Đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã xác định: “Đổi mới sáng tạo là trung tâm, chuyển đổi số là nền tảng, KH&CN là động lực then chốt”; nhấn mạnh vai trò cốt lõi của KHCN trong phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời khẳng định đây là nền tảng thúc đẩy nâng cao năng suất lao động, phát triển bền vững và gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia… đã tạo dấu ấn mạnh mẽ trong đời sống chính trị - xã hội, tạo ra những cơ hội lớn để đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia theo Nghị quyết số 57-NQ/TW

Chúng ta đang ở trong bối cảnh thế giới bước vào “kỷ nguyên số hóa toàn diện”, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, robot, blockchain… đang định hình lại mọi ngành nghề; các quốc gia đi trước làm chủ công nghệ mới, thiết lập được lợi thế vượt trội - như cách Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ… đang làm; toàn cầu hóa và cạnh tranh công nghệ cao khiến quốc gia nào chậm đổi mới sẽ tụt hậu, mất lợi thế phát triển. Trong khi đó, việc khai thác tài nguyên truyền thống đã chạm trần, Việt Nam không thể dựa vào khai thác tài nguyên hay lao động giá rẻ để phát triển như trước mà chỉ có phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN), khai thác dữ liệu số - tài sản trí tuệ - phát triển nền kinh tế số mới có thể tạo ra giá trị gia tăng cao, vượt trội, đột phá; ứng dụng KH&CN giúp tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới, mở rộng cơ hội xuất khẩu và phát triển thị trường. Mặt khác, hạ tầng số, nguồn nhân lực, thị trường số của việt Nam cũng đang hội đủ điều kiện để tiếp tục phát triển lên mức cao hơn với hơn 70 triệu người dùng Internet, hạ tầng viễn thông đang phát triển nhanh, hệ sinh thái startup công nghệ đang nở rộ và lực lượng lao động năng động, linh hoạt có khả năng trở thành một lợi thế nếu được đầu tư bài bản, đúng đắn vào công nghệ - đổi mới sáng tạo.

Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (sau đây viết tắt là Nghị quyết 57) đã xác định: “Đổi mới sáng tạo là trung tâm, chuyển đổi số là nền tảng, KH&CN là động lực then chốt”; nhấn mạnh vai trò cốt lõi của khoa học công nghệ trong phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời khẳng định đây là nền tảng thúc đẩy nâng cao năng suất lao động, phát triển bền vững và gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia… đã tạo dấu ấn mạnh mẽ trong đời sống chính trị - xã hội, tạo ra những cơ hội lớn để đất nước phát triển nhanh và bền vững. Các cấp, ngành, địa phương được trao quyền và được yêu cầu xây dựng chiến lược số của chính mình để hướng tới mục đích xây dựng hệ thống quản lý nhà nước minh bạch, hiệu quả, giảm chi phí nhờ chính phủ số, dữ liệu liên thông; phát triển nền kinh tế số với năng suất lao động được cải thiện, thị trường xuyên biên giới mở rộng nhờ, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử…; các ngành lĩnh vực Giáo dục, Y tế, Nông nghiệp đi theo hướng học tập suốt đời qua nền tảng số, y tế từ xa, nông nghiệp thông minh… Xã hội, Môi trường được xây dựng với mô hình tiết kiệm tài nguyên, đô thị thông minh, cảnh báo thiên tai qua cảm biến, dữ liệu thời gian thực…

Việc triển khai thực hiện Nghị quyết 57, hay nói cách khác, thực hiện đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã trở thành nhiệm vụ tiên quyết, tạo nền tảng thời cơ tốt nhất để xây dựng và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2025 - 2030 và xây dựng một quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Đây không chỉ là một “thời cơ” mà còn là “thời điểm không được phép chậm trễ” trong quá trình phát triển.

1. Những chuyển biến chiến lược trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Tổng Bí thư Tô Lâm và các đại biểu tham quan các gian hàng trưng bày tại Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Nghị quyết 57 không phải là văn bản chỉ đạo đầu tiên về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, nó là sự kế thừa - đổi mới - nâng tầm của nhiều chủ trương, định hướng đã có trong thời gian qua.

