Kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025; giải pháp cho tăng trưởng giai đoạn 2026 - 2030
Có thể nhận thấy rằng, giai đoạn 2021 - 2025, tình hình kinh tế, chính trị thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, tăng trưởng suy giảm, lạm phát tăng cao, các ngân hàng trung ương của nhiều nước thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt; đại dịch toàn cầu Covid-19 gây ra những hậu quả nặng nề chưa từng có tiền lệ… Song, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cùng với sự lãnh đạo quyết liệt của Chính phủ, kinh tế Việt Nam giai đoạn này đã có sự phục hồi và phát triển đáng ghi nhận.
Có thể nhận thấy rằng, giai đoạn 2021 - 2025, tình hình kinh tế, chính trị thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, tăng trưởng suy giảm, lạm phát tăng cao, các ngân hàng trung ương của nhiều nước thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt; đại dịch toàn cầu Covid-19 gây ra những hậu quả nặng nề chưa từng có tiền lệ… Song, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cùng với sự lãnh đạo quyết liệt của Chính phủ, kinh tế Việt Nam giai đoạn này đã có sự phục hồi và phát triển đáng ghi nhận.
1. Nhìn lại bức tranh kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025
Tình hình kinh tế, chính trị thế giới trong giai đoạn 2021 - 2025 có nhiều biến động phức tạp, khó lường, nhưng kinh tế vĩ mô Việt Nam ổn định, tăng trưởng kinh tế giai đoạn này đạt mức bình quân 6,3%[1].
Năm 2025, kinh tế đạt mức tăng trưởng 8,02%; quy mô GDP đạt 12.847,6 nghìn tỷ đồng[2], dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng trong khu vực Đông Nam Á, với mức thu nhập bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt 125,5 triệu đồng[3], đưa Việt Nam vào top 32 thế giới, là một trong số ít các quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới; năng suất lao động đạt 245 triệu đồng/lao động, tăng 6,83% theo giá so sánh[4].
Trong giai đoạn 2021 - 2025, thu ngân sách nhà nước (NSNN) ước đạt khoảng 9,88 triệu tỷ đồng, gấp 1,36 lần giai đoạn trước đó và vượt 18,1% mục tiêu đề ra; riêng năm 2025 đạt hơn 2,65 triệu tỷ đồng[5], quan trọng hơn là cơ cấu thu ngày càng bền vững, chủ yếu thu từ sản xuất, kinh doanh. Trong khi đó, NSNN vẫn dành khoảng 1,1 triệu tỷ đồng cho cả giai đoạn để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân vượt khó.
Chi ngân sách được cơ cấu lại theo hướng tiết kiệm chi hành chính; tăng chi đầu tư phát triển[6] và an sinh xã hội; thị trường tài chính phát triển ổn định, thị trường chứng khoán được nâng hạng, VN-Index chạm ngưỡng 1.800 điểm.
Quy mô thương mại tăng cao qua các năm, từ 545 tỷ USD năm 2020, đạt kỷ lục 930 tỷ USD năm 2025, thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới, cán cân thương mại duy trì mức xuất siêu lớn trong 10 năm liền; tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 17,3 triệu tỷ, tăng 44% so với giai đoạn trước, bằng 33,2% GDP, đạt mục tiêu đề ra (32% - 34%), trong đó đầu tư công đạt 34 triệu tỷ đồng, tăng 55% so với nhiệm kỳ trước và đã khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải; riêng năm 2025 tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 4,93 triệu tỷ, tăng 18,7% so với năm 2024; thu hút FDI trong cả giai đoạn đạt 184,2 tỷ USD, tăng 8,5% so với giai đoạn trước; chất lượng FDI tiếp tục được cải thiện.
Kim ngạch xuất khẩu tăng qua các năm tăng từ 336,25 tỷ USD (năm 2021) lên 475,04 tỷ USD (năm 2025), đưa Việt Nam vào top 15 quốc gia thương mại mạnh toàn cầu; thị trường trong và ngoài nước tiếp tục phát triển; thị trường tài chính, tiền tệ, ngoại tệ cơ bản ổn định; kinh tế tư nhân đạt hiệu quả tích cực; số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động năm 2025 đạt gần 297.500 doanh nghiệp, cao nhất từ trước đến nay, tăng 27,4% so với năm 2024; hiện cả nước có trên 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, tăng hơn 160.000 doanh nghiệp so với năm 2024 và tăng hơn 20% so với năm 2020.
+ Quy mô GDP:
Kết quả ở Bảng 1 cho thấy, trong giai đoạn 2021 - 2025, quy mô GDP của Việt Nam luôn tăng theo hướng năm sau cao hơn năm trước. Cụ thể: trong khi năm 2021, nhiều nền kinh tế trên thế giới tăng trưởng âm do đại dịch Covid-19 nhưng Việt Nam vẫn tăng 2,58%, với quy mô 391,92 tỷ USD[7]. Năm 2022, mức tăng trưởng là 8,02%, với quy mô 406,45 tỷ USD[8]; năm 2023, mức tăng trưởng 5,05% với quy mô đạt 430 tỷ USD[9]. Năm 2024 tăng 7,09% với quy mô GDP 476,3 tỷ USD[10], quy mô nền kinh tế xếp thứ 34 thế giới. Năm 2025 tăng trưởng trên 8,02% với quy mô GDP 514 tỷ USD[11], đưa Việt Nam vào nhóm 32 nền kinh tế tăng trưởng cao của thế giới.
+ Tình hình xuất khẩu:
Giai đoạn 2021 - 2025, mặc dù kinh tế thế giới suy giảm, tình hình chính trị diễn biến phức tạp, ảnh hưởng không ít đến xuất khẩu của Việt Nam, song xuất khẩu của Việt Nam đạt được những kết quả tích cực.
Kết quả ở Bảng 2 cho thấy, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 có triển vọng tích cực, cán cân thương mại hàng năm đều duy trì xuất siêu. Năm 2025, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, thiên tai, bão lũ gia tăng, gây thiệt hại nặng nề nhưng kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng mạnh, đạt 475,04 tỷ USD, tăng hơn năm trước 69,51 tỷ USD; xuất siêu 20,3 tỷ USD.
+ Vốn đầu tư và thu hút FDI:
Đáng chú ý là mức đầu tư của khu vực ngoài nhà nước hàng năm đều chiếm tỷ trọng cao hơn so với các khu vực khác, tương ứng qua các năm là: 59,47%; 58,17%; 56,07%; 55,93% và 53,9%; khu vực nhà nước qua các năm có tăng nhẹ: 24,67%; 25,61%; 27,85; 27,61% và 28,98%, 29,7%; khu vực FDI là: 15,86%; 16,73%; 16,07%; 16,42% và 16,4%. Điều này thể hiện chủ trương đúng đắn về phát triển kinh tế tư nhân đã được Đảng ta xác định; đồng thời thể hiện uy tín của Việt Nam ngày càng tăng lên trên trường quốc tế, qua đó, thu hút FDI ngày càng có triển vọng tốt, chất lượng ngày càng cao. Đặc biệt năm 2024, 2025, Chính phủ đã chỉ đạo kiên quyết và đôn đốc thực hiện giải ngân vốn đầu tư công các dự án trọng điểm quốc gia nhằm phát huy vai trò kích hoạt, tạo không gian phát triển mới, dẫn dắt các nguồn lực xã hội đầu tư cho phát triển. Theo Báo cáo của Bộ Tài chính, tính đến ngày 31/12/2025, cả nước giải ngân vốn đầu tư công được đạt khoảng 755.000 tỷ đồng, chiếm 83,7% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cao hơn năm trước.
Giai đoạn 2021 - 2025, tình hình thu hút FDI duy trì xu hướng tích cực. Riêng năm 2025 vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn mua cổ phần đạt 38,42 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm 2024, vốn FDI đạt 27,6 tỷ USD tăng 9% so với năm trước và là mức cao nhất trong 5 năm qua, là một trong những quốc gia thuộc nhóm 15 quốc gia đang phát triển thu hút FDI lớn nhất thế giới.
+ Về cơ cấu kinh tế theo khu vực kinh tế chủ yếu:
Kết quả ở Bảng 4 cho thấy, tỷ trọng khu vực thương mại dịch vụ hàng năm đều đạt mức cao và có xu hướng tăng, từ 40,95% năm 2021, tăng lên 42,92% năm 2025. Công nghiệp và xây dựng là khu vực chiếm tỷ trọng cao thứ hai và có xu hướng ổn định. Thứ ba là khu vực nông, lâm thủy sản có xu hướng giảm nhẹ. Trong khi đó, khu vực thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm có xu hướng giảm nhẹ hàng năm. Nhìn chung, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong mỗi khu vực kinh tế chủ yếu cũng có sự chuyển dịch cơ cấu một cách hợp lý, theo hướng gia tăng sản phẩm, dịch vụ có hàm lượng khoa học cao, chế biến sâu, sản phẩm xanh, thân thiện với môi trường; quy mô, tiềm lực cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên, tạo điều kiện thuận lợi cho cho những đổi mới và đột phá trong tăng trưởng trong giai đoạn 2026 - 2030.
