Nâng cao hiệu quả vốn đầu tư thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở nước ta trong bối cảnh mới
Trong thời gian qua, vốn đầu tư ở Việt Nam không ngừng gia tăng về quy mô, cơ cấu vốn đầu tư dịch chuyển theo hướng tích cực và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư đã từng bước được cải thiện, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, bối cảnh mới với những thuận lợi, khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra yêu cầu đối với Việt Nam cần có các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay.
1. Bối cảnh mới có ảnh hưởng đến huy động và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư ở Việt Nam
- Thuận lợi:
+ Với khát vọng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, Đảng và Nhà nước ta đang nỗ lực thực hiện các đột phá chiến lược, tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, chính sách thông qua việc ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia[1], Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới[2], Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới[3], Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân[4]. Các Nghị quyết mới được ban hành thể hiện sự đổi mới tư duy, sự thống nhất trong nhận thức và hành động nhằm tạo động lực mới thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo tiền đề đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường, thực hiện thắng lợi mục tiêu “đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021a).
+ Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW[5] gắn với tinh giản biên chế và cơ cấu lại, nâng cao chất lượng, sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, góp phần giảm chi thường xuyên; xóa bỏ các cấp trung gian (cấp quận/huyện), thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp nhằm lược bớt những thủ tục hành chính rườm rà, hạn chế sự chồng chéo trong quản lý. Đồng thời, Chính phủ chủ trương phân cấp cho các địa phương chủ động nghiên cứu, rà soát, đánh giá các tiềm năng lợi thế, các nguồn lực, động lực tăng trưởng mới cho địa phương. Điều này sẽ ảnh hưởng tích cực tới môi trường đầu tư của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
+ Việt Nam đã và đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và đạt được nhiều thành quả ấn tượng, trong đó tham gia các thỏa thuận hợp tác, liên kết kinh tế quốc tế với 17 hiệp định thương mại tự do (FTA); là một trong 20 quốc gia thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất thế giới từ năm 2019 cho đến nay[6]. Với mục tiêu tranh thủ tối đa các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực; tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vai trò, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước, vừa qua, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước, mở ra một giai đoạn phát triển mới cho Việt Nam. Điều này sẽ mở ra nhiều cơ hội thu hút các nguồn lực từ bên ngoài, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư nước ngoài, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
+ Khó khăn và thách thức:
Bước vào giai đoạn 2025 - 2030, bối cảnh thế giới được dự báo có nhiều thay đổi với những diễn biến rất phức tạp, khó lường. Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng gặp nhiều trở ngại, thách thức; các cuộc xung đột thương mại trên thế giới; đầu tư quốc tế có xu hướng giảm, nợ công toàn cầu tăng, rủi ro trên thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế gia tăng; xu thế phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với sự xuất hiện của chủ nghĩa bảo hộ và chống tự do hóa thương mại đa phương trên thế giới sẽ là những yếu tố tác động đến việc điều chỉnh dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của các quốc gia. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc thu hút các nguồn vốn từ bên ngoài vào Việt Nam như ODA, FDI. Thêm vào đó, việc Mỹ áp dụng thuế đối ứng thương mại đối hàng hóa nhập khẩu từ các quốc gia vào thị trường Mỹ, trong đó có Việt Nam, sẽ làm giảm dòng vốn FDI vào Việt Nam do các doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam để xuất khẩu sang Mỹ có thể phải cân nhắc lại kế hoạch đầu tư; đồng thời, các nhà đầu tư nước ngoài có thể dịch chuyển dòng vốn FDI sang các nước khác có mức thuế thấp hơn hoặc không bị Mỹ áp thuế để duy trì lợi thế cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu Mỹ.
Ở trong nước, trong giai đoạn 2025 - 2030, để tránh nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”, nguy cơ “tụt hậu xa hơn”, Việt Nam sẽ tập trung mọi nguồn lực để thực hiện các mục tiêu như phục hồi kinh tế sau đại dịch Covid-19; thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế gắn với cơ cấu lại nền kinh tế; chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; phát triển nhanh và bền vững dựa trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển công nghệ số, kinh tế số; phát triển cơ sở hạ tầng có tính kết nối cao; cải cách công tác quản lý nhà nước; cải cách dịch vụ công;... Do đó, nhu cầu về vốn đầu tư để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là rất lớn. Trong khi năng suất lao động của nền kinh tế còn thấp, thì vốn đầu tư vẫn được coi là một nguồn lực quan trọng, là một trong những động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Khóa XII về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đang được Đảng và Nhà nước quyết liệt chỉ đạo, thực hiện quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp nhằm sử dụng hiệu quả, tránh lãng phí nguồn ngân sách nhà nước. Do vậy, nhiều dự án xây dựng sử dụng vốn đầu tư công sẽ có nguy cơ tạm dừng triển khai, chậm tiến độ do tổ chức bộ máy chính quyền ở các tỉnh, địa phương đang trong giai đoạn sắp xếp lại.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đang phải đối diện với rất nhiều thách thức với các vấn đề mới nảy sinh mang tính toàn cầu như thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường. Tất cả những bối cảnh mới đó đòi hỏi trong những năm tới Việt Nam phải huy động được một lượng vốn lớn để giải quyết. Do vậy, để thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng kinh tế cả nước năm 2025 đạt 8% trở lên, tạo nền tảng vững chắc để đạt tốc độ tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026 - 2030 như Nghị quyết số 25/NQ-CP[7] đã đề ra, Việt Nam cần tiếp tục tăng cường huy động và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư cho tăng trưởng và phát triển kinh tế.
2. Một số giải pháp nhằm huy động và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư ở nước ta
Trước bối cảnh mới của đất nước, nguồn vốn đầu tư ở Việt Nam vẫn được coi là nguồn lực quan trọng, có đóng góp tích cực vào tăng trưởng và phát triển nền kinh tế. Vì vậy, các nguồn vốn đầu tư cần phải được khơi thông và sử dụng một cách có hiệu quả. Nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư ở Việt Nam trong giai đoạn 2025 – 2030, cần phải có những giải pháp được thực hiện đồng bộ, với kế hoạch và lộ trình cụ thể để đạt được các mục tiêu tăng trưởng đã đề ra đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định kinh tế vĩ mô, đơn giản hóa thủ tục hành chính, đảm bảo sự ổn định và nhất quán của chính sách, tạo môi trường đầu tư thuận lợi khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư kinh doanh. Khẩn trương nghiên cứu xây dựng “Cổng một cửa đầu tư quốc gia”. Đổi mới nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư; đa dạng hóa các hoạt động và phương thức xúc tiến đầu tư; ưu tiên xúc tiến đầu tư tại chỗ nhằm kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của các nhà đầu tư; kịp thời nắm bắt những xu thế của thế giới để đưa ra chính sách phù hợp, đặc biệt là chính sách ưu đãi hỗ trợ nhà đầu tư. Làm tốt công tác quy hoạch, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hạ tầng logistics để đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài.
Thứ hai, phát triển thị trường chứng khoán thành kênh huy động vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển. Phát triển thị trường vốn trong nước tạo điều kiện thuận lợi cho việc cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước; đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn tại các doanh nghiệp nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối để tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, tăng nguồn thu cho chi đầu tư phát triển.
Thứ ba, đa dạng hóa, mở rộng các hình thức đầu tư để huy động nguồn vốn từ khu vực ngoài nhà nước. Phát triển mạnh mẽ mô hình Đối tác công - tư (PPP) nhằm thu hút vốn từ khu vực ngoài nhà nước tham gia vào các dự án hạ tầng có quy mô lớn. Có chính sách khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài chuyển tiền về đầu tư vào sản xuất, kinh doanh thay vì chỉ tập trung vào tiêu dùng và bất động sản nhằm khơi thông nguồn kiều hối.
Thứ tư, tạo lập sân chơi bình đẳng, đảm bảo sự cạnh tranh công bằng giữa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tư nhân có cơ hội tiếp cận với các nguồn lực phát triển, nhất là nguồn lực vốn, đất đai và nhân lực chất lượng cao. Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân tăng cường đổi mới, đầu tư trang thiết bị hiện đại, chủ động ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh doanh hiệu quả, bền vững. Phát triển nhanh các doanh nghiệp lớn và vừa, hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân tầm cỡ khu vực và toàn cầu. Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và các hộ kinh doanh. Tăng cường kết nối giữa các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI[8]. Xây dựng các chính sách khuyến khích doanh nghiệp FDI chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và sử dụng các nhà cung cấp nội địa, từ đó giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Có chính sách ưu đãi (về thuế, đất đai, tín dụng,...) tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân tham gia vào phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến, du lịch chất lượng cao và kinh tế số.
Thứ năm, thu hút FDI theo hướng từ số lượng sang chú trọng chất lượng và nâng cao hiệu quả thu hút FDI. Tập trung ưu tiên thu hút các dự án công nghệ cao, công nghệ nguồn, năng lượng sạch, đổi mới sáng tạo; ưu tiên các nhà đầu tư chiến lược và có sự liên kết chuỗi cung ứng toàn cầu; ưu tiên doanh nghiệp FDI cam kết chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp Việt Nam. Xây dựng và ban hành bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thu hút và sử dụng vốn FDI để lựa chọn các nhà đầu tư phù hợp với quy hoạch, định hướng phát triển ngành, lĩnh vực, địa bàn và đảm bảo tăng cường tính liên kết vùng nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Kiểm soát chặt chẽ những dự án đầu tư không phù hợp với nhu cầu phát triển của Việt Nam hoặc những lĩnh vực mà doanh nghiệp trong nước đủ năng lực về công nghệ. Có cơ chế, chính sách khuyến khích hợp tác chuyển giao công nghệ dựa trên cơ sở thỏa thuận, tự nguyện nhằm tăng cường tính kết nối, lan tỏa giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài; hỗ trợ doanh nghiệp trong nước phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ.
Thứ sáu, thực hiện nghiêm Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đảm bảo thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững. Tăng cường kỷ luật tài khóa, quản lý thu chi ngân sách hiệu quả, chống thất thu thuế.
Thứ bảy, huy động và sử dụng vốn ODA và các nguồn vốn vay ưu đãi cho các lĩnh vực then chốt như ứng phó biến đổi khí hậu, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, phát triển bền vững, y tế và giáo dục. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công, quản lý chặt chẽ việc sử dụng vốn vay phù hợp với tình hình thực tiễn. Cần có cơ chế, biện pháp thúc đẩy giải ngân vốn ODA đã cam kết.
Thứ tám, ưu tiên tập trung vốn đầu tư công cho các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, các dự án hạ tầng giao thông kết nối liên vùng như đường cao tốc Bắc - Nam, đường ven biển, hạ tầng năng lượng và hạ tầng số. Đẩy mạnh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, đặc biệt là đối với các dự án trọng điểm quốc gia và siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong giải ngân vốn đầu tư công. Tăng cường đề cao vai trò, trách nhiệm của các Tổ công tác kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công hàng năm tại các bộ, cơ quan trung ương và địa phương[9] và nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu các bộ, các cơ quan trung ương và địa phương trong việc giải quyết những khó khăn, vướng mắc của các dự án đầu tư nhằm khơi thông nguồn vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Công khai, minh bạch thông tin dự án đầu tư công và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, chống tham nhũng, lãng phí. Xử lý nghiêm theo quy định đối với tổ chức, cá nhân cố tình chậm tiến độ phân bổ và giải ngân vốn đầu tư công hoặc có hành vi tiêu cực, tham nhũng trong quản lý đầu tư công.
Thứ chín, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giám sát đối với các dự án đầu tư công thông qua việc tăng cường vai trò của Quốc hội, HĐND các cấp. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; tăng cường sự tham gia giám sát của người dân và các tổ chức xã hội đối với hoạt động đầu tư công nhằm tránh lãng phí, thất thoát, nâng cao hiệu quả các dự án đầu tư công. Kiểm soát và quản lý nợ công trong giới hạn cho phép; hoàn thiện luật pháp, chính sách quản lý nợ công phù hợp với tình hình thực tiễn trong nước và thông lệ quốc tế, gắn trách nhiệm phân bổ, sử dụng vốn vay với trách nhiệm giải trình, cân đối nghĩa vụ trả nợ./.
Văn Long
(Bài đăng trên Bản tin Thông tin Báo cáo viên số tháng 3/2026)
[1] Ban chấp hành Trung ương (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
[2] Ban chấp hành Trung ương (2025a). Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
[3] Ban chấp hành Trung ương (2025b). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/ 2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[4] Ban chấp hành Trung ương (2025c). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
[5] Ban chấp hành Trung ương (2017). Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/ 2017 về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
[6] Ban chấp hành Trung ương (2025a). Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
[7] Chính phủ (2025). Nghị quyết số 25/NQ-CP ngày 5/2/2025 về mục tiêu tăng trưởng các ngành, lĩnh vực và địa phương bảo đảm mục tiêu tăng trưởng cả nước năm 2025 đạt 8% trở lên.
[8] Ban chấp hành Trung ương (2025c). Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
[9] Chính phủ (2025). Nghị quyết số 25/NQ-CP, ngày 05/02/2025 về mục tiêu tăng trưởng các ngành, lĩnh vực và địa phương bảo đảm mục tiêu tăng trưởng cả nước năm 2025 đạt 8% trở lên.