Với khoa học và công nghệ nó là sự hoàn thiện của Nghị quyết số 20-NQ/TW (2012) khi chuyển tầm nhìn “Đưa KH&CN trở thành động lực then chốt trong phát triển kinh tế - xã hội” thành “Xây dựng nền KH&CN hiện đại, đổi mới sáng tạo là trụ cột trung tâm của mô hình phát triển mới”; xác định vai trò của KH&CN từ “Là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt” thành “Là đột phá chiến lược, là nền tảng để tạo thời cơ phát triển quốc gia trong kỷ nguyên số”; chuyển định hướng từ “Ưu tiên phát triển tiềm lực KH&CN quốc gia, gắn nghiên cứu với sản xuất” thành “Chuyển mạnh sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, và kinh tế số”. Cùng với nó Hệ sinh thái KH&CN được xây dựng trên cơ sở tập trung phát triển cơ sở nghiên cứu, viện, trường trở thành phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mở, với doanh nghiệp là trung tâm, viện trường là chủ thể nghiên cứu; phương thức tiếp cận công nghệ từ tiếp thu có chọn lọc thành tựu KH&CN quốc tế trở thành chủ động làm chủ và phát triển công nghệ lõi, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học; các ngành, lĩnh vực ưu tiên như khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học xã hội đã được cụ thể hóa thành công nghệ số, chuyển đổi số, khoa học liên ngành, các công nghệ 4.0: AI, IoT, blockchain, công nghệ sinh học, công nghệ năng lượng. Những giải pháp cơ chế chính sách cho KH&CN cũng được điều chỉnh phù hợp với bối cảnh phát triển đất nước như: Cơ chế tăng đầu tư công cho KH&CN, phân bổ NSNN phù hợp được yêu cầu thành đổi mới cơ chế tài chính, khuyến khích đầu tư mạo hiểm, xã hội hóa, đặt hàng nghiên cứu, gắn KH&CN với thị trường; Cơ chế vận hành ngành KH&CN từ yêu cầu cải tiến quản lý nhà nước về KH&CN thành chuyển đổi mô hình quản trị theo chuẩn quốc tế, tự chủ trong tổ chức…

Tổng hợp lại, chúng ta thấy: Nghị quyết số 20-NQ/TW (năm 2012) phản ánh định hướng phát triển KH&CN trong giai đoạn trước cách mạng công nghiệp lần thứ tư với nhiều nội dung vẫn mang tính truyền thống như chú trọng đầu tư nghiên cứu cơ bản, phát triển cơ sở hạ tầng KH&CN, vai trò nhà nước là chủ đạo; Nghị quyết 57 (năm 2024) có tính "bứt phá" khi xác lập mô hình phát triển dựa trên đổi mới sáng tạo và công nghệ số như một "điều kiện tiên quyết" cho tăng trưởng nhanh, bền vững, trong kỷ nguyên dữ liệu và công nghệ số toàn cầu hóa. Nghị quyết 57 không phủ định Nghị quyết 20, mà kế thừa các định hướng lớn, đồng thời mở rộng chiều sâu và tăng cường tính thực tiễn, bắt nhịp với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu thế toàn cầu, đặc biệt, Nghị quyết 57 khẳng định: "Phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng yếu, tạo bước đột phá chiến lược để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045."

Với đổi mới sáng tạo, Luật KH&CN năm 2013 đã đặt nền móng quan trọng cho việc thừa nhận và tổ chức các hoạt động đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, tính thực tiễn còn hạn chế do thiếu thị trường, thiếu động lực từ doanh nghiệp và ràng buộc pháp lý chặt chẽ. Nghị quyết 57 không định nghĩa lại, nhưng mở rộng đổi mới sáng tạo thành trụ cột trung tâm của mô hình phát triển mới, gắn với kinh tế số, công nghệ số, và dữ liệu lớn; đưa nó từ một trong nhiều hoạt động thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ trở thành nhiệm vụ đột phá chiến lược, điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Mô hình của đổi mới sáng tạo theo chiều dọc, tập trung vào nghiên cứu - triển khai - ứng dụng - thương mại hóa đã được chuyển sang mô hình mở với sự hợp tác giữa nhà nước - doanh nghiệp - viện trường - startup - đầu tư mạo hiểm. Trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tư các tổ chức KH&CN công lập, viện nghiên cứu trở thành doanh nghiệp là trung tâm, trong đó khuyến khích doanh nghiệp công nghệ số, startup công nghệ. Đặc biệt, từ chủ trương được giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước, quyền tự chủ cao các tổ chức KH&CN đã được mở rộng chính sách thưởng theo kết quả, ưu đãi về tài chính, thuế, tín dụng cho hoạt động đổi mới sáng tạo trong cả doanh nghiệp tư nhân; việc xác định có chính sách đặt hàng nghiên cứu được cụ thể hóa thành cơ chế ngân sách linh hoạt, cơ chế khoán chi, đặt hàng, đấu thầu, hỗ trợ đầu tư mạo hiểm trong KH&CN. Với Nghị quyết 57  không phải là sự thay đổi về mặt khái niệm, mà là bước chuyển mình trong mô hình phát triển, phản ánh rõ sự thay đổi về vị thế, vai trò và công cụ điều hành chính sách KH&CN trong kỷ nguyên số.