2. Đánh giá thực trạng bức tranh kinh tế nước ta năm 2021 - 2025
Trong bối cảnh kinh tế, chính trị thế giới có nhiều phức tạp khó lường, kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 vẫn đạt được những thành tựu to lớn. Có thể khái quát như sau:
(i) Đổi mới cơ cấu kinh tế và mô hình tăng trưởng, phát huy lợi thế của việc tăng trưởng trong khu vực dịch vụ và khu vực công nghiệp, xây dựng trong những năm qua là một trong những nhân tố quan trọng, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế cho giai đoạn 2021-2025 và những năm tiếp theo.
(ii) Sự quyết tâm của Đảng, Chính phủ và Quốc hội Việt Nam trong việc đưa ra Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 với mục tiêu tiếp tục ưu tiên tăng trưởng gắn với củng cố, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế. Đẩy mạnh, tạo chuyển biến tích cực hơn trong thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và năng lực nội sinh của nền kinh tế. Hàng loạt chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện cho doanh nghiệp giảm bớt khó khăn trong nhiều lĩnh vực như đất đai, bất động sản, xây dựng, du lịch, y tế, giáo dục… được ban hành, cùng với chính sách tài khóa về giãn hoãn, giảm một số loại thuế, phí và nghị quyết về thúc đẩy đầu tư công… Bên cạnh đó, sự điều hành chính sách tiền tệ hợp lý; giảm lãi suất điều hành để giảm lãi suất cho vay, góp phần tăng khả năng tiếp cận vốn cho hệ thống doanh nghiệp, cùng với các gói hỗ trợ tín dụng lãi suất thấp hơn cho vay lĩnh vực lâm nghiệp và thủy sản, kết hợp chặt chẽ chính sách tài khóa, chính sách giá cả trong điều hành kinh tế vĩ mô.
(iii) Chính sách đầu tư nói chung, đầu tư công nói riêng và việc giải ngân đầu tư công tuy gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng đã có chuyển biến tích cực, đặc biệt trong năm 2025. Đây là nguồn nội lực quan trọng để phát triển các khu vực kinh tế, góp phần tăng trưởng GDP trong năm 2025 và các năm sau.
(iv) Lạm phát được kiềm chế ở mức trên dưới 4%; chỉ số giá tiêu dùng tăng hợp lý, phù hợp với quá trình phát triển kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống doanh nghiệp trong phát triển sản xuất kinh doanh.
(v) Chính sách thu hút vốn FDI có sự bổ sung, chỉnh sửa hợp lý, đã thu hút được nguồn vốn này ở mức khá cao, với chất lượng ngày càng tăng, góp phần quan trọng vào việc cải thiện môi trường đầu tư - kinh doanh.
Bên cạnh những kết quả đạt được, phát triển kinh tế giai đoạn 2021 - 2025 còn một số hạn chế sau:
(i) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm, giá trị gia tăng còn thấp; các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chủ yếu vẫn là gia công, lắp ráp; tỷ lệ nội địa hóa chưa cao, còn phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu; dịch vụ tuy phát triển nhanh về quy mô nhưng giá trị gia tăng còn thấp; hạn chế nhiều về các dịch vụ hiện đại như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm,…
(ii) Sự đứt gãy chuỗi cung ứng do đại dịch Covid-19 trong những năm 2020 - 2022 khiến tình hình sản xuất gặp nhiều khó khăn, thiếu nguyên vật liệu, giá tăng cao; hoạt động xuất khẩu bị ảnh hưởng do phong tỏa và gián đoạn logistic; tổng cầu tiêu dùng trong nước giảm mạnh do thu nhập của người dân giảm; dòng vốn FDI trong giai đoạn này bị chững lại do các nhà đầu tư thận trọng hơn.
(iii) Tốc độ phát triển chưa thực sự bền vững, chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa cao, chủ yếu vẫn dựa vào các ngành công nghiệp sử dụng lao động thủ công; xuất khẩu gặp khó khăn do thị trường bị thu hẹp; thế giới gặp nhiều khó khăn do suy giảm kinh tế và địa chính trị phức tạp, đặc biệt là đối tác lớn như Mỹ, EU giảm nhu cầu tiêu dùng, ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam. Trong khi đó, xuất khẩu sản phẩm thô, chưa qua chế biến sâu vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn, nên giá trị gia tăng thấp,…
(iv) Gánh nặng nợ công tăng do khoản vay để ứng phó với dịch COVID-19 cùng với chi tiêu công lớn cho các dự án cơ sở hạ tầng và tình trạng giải ngân vốn đầu tư công chậm. Bên cạnh đó, áp lực lạm phát và chi phí tăng cao.
(v) Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu của hội nhập quốc tế và kinh tế số, năng suất lao động chưa cao.
(vi) Thị trường bất động sản có dấu hiệu bất ổn, thanh khoản giảm và nợ xấu tăng ở một số ngân hàng, gây rủi ro cho hệ thống tài chính, ảnh hưởng đến tăng trưởng chung của nền kinh tế.
