Bình dân học vụ số - tiền đề thực hiện thắng lợi cách mạng chuyển đổi số trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Bình dân học vụ số là nền móng để chuyển đổi số thực sự trở thành cuộc cách mạng toàn dân, toàn diện - nơi mà từng người dân Việt Nam trở thành công dân số tích cực, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh và thịnh vượng.

1. Bình dân học vụ - phong trào cách mạng khai trí toàn dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một lớp học của phong trào Bình dân học vụ. Ảnh tư liệu

- Bối cảnh ra đời và sự lan tỏa mạnh mẽ của Phong trào

Ngay sau ngày độc lập 02/9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ đối mặt với ba thứ giặc nguy hiểm: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Trong đó, giặc dốt là một trong những lực cản lớn nhất đối với công cuộc kiến thiết đất nước. Theo ước tính, khoảng 95% dân số Việt Nam khi ấy mù chữ, hậu quả do chính sách ngu dân của thực dân Pháp để lại.

Trước tình hình đó, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, ngày 03/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị mở chiến dịch “Chống nạn mù chữ”. Ngày 08/9/1945, chỉ 06 ngày sau Tuyên ngôn Độc lập, các sắc lệnh số 17-SL[1], 19-SL[2] và 20-SL[3]của Chính phủ lâm thời được ban hành, tạo cơ sở triển khai phong trào trong cả nước. Cùng thời điểm ấy, Nha Bình dân học vụ thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục được thành lập để trông nom việc học của dân chúng.

Tháng 10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học. Người nhấn mạnh “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ”. Người kêu gọi “Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết. Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo; cha mẹ không biết thì con bảo; người ăn người làm không biết thì chủ nhà bảo; các người giàu có thì mở lớp ở tư gia, dạy cho những người chưa biết chữ ở hàng xóm, láng giềng; các chủ ấp, chủ tá điền, chủ hầm mỏ nhà máy thì mở lớp cho tá điền, cho những người làm của mình”[4].

Lời kêu gọi của Bác đã nhanh chóng lan tỏa mạnh mẽ, trở thành tiếng gọi của lương tri và khát vọng vươn lên của cả dân tộc. Từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược, từ cán bộ kháng chiến đến bà con dân tộc thiểu số, ai cũng tham gia “bình dân học vụ”. Các lớp học chữ được tổ chức ở khắp nơi: nhà văn hóa, đình làng, gốc cây, mái hiên, hầm trú ẩn. Hàng chục nghìn cán bộ, trí thức, sinh viên, thanh niên xung phong,... trở thành giáo viên tình nguyện, ngày làm việc, đêm cầm đèn đi dạy chữ. Người già dạy người trẻ, người biết dạy người không, thầy và trò cùng ngồi học trong một tinh thần dân chủ, bình đẳng và quyết tâm học hỏi.

- Kết quả và những bài học thành công

Chỉ trong vòng một năm sau phát động, cả nước đã có hơn 2,5 triệu người thoát mù chữ. Đến năm 1950, trong hoàn cảnh kháng chiến chống Pháp, đã có hơn 10 triệu người dân đã biết đọc, biết viết (gần nửa dân số thời đó); mười tỉnh với 80 huyện, hơn 1.400 xã và 7.200 thôn được công nhận thanh toán nạn mù chữ[5]. Đến cuối thập niên 1950, về cơ bản đã hoàn thành việc xóa mù chữ ở miền Bắc, đánh dấu một thành tựu giáo dục đại chúng hiếm có trong lịch sử hiện đại. Trong số các nước thuộc địa giành lại được độc lập sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Việt Nam là quốc gia duy nhất coi xóa nạn mù chữ là việc cấp bách như chống giặc, cứu đói[6].

