Toàn cầu hóa tôn giáo, những vấn đề đặt ra trong bối cảnh hiện nay ở nước ta

Nhằm góp phần thực hiện thành công công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cần tiếp tục phát huy những thuận lợi, tích cực do toàn cầu hóa (TCH) tôn giáo mang lại trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở nước ta; tạo điều kiện cho các tôn giáo tích cực tham gia hơn nữa vào công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Toàn cầu hoá đã tác động sâu sắc đến sự vận động, biến đổi và phát triển các tôn giáo trên thế giới.

TCH là một hiện tượng, một quá trình, một xu thế liên kết trong quan hệ quốc tế làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau về nhiều mặt của đời sống xã hội giữa các quốc gia. Đó là một quá trình xác lập, phổ biến, quốc tế hóa các giá trị, các chuẩn mực trên phạm vi toàn cầu. TCH xóa nhòa đường biên giới các quốc gia, thu hẹp khoảng cách trong đời sống nhân loại. Là một bộ phận cấu thành của văn hóa, tôn giáo cũng không ngoài xu thế đó và mang đầy đủ các đặc trưng do TCH mang lại, phản ánh xu thế tất yếu, khách quan từ sự phát triển mang tính quốc tế hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất. 

1. Một số đặc điểm toàn cầu hóa trong tình hình hiện nay

Một là, quá trình toàn cầu hóa liên quan tới sự xuất hiện và nhân rộng của một loạt các mạng lưới liên kết ở cấp độ toàn cầu, thách thức các đường biên giới địa lý, văn hóa, kinh tế, chính trị truyền thống.

 Hai là, các tiến bộ về thông tin liên lạc, giao thông vận tải và công nghệ sản xuất đã khiến cho dòng vốn đầu tư, hàng hóa, công nghệ và lực lượng lao động di chuyển dễ dàng hơn trên khắp thế giới.

Ba là, thông qua quá trình toàn cầu hóa, mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia cũng như người dân trên thế giới ngày càng gia tăng. Sự phụ thuộc lẫn nhau không chỉ diễn ra trên phương diện kinh tế - thương mại, mà còn xuất hiện ở những vấn đề khác như tình trạng ấm lên toàn cầu của trái đất, hay các làn sóng tội phạm và chủ nghĩa khủng bố xuyên quốc gia.

Bốn là, dường như toàn cầu hóa đang làm giảm dần các khác biệt về mặt văn hóa. Toàn cầu hóa cũng đe dọa làm lu mờ bản sắc văn hóa của các quốc gia, vốn là những giá trị cần được duy trì nhằm bảo vệ sự đa dạng của nền văn hóa thế giới.

Năm là, quá trình toàn cầu hóa khiến cho vai trò của các quốc gia với tư cách là các chủ thể chính của quan hệ quốc tế cũng trở nên bị suy giảm. Thực tế, toàn cầu hóa đã làm xói mòn chủ quyền của các quốc gia, vốn là nền tảng cho sự tồn tại của chúng. Điều này thể hiện rõ nhất trên lĩnh vực kinh tế[1].

Toàn cầu hóa vừa là điều kiện, vừa là kết quả cần thiết cho mọi quá trình phát triển xã hội; các quan hệ xã hội được mở rộng trên toàn thế giới; tác động đến các quốc gia trên thế giới trên mọi lĩnh vực xã hội trong đó có tôn giáo. TCH đáp ứng nhu cầu giao lưu, trao đổi của các tôn giáo, giúp các tôn giáo khác nhau xích lại gần nhau trong một thế giới văn minh khoa học và đa dạng văn hóa. Trong đó, TCH được xem là một quá trình xác lập, phổ biến, quốc tế hóa các giá trị, các chuẩn mực trên phạm vi toàn cầu. Đó vừa là điều kiện, vừa là kết quả cần thiết cho mọi quá trình phát triển xã hội; các quan hệ xã hội được mở rộng trên toàn thế giới, những thành tựu khoa học, sự giao thoa về văn hóa đã trở thành “tài sản” chung của toàn nhân loại; tác động đến các quốc gia trên thế giới trên mọi lĩnh vực xã hội trong đó có tôn giáo. TCH đáp ứng nhu cầu giao lưu, trao đổi của các tôn giáo, giúp các tôn giáo khác nhau xích lại gần nhau trong một thế giới văn minh khoa học và đa dạng văn hóa. 