Với  chuyển đổi số, trong 10 năm qua từ những khái niệm số hóa, xây dựng chính phủ điện tử… trong Nghị quyết số 36-NQ/TW năm 2014 và những bước dự thảo, xây dựng Chiến lược chuyển đổi số quốc gia năm 2016 (trong giai đoạn đầu, chủ yếu ở cấp bộ, ngành) đến Nghị quyết 57 - văn kiện mới nhất mang tính chất nền tảng định hình tầm nhìn dài hạn đến 2045: Chuyển đổi số đã chuyển từ “công cụ kỹ thuật” thành “chiến lược phát triển”, được mở rộng từ khối nhà nước sang toàn xã hội, được định vị là nền tảng cốt lõi cho phát triển bền vững, nâng cao năng suất, tự chủ công nghệ, bảo đảm chủ quyền số quốc gia. Cụ thể: Giai đoạn trước 2020, chúng ta mới tập trung ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước, chưa có định hướng tổng thể cho toàn xã hội; còn thiếu cơ chế phối hợp liên ngành và đánh giá tổng thể; chưa xác định rõ nét vai trò chuyển đổi số trong doanh nghiệp và xã hội. Cụ thể như Chỉ thị số 16/CT-TTg năm 2017 về tăng cường năng lực tiếp cận CMCN 4.0; Các chương trình phát triển Chính phủ điện tử, Ứng dụng CNTT, Viễn thông băng rộng,... và Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Năm 2020, chúng ta có văn kiện có tính chất cột mốc là Quyết định 749/QĐ-TTg (2020): lần đầu tiên Việt Nam có một Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến 2025, định hướng đến 2030 với mục tiêu kép: Phát triển Chính phủ số - kinh tế số - xã hội số; Hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam vươn ra toàn cầu. Quyết định này nhấn mạnh: Vai trò của hạ tầng số, dữ liệu số, an ninh mạng;trách nhiệm của từng nhóm chủ thể (CQNN, DN, người dân); hình thành nền tảng số quốc gia và khuyến khích mô hình “Make in Vietnam”.

Điểm đột phá của Nghị quyết 57 là: Chuyển đổi số không còn là giải pháp kỹ thuật - mà là nền tảng phát triển quốc gia hiện đại; Chuyển đổi số là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân; Không chỉ dừng ở Chính phủ số - mà chuyển mạnh sang kinh tế số, văn hóa số, xã hội số, quốc phòng số. Nghị quyết 57 cũng xác định các định hướng cụ thể: Tổ chức lại mô hình quản trị quốc gia dựa trên nền tảng số; Xây dựng nền kinh tế số chiếm >30% GDP; Tạo ra chuỗi giá trị số mới gắn kết nghiên cứu - dữ liệu - thị trường; Đổi mới thể chế theo hướng “cho phép thử nghiệm”, khuyến khích mô hình mới.

...

2. Kinh nghiệm quốc tế và tính khả thi khi thực hiện đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Để thực hiện đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như là một nhiệm vụ tiên quyết, tạo nền tảng thời cơ tốt nhất để xây dựng, phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, chúng ta hãy nhìn lại bài học từ một số nước có điều kiện tương đồng như Việt Nam đã thành công trong việc phát triển và ứng dụng KH&CN phục vụ phát triển quốc gia, dân tộc mình:

Hàn Quốc - Từ nước nghèo thành cường quốc công nghệ nhờ đầu tư chiến lược vào R&D (nghiên cứu và phát triển); từ thập niên 1970, Hàn Quốc xác định R&D là quốc sách, đầu tư mạnh vào các viện nghiên cứu quốc gia như KAIST (và sau này là KIST), các tập đoàn như Samsung, LG được nhà nước hỗ trợ vay vốn, ưu đãi thuế nếu đầu tư vào công nghệ lõi. Những năm gần đây, Hàn quốc đang dẫn đầu thế giới về sản xuất chip nhớ, điện thoại thông minh; là quốc gia đầu tiên triển khai 5G thương mại (2019); năm 2022, xếp hạng 1 toàn cầu về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) - theo WIPO.

Israel - Quốc gia khởi nghiệp công nghệ - “thung lũng Silicon” thứ hai của thế giới với chiến lược: Hình thành mạng lưới viện nghiên cứu - đại học - quân đội - doanh nghiệp, thúc đẩy sáng tạo; Cho phép các startup công nghệ thử nghiệm tự do trong môi trường pháp lý linh hoạt; Tập trung vào công nghệ quốc phòng, an ninh mạng,  AI, nông nghiệp thông minh... và thành tựu: Dân số chưa đến 10 triệu, nhưng có gần 6.000 công ty khởi nghiệp; Số lượng công ty Israel niêm yết trên sàn Nasdaq nhiều thứ hai sau Mỹ; Tỷ lệ đầu tư cho R&D: trên 4,9% GDP, cao nhất thế giới.