Sự thành công vang dội của Phong trào bắt nguồn từ nhiều yếu tố. Trước hết, là chủ trương đúng đắn, kịp thời của Đảng và Chính phủ, phản ánh tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của dân trí. Thứ hai, là tinh thần cách mạng, sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và toàn dân, huy động mọi nguồn lực, dựa vào sức dân, không phân biệt địa vị, tuổi tác, dân tộc. Thứ ba, là niềm tin sâu sắc vào giá trị của tri thức, tinh thần đoàn kết, tự lực tự cường và khát vọng đổi đời của Nhân dân.Thứ tư, là chủ trương việc học chữ Quốc ngữ là bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người; là cách tổ chức các lớp học bình dân đa dạng, linh hoạt, sáng tạo, diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi.

Phong trào đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử dân tộc, không chỉ góp phần nâng cao dân trí, mà còn gieo mầm tự học và học tập suốt đời, tự lực và tinh thần làm chủ vận mệnh. Bình dân học vụ không chỉ là công cuộc xóa mù chữ đơn thuần, mà là một cuộc cách mạng dân chủ về giáo dục, đặt nền móng cho một xã hội mới mà người dân thực sự làm chủ[7]. Đó chính là những tiền đề để xây dựng lực lượng lao động mới, phát triển văn hóa, kinh tế, quốc phòng, và cũng là một trong những nhân tố góp phần vào thắng lợi của các cuộc kháng chiến sau này.

Ngày nay, trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên số, tinh thần của phong trào “Bình dân học vụ” vẫn còn nguyên giá trị, truyền cảm hứng cho những cuộc vận động, thi đua mới về học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập, và đặc biệt là phong trào “Bình dân học vụ số” - tiếp nối con đường khai trí toàn dân trong bối cảnh mới.

2. Chuyển đổi số - cuộc cách mạng đưa dân tộc bước vào kỷ nguyên mới

Tổng Bí thư Tô Lâm: Nghị quyết số 57-NQ/TW sẽ tạo bước đột phá, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh.

- Chủ trương của Đảng về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số

Thế giới đang bước vào giai đoạn phát triển chưa từng có trong lịch sử loài người với sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, Internet vạn vật và tự động hóa. Công nghệ đang tạo ra những sáng tạo đột phá, tái định hình phương thức sản xuất, phân phối, quản trị và cả cách con người sống, làm việc và sáng tạo. Những quốc gia biết tận dụng công nghệ số sẽ bứt phá mạnh mẽ, ngược lại, sẽ đối diện với nguy cơ tụt hậu.

Đảng ta đã sớm nhận thức sâu sắc về những thay đổi có tính cách mạng nói trên, cũng như vai trò quan trọng của phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về “một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” (Nghị quyết 52) đã sớm chỉ ra những cơ hội, thách thức và những giải pháp thích ứng từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo tiền đề cho những bước phát triển quan trọng của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thời gian qua. Triển khai thực hiện Nghị quyết, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành Chương trình chuyển đổi số quốc gia[8] và thuộc số ít quốc gia có nhận thức về chuyển đổi số song hành với các quốc gia tiên tiến trên thế giới.

Nhấn mạnh về ý nghĩa chiến lược của chuyển đổi số, trong bài viết ngày 02/9/2024 với chủ đề “Chuyển đổi số - động lực quan trọng phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới”, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Chúng ta đang đứng trước yêu cầu phải có một cuộc cách mạng với những cải cách mạnh mẽ, toàn diện để điều chỉnh quan hệ sản xuất, tạo động lực mới cho phát triển. Đó là cuộc cách mạng chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ nhằm tái cấu trúc quan hệ sản xuất phù hợp với sự tiến bộ vượt bậc của lực lượng sản xuất”. Chuyển đổi số không đơn thuần là việc ứng dụng công nghệ số vào các hoạt động kinh tế - xã hội, mà còn là quá trình xác lập một phương thức sản xuất mới tiên tiến, hiện đại.

Chủ trương của Đảng, chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm là những tiền đề quan trọng để Bộ Chính trị khóa XIII ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 về “đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” (Nghị quyết 57). Nghị quyết đã nâng chuyển đổi số quốc gia (cùng với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo) lên tầm “đột phá quan trọng hàng đầu”, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia. Nghị quyết 57 xác lập thể chế - nhân lực - hạ tầng - dữ liệu - công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi.Trong đó, thể chế là điều kiện tiên quyết phải đi trước một bước; dữ liệu trở thành tư liệu sản xuất chính; an ninh, an toàn mạng là yêu cầu xuyên suốt.

- Kết quả bước đầu và những tồn tại, thách thức

Triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về chuyển đổi số, sau 5 năm tích cực triển khai thực hiện Chương trình “Chuyển đổi số quốc gia”, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trên cả ba trụ cột vềchính phủ số, kinh tế số và xã hội số, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và cải thiện đời sống Nhân dân[9].

Chính phủ số đạt nhiều kết quả tích cực, tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến toàn trình đạt 45%, người dân đã có thể đăng nhập Cổng Dịch vụ công quốc gia bằng VNeID, với hơn 93 triệu lượt truy cập. Hạ tầng số được nâng cấp mạnh mẽ, 96,4% thôn, bản trên cả nước đã có Internet cáp quang, tỷ lệ hộ gia đình sử dụng Internet cáp quang băng rộng đạt 82,9%. Kinh tế số có bước phát triển vượt bậc, đóng góp 18,3% GDP, với tốc độ tăng trưởng 20% mỗi năm. Dữ liệu số được xây dựng và khai thác với 10 cơ sở dữ liệu quốc gia trọng điểm, trong đó cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã kết nối với 18 bộ, ngành, 63 địa phương, phục vụ hơn 1,8 tỉ lượt truy vấn​.

Bên cạnh những kết quả đạt được, chuyển đổi số quốc gia vẫn đang đứng trước nhiều thách thức, hạn chế, bất cập. Nhận thức và hành động của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp, nhất là người đứng đầu về chuyển đổi số còn nhiều hạn chế. Công tác hoàn thiện thể chế còn chậm, chưa theo kịp đòi hỏi của thực tiễn. Các bộ, ban, ngành, địa phương cơ bản chưa có đề án đột phá về chuyển đổi số. Chất lượng, hiệu quả trong cung cấp, sử dụng dịch vụ công trực tuyến chưa cao; nhiều ứng dụng, hệ thống được phát triển, nhưng còn rời rạc, chưa hoàn thiện, chưa hình thành nhiều nền tảng số quy mô lớn, dùng chung. Dữ liệu đã hình thành, nhưng còn cát cứ, chưa kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả, tiềm ẩn nguy cơ rò rỉ thông tin. Việc triển khai các cơ sở dữ liệu quốc gia còn chậm. Nhân lực chuyên trách về công nghệ thông tin, công nghệ số trong các cơ quan, tổ chức còn thiếu và chưa đồng đều. Kỹ năng số chưa được phổ cập rộng rãi trong xã hội.

Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Ban chỉ đạo Trung ương), đứng đầu là Tổng Bí thư Tô Lâm, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, những hạn chế, bất cập nêu trên đã và đang được khắc phục. Trong đó, nhân lực số đang được chuẩn bị với tầm nhìn dài hạn, nhất là việc thu hút, trọng dụng nhân tài bằng cơ chế, chính sách đột phá. Công tác phổ cập tri thức cơ bản về chuyển đổi số, kỹ năng số cho cán bộ, công chức, người lao động, người dân được triển khai mạnh mẽ và rộng khắp.

3. Bình dân học vụ số - tiếp nối tinh thần khai trí trong thời đại số

Thủ tướng Phạm Minh Chính và các đại biểu thực hiện nghi thức phát động phong trào “Bình dân học vụ số”, chiều 26/3/2025, tại Đại học Bách Khoa Hà Nội,

- Bối cảnh phát động và Kế hoạch triển khai Phong trào

Ngày 18/11/2024, tại buổi gặp mặt đại diện nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục nhân dịp kỉ niệm 42 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã có những chỉ đạo sâu sắc về giáo dục và đào tạo. Với nhận định, “Thực tế hiện nay, còn tỷ lệ lớn người dân, kể cả cán bộ trong cơ quan nhà nước chưa nắm vững về chuyển đổi số”, Tổng Bí thư yêu cầu “Phát động thực hiện phong trào Bình dân học vụ số” với mục tiêu, nhanh chóng phổ cập tri thức cơ bản về chuyển đổi số, kỹ năng số cho toàn dân. Đây là sáng kiến mang ý nghĩa chiến lược, có vai trò tạo đột phá, tiền đề thực hiện thắng lợi cách mạng về chuyển đổi số.

Thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đã chủ trì, tích cực chuẩn bị, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các đơn vị liên quan tham mưu Ban Chỉ đạo Trung ương phát động phong trào “Bình dân học vụ số”. Ngày 26/3/2025, tại Đại học Bách khoa Hà Nội, Thủ trướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã chủ trì, phát biểu chỉ đạo và chính thức phát động phong trào “Bình dân học vụ số”. Trước đó, ngày 21/3/2025, Ban Chỉ đạo Trung ương đã ban hành Kế hoạch số 01-KH/BCĐTW về Triển khai phong trào “Bình dân học vụ số”, làm cơ sở để các cơ quan, đơn vị, địa phương hưởng ứng, triển khai sâu rộng Phong trào trong cả nước.

Phong tràonhằmphổ cập tri thức cơ bản về chuyển đổi số, kỹ năng số cho người dân với tinh thần cách mạng, toàn dân, toàn diện, không ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình chuyển đổi số; mọi người dân đều được trang bị kiến thức, kỹ năng số cần thiết để áp dụng trong cuộc sống hằng ngày nhằm nắm bắt, tận dụng, khai thác, thụ hưởng những thành quả của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số mang lại.

“Bình dân học vụ số” hướng tới 4 nhóm đối tượng gồm: Một là, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan nhà nước; Hai là, học sinh, sinh viên; Ba là, người lao động trong các doanh nghiệp; Bốn là, người dân. Kế hoạch triển khai Phong trào dự kiến hoàn thành trong 2 năm, với các chỉ tiêu cụ thể cho từng nhóm đối tượng[10].

Tinh thần “bình dân” của Phong trào được tái hiện bằng hệ sinh thái triển khai đa tầng, đa kênh, linh hoạt “mọi lúc, mọi nơi”: từ nền tảng học trực tuyến mở đại trà “Bình dân học vụ số”, nền tảng tích hợp với VNeID để định danh - đánh giá - xác thực hoàn thành phổ cập kỹ năng số, đến các lớp học cộng đồng định kỳ hằng tuần tại từng thôn, bản; từ mô hình “Tổ công nghệ số cộng đồng” với phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, hướng dẫn từng người” đến mạng lưới “Đại sứ số”, phong trào “Gia đình số”, “Chợ số - Nông thôn số”.

- Tính cách mạng và những yêu cầu của “Bình dân học vụ số”

Phong trào “Bình dân học vụ số” có sự gắn kết chặt chẽ về tên gọi, giá trị cốt lõi và bài học kinh nghiệm của một trong những phong trào thành công nhất trong lịch sử Cách mạng Việt Nam. Do vậy, cần có cách tiếp cận và những yêu cầu rất cao đối với Phong trào này. Cụ thể:

Thứ nhất, “Bình dân học vụ số” phải trở thành một phong trào cách mạng, toàn dân, toàn diện, không ai bị bỏ lại phía sau. Phong trào cần trở thành một cuộc chuyển đổi sâu sắc về tư duy, hành động của cán bộ, công chức, viên chức, người dân, doanh nghiệp về cách con người sống, lao động và sáng tạo trước tác động mạnh mẽ của công nghệ số, nhất là trí tuệ nhân tạo.

Thứ hai, triển khai Phong trào phải tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của lãnh đạo và cán bộ của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp để thúc đẩy thực hiện chuyển đổi số; khơi dậy và lan tỏa khí thế cách mạng, truyền thống đại đoàn kết, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường và tự hào dân tộc. Huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, dựa vào sức dân, tranh thủ nguồn lực xã hội để mỗi người dân đều không ngừng nỗ lực học tập, phấn đấu để trở thành công dân số, đẩy nhanh tiến trình xây dựng quốc gia số.

