Đổi mới công tác dân vận trong triển khai Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với sự đồng thuận tuyệt đối của 492/492 đại biểu tham gia biểu quyết. Luật gồm 09 chương, 61 điều và có hiệu lực từ ngày 01/01/2027. Đây là bước cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới.

Tuy nhiên, vấn đề không chỉ dừng lại ở việc ban hành chính sách, mà quan trọng hơn là tổ chức triển khai thực hiện một cách đồng bộ, hiệu quả, đưa các quy định của luật đi vào cuộc sống. Trong quá trình đó, công tác dân vận giữ vai trò then chốt, đặc biệt đối với một lĩnh vực nhạy cảm và đặc thù như tín ngưỡng, tôn giáo.

Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo với hàng chục triệu tín đồ, hàng chục nghìn cơ sở thờ tự, cùng đội ngũ đông đảo chức sắc, chức việc, nhà tu hành.

1. Dân vận “gốc” của mọi công việc

Quan điểm nhất quán của Đảng về công tác dân vận đã được khẳng định từ sớm. Trong tác phẩm Dân vận, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Dân vận kém thì việc gì cũng kém, dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” [1]. Đây là cơ sở lý luận quan trọng để xác định vị trí, vai trò của công tác dân vận trong triển khai chính sách tôn giáo.

Các nghị quyết của Đảng, tiêu biểu như Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12/3/2003 (khóa IX) về công tác tôn giáo nhấn mạnh: “Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng” và “Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị”. Điều đó cho thấy công tác dân vận không chỉ là một phương thức, mà còn là nhiệm vụ trung tâm, xuyên suốt.

2. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền cơ bản của công dân, được hiến định trong Hiến pháp năm 2013 (Điều 24) và được cụ thể hóa trong hệ thống pháp luật. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) tiếp tục khẳng định nguyên tắc: tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo; đồng thời bảo đảm hoạt động tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật.

Trong bối cảnh đó, công tác dân vận chính là cầu nối mềm dẻo, giúp chuyển hóa các quy định pháp luật thành nhận thức và hành động tự giác của các tổ chức, cá nhân tôn giáo và toàn xã hội.

3. Thực tiễn đời sống tôn giáo đặt ra yêu cầu mới

Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo với hàng chục triệu tín đồ, hàng chục nghìn cơ sở thờ tự, cùng đội ngũ đông đảo chức sắc, chức việc, nhà tu hành (hiện có 40 tổ chức và 01 Pháp môn tu hành đã được Nhà nước công nhận tổ chức tôn giáo hoặc cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo thuộc 16 tôn giáo. Với khoảng: 27.382.746 tín đồ , chiếm 27% dân số cả nước; 66.365 chức sắc, 120.475 chức việc, 30.374 cơ sở tôn giáo[2] ; trên 70.000 cơ sở tín ngưỡng[3]. Ngoài ra còn có khoảng 100 hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo mới, hàng chục điểm nhóm tôn giáo sinh hoạt tập trung của người nước ngoài đang công tác và học tập tại Việt Nam...). Hoạt động tôn giáo ngày càng đa dạng, mở rộng sang nhiều lĩnh vực như giáo dục, y tế, từ thiện và quan hệ quốc tế.

Sự phát triển nhanh chóng này đặt ra nhiều vấn đề mới: nhu cầu sinh hoạt tôn giáo gia tăng; xuất hiện các nhóm tôn giáo chưa được công nhận; yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp; tác động của công nghệ số; cũng như nguy cơ bị lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật. Trong bối cảnh đó, nếu chỉ sử dụng biện pháp hành chính sẽ khó đạt hiệu quả; thay vào đó, cần phát huy mạnh mẽ công tác dân vận nhằm tạo sự đồng thuận xã hội.

4. Vai trò của công tác dân vận trong triển khai Luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có nhiều điểm mới đáng chú ý như: (1) Tiếp tục khẳng định và cụ thể hóa quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; (2) Đổi mới cách tiếp cận trong quản lý nhà nước, theo hướng “hậu kiểm; (3) Hoàn thiện quy định về đăng ký và công nhận tổ chức tôn giáo; (4) Tăng cường quản lý hoạt động tôn giáo có yếu tố nước ngoài; (5) Bổ sung quy định liên quan đến không gian mạng và chuyển đổi số; (6) Phân cấp, phân quyền mạnh mẽ hơn, phù hợp với chủ trương đổi mới tổ chức bộ máy và mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương tổ chức Hội nghị quán triệt, triển khai các văn bản của Ban Bí thư về công tác dân tộc, tôn giáo trong giai đoạn mới, ngày 16/4/2026.

Để các nội dung này đi vào thực tiễn, công tác dân vận cần phát huy vai trò trên các phương diện sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức, tạo đồng thuận xã hội. Thông qua tuyên truyền, vận động linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng, công tác dân vận giúp các tổ chức, cá nhân tôn giáo và nhân dân hiểu đúng, đầy đủ về mục tiêu, ý nghĩa của việc sửa đổi luật, từ đó tự giác chấp hành.

Thứ hai, là kênh phản hồi chính sách. Dân vận không chỉ là truyền đạt mà còn là lắng nghe. Việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng từ cơ sở giúp các cơ quan chức năng kịp thời điều chỉnh, hoàn thiện chính sách, bảo đảm tính khả thi.

Thứ ba, phát huy vai trò của các tổ chức tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo có thể trở thành lực lượng tích cực trong tuyên truyền, hướng dẫn tín đồ thực hiện pháp luật, đồng thời là cầu nối hiệu quả giữa chính quyền và người dân.

Thứ tư, phòng ngừa và xử lý các vấn đề phức tạp. Công tác dân vận góp phần phát hiện sớm các vấn đề phát sinh, hạn chế hình thành “điểm nóng”, đồng thời ngăn chặn việc lợi dụng tôn giáo gây chia rẽ, vi phạm pháp luật, giữ vững ổn định xã hội.

5. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dân vận

Để công tác dân vận phát huy hiệu quả trong triển khai luật, cần tập trung một số giải pháp:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận và tôn giáo, bảo đảm am hiểu pháp luật, phong tục, giáo lý và có kỹ năng vận động quần chúng.

Thứ hai, đổi mới nội dung, phương thức dân vận; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội; chú trọng đối thoại trực tiếp.

Thứ ba, phát huy vai trò người có uy tín trong tôn giáo; xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền và các tổ chức tôn giáo.

Thứ tư, tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; đẩy mạnh phối hợp liên ngành.

Thứ năm, tổ chức hiệu quả việc tuyên truyền, phổ biến luật và các văn bản hướng dẫn thi hành đến tận cơ sở.

Kết luận

Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, việc ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) là yêu cầu tất yếu. Tuy nhiên, để luật thực sự đi vào cuộc sống, công tác dân vận giữ vai trò “chìa khóa”, quyết định hiệu quả triển khai.

Phát huy tốt công tác dân vận không chỉ giúp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tôn giáo, mà còn góp phần củng cố niềm tin của nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

ThS. Lê Minh Khánh ,

Vụ Dân tộc và Tôn giáo, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương

--------------------------

[1] Theo Bài viết đăng trên báo Sự thật ngày 15/10/1949 . Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật. 2011, t6. tr.232-234

[2] Theo Báo cáo Đề án về những vấn đề phát sinh, phức tạp trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo do Ban Dân vận Trung ương (trước đây) chủ trì (số liệu tính đến tháng 06/2024)

[3] Theo Đề án “Nghiên cứu, điều tra, khảo sát thực trạng cơ sở tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay”