở, phương tiện cho cán bộ, công chức khi chuyển đến nơi mới.
Những vấn đề trên đặt ra yêu cầu chúng ta phải khẩn trương rà soát, bổ sung chính sách, bảo đảm công bằng cho mọi đối tượng; đồng thời đẩy nhanh tiến độ kiện toàn bộ máy, tháo gỡ khó khăn về tài chính, cơ sở vật chất, để mỗi cán bộ yên tâm công tác, đóng góp vào thành công chung của mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Về thực hiện các thủ tục hành chính, triển khai chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin, lưu trữ hồ sơ, số hóa tài liệu (công tác bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin)
Một trong những vấn đề nổi bật trong giai đoạn đầu vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đó là hạ tầng và năng lực số của chúng ta còn nhiều điểm nghẽn, chưa đồng bộ, ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Trước hết, hệ thống hạ tầng kỹ thuật từ Trung ương, cấp tỉnh đến cấp xã chưa được kết nối đồng bộ, thống nhất, dẫn đến khó khăn trong liên thông và cung cấp dịch vụ công toàn trình. Một số nền tảng quan trọng như Cổng Dịch vụ công quốc gia, VNeID, các dịch vụ công liên thông, hệ thống hộ tịch điện tử, phần mềm cấp mã số đăng ký kinh doanh và các phần mềm nghiệp vụ chuyên ngành vẫn còn hoạt động chưa ổn định, thậm chí quá tải. Ngay cả việc cấp và cập nhật chữ ký số cho tổ chức, cá nhân ở một số nơi cũng chưa kịp thời, ảnh hưởng đến tiến độ xử lý công việc.
Bên cạnh đó, phần mềm giải quyết thủ tục hành chính trực tuyến còn chậm cập nhật, nhất là các tờ khai, biểu mẫu mới. Có trường hợp khi người dân kê khai sai hoặc thiếu thông tin thì không thể điều chỉnh mà phải thực hiện lại từ đầu, gây gián đoạn quy trình, kéo dài thời gian xử lý và làm giảm sự hài lòng của người dân.
Về yếu tố con người, năng lực chuyển đổi số và trình độ công nghệ thông tin của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vẫn còn hạn chế, trong khi khối lượng công việc và nhu cầu thực hiện thủ tục hành chính tại cấp này là rất lớn.
Công tác số hóa, lưu trữ tài liệu, đặc biệt là khối lượng hồ sơ của cấp huyện trước khi sắp xếp tại một số địa phương (Quảng Ngãi, Điện Biên, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Tây Ninh…) vẫn chậm do thiếu máy móc, phương tiện, nhân lực, kho lưu trữ, và kinh phí. Cơ sở vật chất bảo quản tài liệu chưa đảm bảo, tiềm ẩn nguy cơ hư hỏng, thất lạc.
Ngoài ra, bảo đảm an ninh mạng và an toàn thông tin còn nhiều khó khăn. Một số địa phương (Đà Nẵng, Đồng Tháp, Nghệ An) chưa vô hiệu hóa các tính năng thu, phát sóng trên thiết bị, chưa cài đặt đầy đủ phần mềm bản quyền; vẫn còn tình trạng dùng chung máy tính, lưu vết tài khoản, dẫn đến nguy cơ lộ lọt thông tin. Đặc biệt, nhiều trung tâm hành chính công chưa có nhân lực chuyên trách an ninh mạng, chưa phân vùng mạng tách biệt cho cán bộ và công dân.
Những vấn đề trên cho thấy, cùng với việc hoàn thiện thể chế, chúng ta cần tập trung mạnh mẽ vào đầu tư hạ tầng số đồng bộ, nâng cao năng lực số của đội ngũ, tăng cường bảo đảm an toàn thông tin, và đẩy nhanh tiến trình số hóa, liên thông dữ liệu, nhằm bảo đảm chính quyền địa phương hai cấp thực sự hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt nhất cho nhân dân.
Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc
Những hạn chế, khó khăn nêu trên xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan và khách quan.
Thứ nhất, về nguyên nhân chủ quan
Một là, công tác lãnh đạo, chỉ đạo ở một số địa phương chưa thật sự quyết liệt, đồng bộ. Vẫn còn nơi chưa kịp thời cụ thể hóa chỉ đạo của Trung ương, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ thành chương trình, kế hoạch hành động rõ ràng; còn lúng túng trong khâu tổ chức thực hiện, dẫn đến tiến độ chậm, chất lượng chưa đạt yêu cầu. Ở một số cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp xã, việc kiện toàn tổ chức, ban hành quy chế hoạt động, phân công chức năng, nhiệm vụ chưa kịp thời; phân định vai trò, trách nhiệm giữa các cơ quan sau khi sáp nhập hoặc thay đổi địa giới hành chính chưa rõ ràng. Tại một số xã, bộ máy chưa kiện toàn, thiếu cán bộ kế toán trưởng, chưa được cấp con dấu, nên không đủ điều kiện mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước, làm chậm việc chi ngân sách.