Thứ ba, hoạt động phổ cập tri thức cơ bản về chuyển đổi số và kỹ năng số cần được triển khai đa dạng, linh hoạt, mọi lúc, mọi nơi, dưới mọi hình thức trực tiếp, trực tuyến, kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến. Phát huy vai trò các nền tảng số, nhất là nền tảng “Bình dân học vụ số”, đáp ứng số lượng lớn người dân tham gia. Tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng số vào các nền tảng đã phổ biến với người dân, nhất là ứng dụng định danh điện tử VNeID.

Thứ tư, triển khai phong trào “Bình dân học vụ số” cần gắn kết chặt chẽ, hữu cơ với tổng thể kế hoạch triển khai Nghị quyết 57, lồng ghép vào các chương trình, kế hoạch, đề án chuyển đổi số của cơ quan, đơn vị, địa phương. Đồng thời, kết nối với các phong trào đang triển khai thực hiện, nhất là các phong trào “Cả nước thi đua đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”; “Cả nước thi đua xây dựng xã hội học tập, đẩy mạnh học tập suốt đời giai đoạn 2023 - 2030” bảo đảm tính hiệu quả, ý nghĩa.

- Điều kiện và những giải pháp cho “Bình dân học vụ số"

Để thực hiện thành công phong trào “Bình dân học vụ số” với những quyết tâm, kì vọng và định hướng nêu trên, các cấp ủy, chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các đơn vị quan tâm thực hiện tốt một số công việc sau:

Một là, cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương, nhất là người đứng đầu phải tiên phong, gương mẫu trong học tập, rèn luyện, nâng cao năng lực số của bản thân; lãnh đạo, chỉ đạo, chủ động đề ra các giải pháp cụ thể thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số trên địa bàn, trong cơ quan, đơn vị, tạo điều kiện cũng như gia tăng áp lực để cán bộ, công chức, viên chức tự nguyện học tập, nâng cao kỹ năng số đồng bộ với tiến trình chuyển đổi số.

Hai là, mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương phải xem đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, gắn với cách mạng về tinh gọn bộ máy, với công tác cải cách hành chính, phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân. Tạo điều kiện để mọi người dân được tiếp cận, phát triển kỹ năng số, khai thác ứng dụng, dịch vụ, nền tảng phù hợp với nhu cầu của mỗi người theo quan điểm “người dân, doanh nghiệp là trung tâm, mục tiêu và là động lực của chuyển đổi số”.

Ba là, trên cơ sở khung năng lực số, chương trình[11] đã được ban hành, cùng với sự chuẩn bị của đơn vị được giao nhiệm vụ, các cơ quan, đơn vị, địa phương chủ động biên soạn tài liệu, bài giảng phổ cập phù hợp với từng nhóm đối tượng, làm cơ sở để triển khai đồng bộ, chất lượng và hiệu quả trong cả nước; xây dựng chính sách thúc đẩy phổ cập kiến thức số, trí tuệ nhân tạo; đưa nội dung về kiến thức số, trí tuệ nhân tạo vào chương trình giáo dục từ bậc phổ thông.

Bốn là, tập trung đầu tư, phát triển hạ tầng số, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hỗ trợ thiết bị số hoặc miễn phí cho người dân có hoàn cảnh khó khăn. Phát huy cao độ vai trò của mô hình tổ công nghệ số cộng đồng trong triển khai thực hiện Phong trào. Triển khai rộng khắp các mô hình, phong trào lan tỏa, phát triển kỹ năng số cho cộng đồng.

Năm là, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể, cộng đồng doanh nghiệp và người dân ở trong và ngoài nước tích cực tham gia hưởng ứng Phong trào. Phát huy sáng kiến, nhân rộng cách làm hay, sáng tạo trong quá trình triển khai thực hiện Phong trào. Các doanh nghiệp công nghệ cần tiên phong, tích cực tham gia vào chuyển đổi số quốc gia, phổ cập kỹ năng số cho người dân qua việc phát triển các nền tảng, dịch vụ số, các giải pháp số linh hoạt, phù hợp.

***

Từ phong trào “Bình dân học vụ” trong những năm đầu lập quốc đến “Bình dân học vụ số” trong thời đại chuyển đổi số, điểm chung lớn nhất chính là tinh thần khai trí, khai phóng - lấy tri thức làm nền tảng để phát triển quốc gia. Xưa kia, chiến thắng giặc dốt là điều kiện tiên quyết để kiến thiết đất nước và giữ vững nền độc lập, thì ngày nay, làm chủ công nghệ, nhất là công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và phổ cập kỹ năng số cho toàn dân là đòi hỏi cấp bách để Việt Nam không tụt hậu, vươn lên trong kỷ nguyên số.

“Bình dân học vụ số” càng được triển khai mạnh mẽ bao nhiêu, sự nghiệp chuyển đổi số quốc gia càng nhanh về đích bấy nhiêu. Thực hiện Phong trào không chỉ là trách nhiệm, mà còn là cơ hội để đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số toàn diện đối với mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương và người dân, xác lập phương thức sản xuất mới, tạo đột phá về chất lượng, hiệu quả, năng suất lao động và lợi ích to lớn từ chuyển đổi số mang lại. Đây chính là nền móng để chuyển đổi số thực sự trở thành cuộc cách mạng toàn dân, toàn diện - nơi mà từng người dân Việt Nam trở thành công dân số tích cực, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh và thịnh vượng./.

PGS,TS. Lê Huy Hoàng

Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương

--------

Chú thích:

[1] Sắc lệnh 17-SL: Đặt ra một Bình dân học vụ trên toàn cõi Việt Nam.

[2] Sắc lệnh 19-SL: Trong toàn cõi Việt Nam sẽ thiết lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp học bình dân buổi tối.

[3] Sắc lệnh 20-SL: Trong khi chờ đợi lập được nền tiểu học cưỡng bức, việc học chữ Quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người. Hạn trong một năm, toàn thể dân chúng Việt Nam trên 8 tuổi phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ.

[4] Bài viết “Chống nạn thất học” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đăng trên Báo Cứu quốc, số 58, ngày 04/10/1945.

[5] TSKH. Phạm Đỗ Nhật Tiến, Bình dân học vụ số - hiện trạng, đề xuất và kiến nghị.

[6]GS,TSKH. Vũ Minh Giang trong bài viết Từ phong trào “Bình dân học vụ” đến “Bình dân học vụ số” ngày nay.

[7] GS.TS Phạm Tất Dong, Phong trào Bình dân học vụ năm 1945, giá trị và những bài học thành công.

[8] Ban hành theo Quyết định số 749/QĐ-TTg, ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.

[9] Dẫn theo Báo cáo Chuyển đổi số quốc gia năm 2024.

[10] Hết năm 2025: 80% cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong khu vực công có hiểu biết về chuyển đổi số, kiến thức và kỹ năng số, sử dụng được các nền tảng, dịch vụ số phục vụ công việc; 100% học sinh trung học và sinh viên được trang bị kiến thức, kỹ năng số để phục vụ học tập, nghiên cứu và sáng tạo, có kỹ năng an toàn trong học tập và tương tác xã hội trong môi trường số; 80% người lao động trong các doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hợp tác xã có kiến thức cơ bản về công nghệ số, có kỹ năng số, sử dụng được thiết bị thông minh để phục vụ sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng suất lao động; 80% người dân trong độ tuổi trưởng thành có tri thức cơ bản về chuyển đổi số, có kỹ năng số, sử dụng được thiết bị thông minh để khai thác thông tin, sử dụng nền tảng, dịch vụ số thiết yếu, biết bảo vệ bản thân trên môi trường số.

[11] Ban hành theo Quyết định số 757/QĐ-BKHCN, ngày 29/4/2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ; Quyết định số 1638/QĐ-BGDĐT, ngày 18/6/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.