2. Toàn cầu hóa tôn giáo và những vấn đề đặt ra ở nước ta hiện nay

Toàn cầu hóa tôn giáo trước hết được hiểu là quá trình chuyển từ tính quốc tế, vốn được hiểu theo nghĩa liên nhà nước, sang tính xuyên quốc gia: Các chiến lược bành trướng tôn giáo không còn hoặc ít liên quan đến các quyền bá chủ về chính trị và thường phụ thuộc vào phạm vi của các logic mới. Ngoài ra, các luồng tôn giáo này không còn giới hạn ở sự lưu truyền Bắc - Nam mà đã trở nên đa chiều,... TCH đã mở rộng không gian tiếp nhận, ảnh hưởng và tiếp biến các yếu tố thuộc tôn giáo (hệ thống giáo lý, giáo luật, phương pháp tu hành,…) của các tôn giáo ra toàn thế giới nhằm xác lập, phổ biến giá trị và chuẩn mực chung, đồng thời khẳng định giá trị của các tôn giáo trong sự đa dạng của văn hóa nhân loại. Học giả D. Lehmann (Mỹ) đã đưa ra định nghĩa về TCH tôn giáo: “Khuynh hướng chung của TCH kinh tế là đồng đều hóa và lôi cuốn các khu vực xa xôi vào thị trường thế giới đang cạnh tranh, ngược lại, TCH tôn giáo lại là sự phá vỡ các biên giới, đồng thời tạo nên các biên giới mới”.“TCH không chỉ nói đến mặt giống nhau hay mặt đồng đều và sự phá hủy các ranh giới văn hóa. Trái lại, nó còn sinh ra những ranh giới mới, cắt ngang nhau trong phạm vi văn hóa, tộc người, ngôn ngữ và tôn giáo. Tôn giáo có vai trò quan trọng trong quá trình ấy[2]. Biểu hiện đầu tiên của quá trình TCH đối với tôn giáo là quá trình phá vỡ các đường biên giới quốc gia, khu vực về địa tôn giáo; sự đa dạng hóa hệ thống tôn giáo đi liền quá trình cải đạo, đổi đạo,…Vượt qua chế độ nhà nước tập trung, xuất hiện ngày càng nhiều thể chế mang tính toàn cầu và trật tự quốc tế mới về tôn giáo. D.Lehmann cũng khẳng định, sự biến đổi tôn giáo theo hai xu hướng: Những hình thức “toàn thế giới” của TCH tôn giáo như Kitô giáo xưa kia và xu thế “hội nhập văn hóa, biểu tượng tôn giáo bản địa” vào các tôn giáo thế giới. TCH đem lại cho loài người nhiều lợi thế nhưng tự nó cũng chứa đựng nhiều nghịch lý, và điều này cũng ảnh hưởng đến quá trình phát triển của các tôn giáo.

Có thể nói, toàn cầu hoá đã tác động sâu sắc đến sự vận động, biến đổi và phát triển các tôn giáo trên thế giới. TCH là quá trình mở rộng dần không gian lãnh thổ, nên con người không chỉ tiếp cận với một hoặc các tôn giáo của đất nước mình, mà còn biết tới tôn giáo khác, thậm chí không phải tiếp thu một cách thụ động, mà còn chủ động tiếp thu với tính chất phê phán. Từ đó dẫn đến sự phân hóa tín đồ các tôn giáo theo các mức độ tin theo tôn giáo của mình và nảy sinh hiện tượng một cá nhân cùng lúc theo nhiều tôn giáo khác nhau. Chính điều đó đã làm chính mỗi tôn giáo cũng có sự phân rẽ thành các giáo phái, thậm chí có giáo lý xa lạ với giáo lý ban đầu. TCH cũng làm nảy sinh hành vi nhập thế của các tôn giáo bằng cách tham gia vào những hoạt động phi tôn giáo, như: xã hội, đạo đức, giáo dục, y tế,… TCH đã làm nảy sinh cuộc đấu tranh xóa bỏ những điểm lỗi thời trong giáo lý trong từng tôn giáo. Các tín đồ vẫn tiến hành những nghi lễ nhưng lại không theo giáo lý hay giáo luật đã được định sẵn của tôn giáo mình. TCH tác động đến tôn giáo thể hiện ở quá trình hiện đại hoá các tôn giáo, các tôn giáo đều tìm cách tận dụng thế mạnh của TCH để hiện đại hoá nội dung giáo lý, quy định của giáo luật, việc thực hành nghi lễ,… hay là áp dụng các thành tựu của khoa học, công nghệ hiện đại, kể cả lý thuyết khoa học và phương tiện khoa học hiện đại phục vụ cho hoạt động tôn giáo. Các chức sắc tôn giáo đã lợi dụng các lý thuyết khoa học mới để chứng minh cho lý luận tôn giáo của mình, hoặc lý giải mới các quan điểm tôn giáo cho phù hợp với khoa học hiện đại. Với những thay đổi mạnh mẽ về địa chính trị với những thành tựu vô cùng vĩ đại của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ trong những năm qua đã làm suy giảm niềm tin, khô đạo, nhạt đạo ở con người và con người lại đi tìm tôn giáo cho riêng mình; đây cũng là cơ sở ra đời các hiện tượng tôn giáo mới.