Hai là, tổ chức bộ máy, năng lực và sự thích ứng của đội ngũ cán bộ còn chưa đồng đều. Việc áp dụng số lượng phòng chuyên môn giống nhau cho tất cả các xã chưa phù hợp với đặc thù từng địa phương; khó khăn trong bố trí cán bộ có trình độ chuyên sâu ở các lĩnh vực; nhiều cán bộ, công chức cơ sở chưa được tập huấn đầy đủ về mô hình mới và kỹ năng làm việc trong môi trường số. Một bộ phận còn tâm lý e ngại thay đổi, lúng túng trước tình huống mới. Thậm chí có trường hợp được điều động nhưng chưa quen địa bàn, chưa am hiểu dân cư và hạ tầng, trong khi yêu cầu nhiệm vụ lớn và văn bản mới liên tục cập nhật.
Ba là, điều kiện kỹ thuật và nhân lực cho công tác chuyển đổi số còn thiếu. Nhiều xã mới sáp nhập chưa được trang bị đủ chữ ký số, tài khoản hệ thống quản lý điều hành; hạ tầng CNTT còn yếu, gây gián đoạn xử lý hồ sơ điện tử. Địa bàn quản lý rộng, dân cư phân tán, nhất là ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, làm tăng chi phí, thời gian đi lại và khó khăn cho cung cấp dịch vụ công. Xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn rào cản ngôn ngữ, tập quán, hạn chế tiếp cận công nghệ, nên việc thích ứng với mô hình mới càng khó khăn.
Bốn là, hệ thống thể chế, chính sách chưa đồng bộ. Do yêu cầu tiến độ gấp, việc ban hành luật, nghị định, thông tư hướng dẫn chưa dự liệu hết các tình huống thực tế; vẫn tồn tại điểm chồng chéo, chưa thống nhất, hoặc thiếu cụ thể, dẫn đến lúng túng trong thực hiện, nhất là ở cấp xã. Một số lĩnh vực vẫn chưa có quy định hoặc đang trong quá trình lấy ý kiến, như tổ chức bộ máy chuyên môn, phân cấp nhiệm vụ, chuyển đổi cơ sở dữ liệu.
Năm là, công tác phối hợp chưa thật sự chặt chẽ. Một số bộ, ngành khi đề xuất nhu cầu về trụ sở chỉ nêu hiện trạng thiếu, mà chưa đánh giá tổng thể việc quản lý, sử dụng trên địa bàn; điều này khiến địa phương khó có cơ sở để phối hợp sắp xếp, bố trí hợp lý.
Thứ hai, về nguyên nhân khách quan
Một là, mô hình mới, phạm vi triển khai rộng, thời gian thực hiện gấp rút là nguyên nhân chủ yếu. Đây là một cải cách thể chế sâu rộng, tác động mạnh tới cả hệ thống chính trị, chính quyền địa phương và đời sống nhân dân. Thời gian chuẩn bị, thử nghiệm và vận hành chính thức ngắn, khối lượng công việc lớn, địa bàn rộng, trong khi các văn bản pháp luật phải điều chỉnh liên tục “vừa làm, vừa hoàn thiện”, nên không tránh khỏi độ trễ và bất cập. Riêng việc xử lý, bố trí trụ sở phải điều chỉnh nhiều loại quy hoạch, dẫn đến chậm tiến độ.
Hai là, điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và CNTT còn hạn chế. Ở nhiều xã vùng sâu, vùng xa, hạ tầng CNTT chưa đồng bộ, phần mềm điều hành chưa kết nối thông suốt; đường truyền yếu, thiếu thiết bị, gây cản trở cho số hóa, liên thông dữ liệu, ký số. Vấn đề nhà, đất dôi dư hoặc thiếu trụ sở phát sinh ở cả trung tâm hành chính mới và các địa bàn không còn là trung tâm, với đặc điểm: trụ sở xã cũ chỉ đủ cho 20 người, nay theo mô hình mới có tới 70 cán bộ, nên không đủ diện tích, phải làm việc ở nhiều điểm.
Ba là, khó khăn về nguồn lực tài chính. Nhiều tỉnh miền núi chưa cân đối được ngân sách để sửa chữa trụ sở, mua sắm thiết bị, hỗ trợ sinh hoạt cho cán bộ ở đơn vị mới, trong khi nguồn hỗ trợ từ Trung ương vẫn đang hướng dẫn, cấp phát. Sau khi điều chỉnh mã địa bàn, một số đơn vị chưa ổn định tổ chức để phối hợp xử lý; thậm chí khi Bộ Tài chính gửi công văn đề nghị cung cấp thông tin máy chủ SS lần thứ ba (công văn 1155/CNTT-CNTT ngày 18/7/2025), vẫn có tỉnh chưa kịp trả lời.
3. Giải pháp thời gian tới
Để khắc phục những khó khăn, vướng mắc và giải quyết những vấn đề đặt ra, chúng ta cần có sự phối hợp đồng bộ, quyết liệt từ Trung ương đến địa phương, với một tư duy đổi mới và thích ứng liên tục để triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp trọng tâm, cụ thể như sau:
Một là, khẩn trương hoàn thiện thể chế và chính sách
Các bộ, ngành cần tiếp tục rà soát, ban hành các văn bản pháp luật theo thẩm quyền để xử lý mâu thuẫn, chồng chéo, lấp đầy các "khoảng trống" pháp lý. Đặc biệt, cần ưu tiên các lĩnh vực quản lý đất đai, xây dựng, tài chính - ngân sách, dân cư, hộ tịch, giáo dục và y tế. Việc ban hành các "sổ tay, cẩm nang nghiệp vụ" với hướng dẫn về quy trình, quy chuẩn cụ thể sẽ giúp địa phương dễ dàng triển khai hơn. Mục tiêu đến 31/8, giải quyết dứt điểm các xung đột, chồng chéo; ban hành hướng dẫn thống nhất về phân cấp, phân quyền; hoàn thiện khung chính sách an sinh – chế độ sau sắp xếp (đây là nội dung tại Kết luận số 183-KL/TW ngày 01/8/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tích cực triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, chuyển mạnh cấp cơ sở sang chủ động nắm, điều hành kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh).
Trên cơ sở đó, các địa phương cần rà soát, điều chỉnh các nội dung tại các văn bản quy phạm, chỉ đạo điều hành phù hợp với quy định của pháp luật, chủ động nghiên cứu, cập nhật kịp thời các quy định pháp luật mới ban hành. Nghiêm túc thực hiện đầy đủ các hướng dẫn của các bộ, ngành Trung ương và kịp thời xử lý các khó khăn, vướng mắc theo thẩm quyền, hoặc tổng hợp, gửi kiến nghị để các cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
Sau khi hoàn thiện và thi hành chính sách, cần đẩy mạnh tuyên truyền và kiểm tra. Xây dựng nội dung tuyên truyền rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với từng vùng miền để tạo sự đồng thuận. Tăng cường kiểm tra, hướng dẫn, để tránh địa phương “hiểu chưa đúng, thực hiện chưa đầy đủ” nhiệm vụ được giao. Ngoài ra, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định về tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền và cung cấp dịch vụ công, kịp thời xử lý các tập thể, cá nhân làm chậm hoặc làm sai.
Hai là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
Tiếp tục tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại đội ngũ, ưu tiên tuyển dụng và bố trí cán bộ có chuyên môn, kỹ năng phù hợp với yêu cầu quản lý trong giai đoạn mới. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về pháp luật, quản trị công và chuyển đổi số cho cán bộ, công chức, nhất là ở cấp xã, hướng đến mục tiêu bộ máy tinh gọn “đủ việc, đủ người, đúng người”.
Ngoài ra, việc tăng cường hỗ trợ địa phương là cần thiết thông qua hoạt động duy trì và tăng cường hoạt động của các Tổ công tác liên ngành, đường dây nóng để hỗ trợ kỹ thuật và giải quyết vướng mắc kịp thời. Đối với nội dung này, hiện nay, Bộ Nội vụ đã có kế hoạch cử cán bộ, công chức có chuyên môn sâu về địa phương để trực tiếp hướng dẫn, đặc biệt là ở cấp xã, nhằm giải quyết các vấn đề cấp thiết.
Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đòi hỏi chúng ta phải sắp xếp và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ: Các địa phương cần thực hiện tổng rà soát, đánh giá, phân loại và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã sau sắp xếp. Cần có những chính sách để giải quyết dứt điểm tình trạng thừa, thiếu cục bộ, làm cơ sở cho việc tuyển dụng, đào tạo bài bản trong tương lai. Ngoài ra, xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, đặc biệt là kỹ năng công nghệ và quản lý hành chính hiện đại. Ưu tiên các lĩnh vực trọng tâm như thuế, đăng ký kinh doanh, đất đai, tư pháp để nâng cao năng lực cho cán bộ cơ sở.
Ba là, đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin
Bố trí ngân sách trung hạn và huy động nguồn lực xã hội hóa để sửa chữa, nâng cấp trụ sở làm việc, mua sắm trang thiết bị. Hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin đồng bộ từ Trung tâm Phục vụ hành chính công tới Ủy ban nhân dân cấp xã, bảo đảm đường truyền ổn định, phần mềm thống nhất, dữ liệu liên thông chuẩn 4-Đ (đúng - đủ - đồng bộ - được chia sẻ), hợp nhất quy trình tác nghiệp trên một số nền tảng trọng yếu (hộ tịch, đất đai, đăng ký kinh doanh, thuế…), thực hiện “liên thông mặc định” thay vì “liên thông tự nguyện”. Triển khai chữ ký số toàn diện để xử lý hồ sơ công vụ không giấy tờ, cấp đủ tài khoản, chứng thư số cho 100% công chức thụ lý hồ sơ.
Đẩy mạnh đầu tư hạ tầng kỹ thuật và dữ liệu, nâng cấp hệ thống chữ ký số, chứng thư số và phần mềm công vụ để Trung tâm Hành chính công cấp xã vận hành thông suốt. Nội dung này đã được thể hiện “Đề án chuyển đổi số” của Ban Chỉ đạo TW (Kế hoạch số 02-BCĐTW) và được lồng ghép trong Kết luận 183-KL/TW. Các bộ, ngành địa phương cần chủ động ứng dụng công nghệ thông tin, hoàn thành 100% dịch vụ công trực tuyến.
Bên cạnh việc đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất thì phải thực hiện song song tập trung mọi nguồn lực để giải quyết dứt điểm các hồ sơ đăng ký kinh doanh quá hạn và các phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp, đảm bảo thực hiện thủ tục hành chính thông suốt, không để gián đoạn. Đồng thời, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc bố trí, sắp xếp, xử lý trụ sở, tài sản công để tránh lãng phí, thất thoát.
Tuy nhiên, việc bảo đảm an toàn thông tin cũng cần được các bộ, ngành, đja phương quan tâm, thực hiện bằng cách vô hiệu hóa thu/phát sóng trái phép trên máy công vụ, phân vùng mạng nhân dân - công vụ, phần mềm bản quyền; bố trí cán bộ an toàn thông tin trực ca tại trung tâm hành chính công.
Bốn là, bảo đảm nguồn lực tài chính và cơ chế phân bổ hợp lý
Để thực hiện giải pháp này, cần quán triệt mục tiêu dồn lực cho nơi khó; giải ngân nhanh các nhiệm vụ cấp bách (trụ sở, thiết bị CNTT, hỗ trợ đi lại, sinh hoạt cán bộ); liên thông ngân sách - kho bạc để không “tắc” do thủ tục sau sắp xếp. Cần xây dựng cơ chế phân bổ ngân sách ưu tiên cho các địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, hải đảo; đồng thời, đẩy mạnh hơn nữa phân cấp tài chính đi đôi với tăng cường trách nhiệm giải trình của địa phương và thực hiện cơ chế ngân sách theo kết quả (PBB) gắn phân bổ với đầu ra dịch vụ công (hồ sơ đúng hạn, tỷ lệ số hóa…).
Tăng tốc giải ngân gắn các Chương trình mục tiêu quốc gia, bám sát chỉ đạo của Văn phòng Chính phủ tại Công văn 7464/VPCP-KTTH ngày 11/8 về đẩy mạnh giải ngân; lập “tổ công tác 3 tại chỗ” giải quyết vướng mắc thủ tục ngay tại địa bàn. Ngoài ra, tập trung tháo điểm nghẽn chi ngân sách cấp xã: hỗ trợ cấp con dấu, bố trí kế toán trưởng tạm thời theo cơ chế điều chuyển; cấp tài khoản KBNN ưu tiên cho đơn vị sáp nhập mới; thực hiện tạm ứng có kiểm soát cho nhiệm vụ CNTT thiết yếu.