3. Giải pháp cho tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026 - 2030
Nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026 - 2030, cần thực hiện một số nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến chế tạo công nghệ cao; tham gia sâu vào chuỗi giá toàn cầu; ưu tiên phát triển công nghiệp điện tử, bán dẫn, cơ khí chính xác, năng lượng tái tạo; phát triển nông nghiệp công nghệ cao, chuyển từ tăng sản lượng sang tăng giá trị; xây dựng thương hiệu quốc gia; phát triển các ngành dịch vụ giá trị cao như tài chính, ngân hàng, logistics, du lịch chất lượng cao, kinh tế số, thương mại điện tử,… chuyển mạnh từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu, lấy năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, chất lượng thể chế làm động lực chủ yếu; tăng trưởng gắn với chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; chuyển từ gia công, lắp ráp sang tạo giá trị gia tăng; đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với chuyển đổi số.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế - cải cách môi trường kinh doanh. Đây được coi là một trong những giải pháp then chốt đảm bảo cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026 - 2030. Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền tự do kinh doanh, bảo vệ tài sản và quyền bình đẳng giữa các khu vực kinh tế. Chính phủ cần rà soát, đánh giá lại những chính sách vĩ mô về phát triển kinh tế - xã hội - môi trường, kịp thời bổ sung, chỉnh sửa những hạn chế, bất cập, tạo điều kiện thuận lợi để các ngành, các cấp, các địa phương có sự phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2030; tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa, tiền tệ hợp lý, chủ động, linh hoạt, hiệu quả; hoàn thiện khung pháp lý cho kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; kịp thời xử lý những bất cập nhằm khơi thông nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế bền vững.
Thứ ba, phát triển khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng nhất; thực hiện mạnh mẽ các nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân, có chính sách hợp lý hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân trong tiếp cận vốn, đất đai, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; thúc đẩy liên kết các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp FDI.
Thứ tư, tăng cường xuất khẩu hàng hóa; giữ vững các thị trường truyền thống và mở rộng xuất khẩu sang các thị trường mới; nâng cao chất lượng hàng hóa xuất khẩu theo hướng sản phẩm chế biến sâu để gia tăng giá trị, nâng cao khả năng cạnh tranh và uy tín quốc gia, doanh nghiệp trong hoạt động giao thương quốc tế.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao bằng cách đổi mới giáo dục đào tạo, tập trung vào các kỹ năng công nghệ, quản lý và sáng tạo, gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động; đào tạo nghề để đáp ứng nhu cầu nguồn lực lao động của nền kinh tế; thu hút và trọng dụng nhân tài, chuyên gia trong và ngoài nước; nâng cao kỹ năng số và quản trị hiện đại,…
Thứ sáu, tập trung phát triển mở rộng một số lĩnh vực, ngành nghề đóng vai trò động lực tăng trưởng của nền kinh tế như công nghệ cao, AI, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh và năng lượng tái tạo,…
Thứ bảy, thúc đẩy mạnh mẽ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; chuyển đổi số và công nghệ trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế; đảm bảo thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế số đến 2030; khuyến khích doanh nghiệp áp dụng công nghệ số và tự động hóa vào quá trình sản xuất kinh doanh; phát triển các lĩnh vực mũi nhọn như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, dữ liệu lớn (Big data), công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới; đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số toàn diện trong tất cả các ngành, các lĩnh vực; khuyến khích sản xuất sản phẩm thân thiện với môi trường, giảm khí thải; phát triển hạ tầng công nghệ thông tin; xây dựng hệ sinh thái, khởi nghiệp công nghệ nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo; thực hiện các giải pháp hữu hiệu về thu hút vốn đầu tư; đẩy nhanh đầu tư công gắn với trách nhiệm của người đứng đầu các ngành, các cấp, các địa phương trong việc giải ngân và lựa chọn nhà đầu tư để đảm bảo nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong đầu tư./.
TS. Đặng Ngọc Trâm
------------------------
[1] Kể cả năm 2021 chịu tác động nặng nề bởi đại dịch Covid-19.
[2] Tương đương 514 tỷ USD.
[3] Trên 5.026 USD.
[4] Cục Thống kê, Bộ Tài chính, 2025.
[5] Vượt 34,7% dự toán năm và tăng 29,7% so với năm trước.
[6] Tỷ lệ 32% - 33% tổng chi ngân sách.
[7] Tăng 123,5 tỷ USD so với năm 2020.
[8] Tăng 14,53 tỷ USD so với năm 2021.
[9] Tăng 23,55 tỷ USD so với năm 2022.
[10] Tăng 46,3 tỷ USD so với năm 2023.
[11] Tăng 33,7 tỷ USD so với năm 2024.