Mạng lưới trực tuyến đã góp một phần lớn vào việc phát triển nông nghiệp của Israel

Estonia - Hình mẫu của “quốc gia số” toàn diện với chiến lược: Từ năm 2000, chính phủ Estonia coi chuyển đổi số là chiến lược quốc gia cốt lõi; Xây dựng hạ tầng số X-Road, định danh điện tử công dân e-ID, nền tảng chính phủ điện tử hoàn chỉnh... và thành tựu: 99% dịch vụ công của Estonia đã chuyển sang trực tuyến; Công dân có thể thành lập công ty chỉ trong 3 phút, khai thuế trong 5 phút; Estonia là quốc gia đầu tiên cấp quốc tịch kỹ thuật số (e-Residency).

Trung Quốc - Làm chủ công nghệ lõi nhờ chiến lược “Made in China 2025” với chiến lược: Đầu tư mạnh vào AI, chip bán dẫn, công nghệ lượng tử, 5G, siêu máy tính; Tăng cường đầu tư nhà nước - khuyến khích thị trường, kết hợp viện nghiên cứu quân sự và dân sự... và thành tựu: những “gã khổng lồ” công nghệ toàn cầu Alibaba, Tencent, Huawei, DJI, ByteDance; chiếm trên 40% thị phần toàn cầu trong thương mại điện tử và thanh toán di động…

Tổng kết các điểm chung của quốc gia đi trước chúng ta thấy họ đều Đầu tư mạnh mẽ, có trọng tâm vào R&D hướng tới làm chủ công nghệ lõi, đột phá công nghệ; có thể chế cởi mở, linh hoạt, “cho phép thử”, kích thích đổi mới, khởi nghiệp, sáng tạo; coi doanh nghiệp là trung tâm đổi mới sáng tạo, tạo ra sản phẩm, dịch vụ dẫn dắt thị trường; xây dựng chính phủ số hóa toàn diện, dựa trên dữ liệu, nâng cao hiệu quả quản trị, minh bạch hóa; xác định ưu tiên đào tạo nhân lực số, kết nối toàn cầu phục vụ tăng năng suất, hội nhập, phát triển bền vững… 

Với Việt Nam, việc triển khai các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và chuyển đổi số là hoàn toàn khả thi trong bối cảnh: chúng ta có hệ thống thể chế ngày càng hoàn thiện; đã hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia như NIC tại Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng; việc triển khai thực hiện đang có sự vào cuộc mạnh mẽ của hệ thống chính trị, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức xã hội. Trong thời gian qua, Việt Nam đã được xếp hạng 46/132 quốc gia về chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) - cao nhất trong nhóm thu nhập trung bình thấp (theo WIPO 2023); Kinh tế số Việt Nam năm 2023 đạt 14,3% GDP, hướng đến 30% vào năm 2030 theo Nghị quyết 52-NQ/TW và Quyết định 749/QĐ-TTg; đã bắt đầu có nhiều mô hình thành công: MoMo, VNPay, Viettel, FPT.AI… là các ví dụ điển hình về ứng dụng công nghệ trong tài chính, giáo dục, an ninh. Trong thực tế, chúng ta đã có: Thể chế đã mở đường với các nghị quyết, luật, chương trình hành động; Nguồn lực đang được ưu tiên: Nhiều tỉnh thành đã xây dựng chiến lược chuyển đổi số riêng (Đà Nẵng, Quảng Ninh, Bắc Giang…); Doanh nghiệp công nghệ đủ sức cạnh tranh, vươn tầm khu vực: VinFast, VinAI, Viettel, VNG, FPT...

*

*        *

Trong bối cảnh toàn cầu đang chuyển mình mạnh mẽ trước làn sóng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc coi khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược, là nhiệm vụ tiên quyết, không chỉ mang ý nghĩa định hướng mà còn là đòn bẩy tạo dựng thế và lực mới cho sự phát triển quốc gia. Nghị quyết 57-NQ/TW đã nhấn mạnh rõ vai trò cốt lõi của khoa học công nghệ trong phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời khẳng định đây là nền tảng thúc đẩy nâng cao năng suất lao động, phát triển bền vững và gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia. Đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là một hướng đi, mà là con đường duy nhất để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh và bền vững, vươn lên trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045./.

TS. Phan Việt Phong

Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương