Một số nét về tình hình thế giới nổi bật 6 tháng đầu năm, dự báo tình hình 6 tháng cuối năm 2024
Nửa đầu năm 2024, đa cực vẫn là một trong những đặc điểm chính của môi trường địa chính trị, trong khi kinh tế thế giới đã cho thấy khả năng phục hồi đáng ngạc nhiên khi các nền kinh tế đã đối mặt với “vô số cú sốc” như các cuộc xung đột, giá cả hàng hóa tăng mạnh...
1. Một số vấn đề thế giới nổi bật 6 tháng đầu năm 2024
1.1. Về kinh tế
Theo báo cáo Triển vọng Kinh tế Toàn cầu mới nhất của Ngân hàng Thế giới, nền kinh tế toàn cầu dự kiến sẽ ổn định lần đầu tiên sau ba năm vào năm 2024 nhưng ở mức độ yếu.
Indermit Gill, Chuyên gia kinh tế trưởng kiêm Phó chủ tịch cấp cao của Nhóm Ngân hàng Thế giới, cho biết: “Bốn năm sau những biến động do đại dịch, xung đột, lạm phát và thắt chặt tiền tệ gây ra, có vẻ như tăng trưởng kinh tế toàn cầu đang ổn định”. “Tuy nhiên, tăng trưởng đang ở mức thấp hơn so với trước năm 2020. Triển vọng của các nền kinh tế nghèo nhất thế giới càng đáng lo ngại hơn. Họ phải đối mặt với mức độ trả nợ cao, hạn chế khả năng thương mại và các hiện tượng khí hậu tốn kém. Các nền kinh tế đang phát triển sẽ phải tìm cách khuyến khích đầu tư tư nhân, giảm nợ công và cải thiện giáo dục, y tế và cơ sở hạ tầng cơ bản. Những nước nghèo nhất trong số đó – đặc biệt là 75 quốc gia đủ điều kiện nhận hỗ trợ ưu đãi từ Hiệp hội Phát triển Quốc tế – sẽ không thể làm được điều này nếu không có sự hỗ trợ quốc tế.”
Khoảng cách thu nhập giữa các nền kinh tế đang phát triển và các nền kinh tế tiên tiến sẽ ngày càng gia tăng. Thu nhập bình quân đầu người ở các nền kinh tế này dự kiến sẽ tăng trung bình 3,0% cho đến năm 2026.
Theo Báo cáo Triển vọng Kinh tế Toàn cầu mới nhất, tăng trưởng đầu tư công ở các nền kinh tế đang phát triển đã giảm một nửa kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, giảm xuống mức trung bình hàng năm là 5% trong thập kỷ qua. Tuy nhiên, đầu tư công có thể là một đòn bẩy chính sách mạnh mẽ. Đối với các nền kinh tế đang phát triển có không gian tài chính dồi dào và các biện pháp chi tiêu chính phủ hiệu quả, việc tăng quy mô đầu tư công lên 1% GDP có thể làm tăng mức sản lượng lên tới 1,6% trong trung hạn.
Triển vọng kinh tế toàn cầu đã được cải thiện kể từ tháng 1 năm 2024. Các nền kinh tế lớn tránh được suy thoái nghiêm trọng, giảm lạm phát, không tăng tỷ lệ thất nghiệp.
Theo báo cáo Tình hình và Triển vọng Kinh tế Thế giới tính đến giữa năm 2024, nền kinh tế thế giới được dự đoán sẽ tăng trưởng 2,7% vào năm 2024 (+0,3 điểm phần trăm so với mức dự báo tháng 1) và 2,8% vào năm 2025 (+0,1 điểm phần trăm so với mức dự báo tháng 1). Những điều chỉnh tăng chủ yếu phản ánh triển vọng tốt hơn ở Hoa Kỳ, (dự báo mức tăng trưởng năm 2024 đạt2,3%) vào năm 2024 và một số nền kinh tế lớn mới nổi, đặc biệt là Brazil, Ấn Độ và Liên bang Nga. Mặt khác, triển vọng kinh tế của châu Phi đã sẽ xấu đi, với mức tăng trưởng dự kiến giảm 0,2 điểm phần trăm cho năm 2024. Tính trung bình, tăng trưởng toàn cầu trong những năm tới dự kiến sẽ thấp hơn mức trung bình của giai đoạn 2010 – 2019 (3,2%).