Tại Văn bản số 412/TB-VPCP ngày 11/8/2025 thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại cuộc họp về đánh giá tình hình, tiến độ, kết quả thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính và vận hành mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu rà soát, xây dựng cơ chế tài chính phù hợp, trong đó quan tâm hỗ trợ nguồn lực ban đầu cho các tỉnh, thành vừa sắp xếp; tăng cường giám sát chặt việc sử dụng ngân sách và tài sản công, bám sát quan điểm “tinh gọn nhưng không để thiếu thốn” nguồn lực, đảm bảo các nhiệm vụ thường xuyên (chi thường xuyên, định mức biên chế mới) được giao có đủ kinh phí thực hiện theo mô hình 2 cấp.
Năm là, tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành, liên cấp
Xác định rõ đầu mối chịu trách nhiệm chính ở từng lĩnh vực, thiết lập quy trình phối hợp bắt buộc giữa các bộ, ngành Trung ương và địa phương đảm bảo 6 rõ (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả); rút ngắn thời gian xử lý, bảo đảm “việc của dân được giải quyết nhanh hơn, đúng hơn, hiệu quả hơn”.
Các địa phương sớm thực hiện chuẩn hóa kết nối Cổng DVCQG, VNeID và phần mềm chuyên ngành theo yêu cầu “đúng-đủ-sạch-sống”, đồng thời, có cơ chế đánh giá, đôn đốc và tổ chức giao ban định kỳ để đánh giá, xem xét tình hình về hoạt động của chính quyền địa phương 02 cấp.
Sáu là, tháo gỡ vướng mắc về chính sách an sinh xã hội sau sắp xếp đơn vị hành chính
Thực hiện các chế độ, chính sách đảm bảo không để ai bị “bỏ lại phía sau”; chi trả chính sách kịp thời, đúng đối tượng; không gián đoạn tín dụng chính sách. Hoàn thiện hướng dẫn chi trả chế độ cho các nhóm đặc thù theo chỉ đạo tại Kết luận số 183 (đảm bảo tính tương quan, công bằng). Hiện nay, Bộ Nội vụ đã xây dựng dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức và người lao động chịu sự tác động do thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính các cấp theo Kết luận số 183-KL/TW của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; hiện đang lấy ý kiến các bộ, ngành có liên quan để hoàn thiện trước khi trình Chính phủ theo quy định.
Sớm ban hành văn bản quy định rõ về phạm vi áp dụng chính sách tín dụng ưu đãi, đặc biệt là đối với các xã đặc biệt khó khăn chuyển thành đặc khu. Đảm bảo người dân ở 13 đặc khu mới tiếp tục được tiếp cận nguồn vốn của Ngân hàng Chính sách xã hội, không để gián đoạn các chương trình giảm nghèo và hỗ trợ sinh kế.
***
Kết quả bước đầu triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã khẳng định quyết tâm chính trị cao của Đảng, Nhà nước, sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân, cũng như tinh thần vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị. Mặc dù còn nhiều khó khăn, vướng mắc, nhưng những thành quả ban đầu đã tạo tiền đề quan trọng để chúng ta tiếp tục hoàn thiện thể chế, tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả quản trị địa phương trong giai đoạn mới.
Tinh thần chỉ đạo tại Kết luận số 183 của Bộ Chính trị ngày 10/8/2025 đã nhấn mạnh rõ ba trọng tâm chiến lược: (1) Đẩy mạnh chuyển đổi số đồng bộ, thực chất; (2) Quyết liệt tháo gỡ khó khăn, khắc phục những bất cập về thể chế, tổ chức, hạ tầng và nguồn lực; (3) Giải quyết kịp thời, thấu đáo chế độ, chính sách cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động. Đây là những định hướng mang tính nguyên tắc, vừa cấp bách vừa lâu dài, bảo đảm sự phát triển bền vững của chính quyền hai cấp. Trong thời gian tới, chúng ta cần tập trung quán triệt và tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ trên toàn bộ các lĩnh vực.
Chúng ta đang đứng trước thời cơ lớn để chuyển mình mạnh mẽ, song cũng phải đối mặt với không ít thách thức. Chỉ với tinh thần đoàn kết, đồng lòng, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, kiên quyết hành động vì lợi ích chung, chúng ta mới có thể biến quyết sách của Đảng và Nhà nước thành hiện thực sinh động trong đời sống, góp phần xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, minh bạch, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn.
Với niềm tin vững chắc và khí thế mới, chúng ta tin tưởng rằng, mô hình chính quyền địa phương hai cấp sẽ vận hành ngày càng hiệu quả, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới./.