Ở Việt Nam, trong thời kỳ hội nhập quốc tế, dù các tôn giáo cũng mang đầy đủ các đặc trưng như đã nêu trên, song một số tôn giáo, nhất là tôn giáo nội sinh vẫn giữ những đặc trưng riêng vốn có của tôn giáo mình, đó là truyền thống nhân văn, nhân ái, tinh thần đoàn kết, đùm bọc nhau, yêu quê hương, dân tộc,… Trong xu thế hội nhập quốc tế, đoàn kết giữa tôn giáo và dân tộc vẫn là xu thế nổi trội; là dòng chủ lưu xuất phát từ những yếu tố lịch sử, văn hoá của dân tộc ta. Tôn giáo là bộ phận của văn hóa đã và đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, điều đó vừa tạo ra thời cơ, nhưng cũng gây không ít khó khăn, trở ngại cho công tác quản lý nhà nước về tôn giáo. Trong khi đó, tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo các cấp còn có nhiều điểm chưa phù hợp với nhiệm vụ; việc phối hợp các cấp, các ngành trong xử lý các vấn đề nảy sinh trong tôn giáo đôi khi còn thụ động, thiếu đồng bộ; công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật còn bị động, chưa kịp thời. Ở một số nơi, một bộ phận cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo còn có biểu hiện suy thoái đạo đức, năng lực chuyên môn còn hạn chế; cơ chế khuyến khích, phát huy vai trò và nguồn lực do các tổ chức tôn giáo đem lại trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc còn rất khiêm tốn, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ trong công tác này đặt ra trong tình hình mới. Điều dễ nhận thấy là, đối với Việt Nam, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế vừa có tác động tích cực, tạo ra thời cơ, điều kiện thuận lợi, vừa có tác động tiêu cực, tạo nên những nguy cơ, thách thức đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Những năm tới, nhân loại tiếp tục chứng kiến những chuyển biến sâu sắc trên phạm vi toàn cầu về địa chính trị, địa kinh tế, cạnh tranh chiến lược,… cùng với những thách thức về an ninh truyền thống và phi truyền thống. Đối với nước ta, âm mưu không thay đổi của các thế lực thù địch là tiếp tục “diễn biến hòa bình” trên các lĩnh vực xã hội, trong đó chúng triệt để lợi dụng TCH tôn giáo nhằm xâm phạm ANCT-TTATXH, đưa đất nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Nhằm tận dụng những ưu việt do TCH tôn giáo mang lại góp phần bảo đảm tuyệt đối an ninh quốc gia, trật tự an toàn của đất nước cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm như sau:

Một là, các ban, bộ, ngành chức năng phối hợp với cấp ủy đảng, chính quyền  các địa phương tiếp tục thực hiện hiệu quả các văn bản chỉ đạo về công tác tôn giáo như: Nghị quyết số 25/NQ-TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016, Nghị định 95/2023/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, thay thế Nghị định 162/2017/NĐ-CP, của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016,…Qua đó, nhằm phát huy vai trò của các tôn giáo và các tín đồ, chức sắc tích cực tham gia sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Hai là, tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương và đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo về đặc trưng, bản chất, tính tất yếu của hội nhập và TCH trong mọi lĩnh vực xã hội; từ đó góp phần phát huy yếu tố tích cực của hội nhập quốc tế với các tôn giáo, khơi dậy và phát huy thế mạnh và mọi nguồn lực của các tôn giáo trong xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo an ninh, quốc phòng tại địa phương; kết hợp với các chính sách hỗ đặc biệt cho đồng bào tín đồ các tôn giáo có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong cuộc sống.

Ba là, tiếp tục tập huấn, bồi dưỡng nâng cao nhận thức, trình độ chuyên môn cho cán bộ, đảng viên làm công tác tôn giáo; vị trí, vai trò của TCH tôn giáo và âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề này để chống phá các cách mạng nước ta cho cán bộ, đảng viên làm công tác tôn giáo, để đội ngũ cán bộ làm công tác này hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần vào việc phát huy những mặt tích cực do TCH tôn giáo mang lại đối với đời sống xã hội. Quan tâm xây dựng tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo đủ mạnh góp phần tham mưu ngày càng tốt hơn cho cấp ủy, chính quyền các cấp giải quyết hiệu quả các vấn đề về tôn giáo nói chung, các vấn đề và hệ quả do TCH gây ra đối với đời sống tôn giáo ở nước ta trên cơ sở pháp luật.  

Bốn là, cần phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng TCH tôn giáo để chống phá cách mạng nước ta. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của Nhân dân và các tín đồ chức sắc hiểu rõ lợi ích do TCH mang lại cho đời sống tôn giáo; âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề này để chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm phương hại đến quyền và lợi ích chính đáng của các tín đồ, chức sắc và Nhân dân để họ tự giác tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.

Trong những năm tới, bên cạnh thuận lợi, thời cơ còn tiềm ẩn những khó khăn, thách thức do TCH tôn giáo mang lại đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhằm góp phần thực hiện thành công công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cần tiếp tục phát huy những thuận lợi, tích cực do TCH tôn giáo mang lại trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở nước ta; tạo điều kiện cho các tôn giáo tích cực tham gia hơn nữa vào công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc./.  

Thượng tá Nguyễn Đức Quỳnh

Bộ Công an

---------

Chú thích: 

[1] Đào Minh Hồng - Lê Hồng Hiệp (chủ biên), Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế, TPHCM: Khoa QHQT - Đại học KHXH&NV TPHCM, 2013

[2] D.Lehman, Religion and Globalization trong Religion in the modern World, NewYork, 2002, p.301