Trong khi đó, nền kinh tế Trung Quốc dự kiến đạt mức tăng trưởng là 4,8%. GDP quý 1 năm 2024 của Trung Quốc quốc gia này đạt 5,3% khiến dự báo tăng 4,6% trong năm 2024 dễ dàng đạt được. Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế mất cân đối, cung lớn hơn cầu rất nhiều.
Triển vọng kinh tế của các Quốc đảo đang phát triển (SIDS) được dự đoán sẽ cải thiện, với mức tăng trưởng GDP tăng từ 2,4% vào năm 2023 lên 3,3% vào năm 2024, chủ yếu nhờ sự phục hồi bền vững của ngành du lịch. Tuy nhiên, SIDS vẫn dễ bị tổn thương trước sự tăng đột biến của giá hàng hóa quốc tế do phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu. Các hiện tượng thời tiết cực đoan thường xuyên và nợ công cao cũng đặt ra những thách thức đáng kể.
Các nền kinh tế đang phát triển đối mặt thách thức dai dẳng bất chấp xu hướng giảm phát toàn cầu. Mặc dù giá hàng hóa quốc tế giảm và các ngân hàng trung ương thắt chặt tiền tệ đã đẩy nền kinh tế toàn cầu vào con đường giảm phát, nhưng một số nền kinh tế đang phát triển vẫn tiếp tục vật lộn với lạm phát cao, chi phí vay tăng, áp lực tỷ giá hối đoái dai dẳng và bất ổn chính trị kéo dài.
Tình trạng việc làm trì trệ ở các nền kinh tế đang phát triển trái ngược với tình hình ở các nền kinh tế phát triển, đặc biệt là ở Bắc Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản.
1.2. Về an ninh
1.2.1. Cuộc xung đột quân sự Nga – Ukraine
Cuộc xung đột Nga – Ukraine đã bước sang năm thứ ba mà không có tiến triển nào từ cả hai bên. Gói viện trợ quân sự trị giá 60 tỷ USD của Mỹ đang dần đến Ukraine và Nhà Trắng đã từng bước điều chỉnh chính sách, cho phép Ukraine được dùng vũ khí Mỹ nhắm mục tiêu trực tiếp, không giới hạn vào Nga. Điều này sẽ có những tác động sâu sắc trong nhiều năm tới. Ngay lập tức, kể từ tháng 6/2024, giao tranh có xu hướng gia tăng vào mùa hè, khi thời tiết ấm hơn, khô hơn giúp cả hai bên điều động lực lượng dễ dàng hơn.
G7 đồng ý cho Ukraine vay 50 tỷ USD từ tiền lãi tài sản Nga bị phong tỏa. Số tiền có thể đến Ukraine trước cuối năm nay. Phần lớn số tiền sẽ được cung cấp dưới hình thức một khoản vay từ chính phủ Hoa Kỳ, mục tiêu là “cung cấp các nguồn lực cần thiết cho Ukraine hiện nay cho năng lượng kinh tế và các nhu cầu khác để nước này có khả năng phục hồi cần thiết”. Một mục tiêu khác là đưa tiền đến Ukraine nhanh chóng.
Ngoài chi phí cho chiến tranh, nhu cầu của Ukraine cho tái thiết và phục hồi đất nước Ukraine ở mức 486 tỷ USD trong 10 năm tới.
Đầu tháng 5/2024, Nga cố gắng chiếm Kharkiv, thành phố lớn thứ hai Ukraine, nhưng không thành công. Cuộc giao tranh bên ngoài Kharkiv, nhằm cố gắng làm mỏng các phòng tuyến của Ukraine khi phải chuyển quân từ các khu vực khác tới Kharkiv.
Nga đang cố gắng tiếp cận thành phố đủ gần để có thể sử dụng pháo binh tấn công thành phố, thay vì phải dựa vào tên lửa tầm xa.
Mỹ bật đèn xanh cho Ukraine tấn công lãnh thổ Nga. Cuối tháng 5/2024, Mỹ cho phép Ukraine bắn vào các mục tiêu ở gần biên giới Ukraine-Nga và nay là tấn công lãnh thổ Nga. Ukraine đã phá hủy các hệ thống vũ khí phòng không của Nga.
Cả hai bên Nga và Ukraine dường như đều cần thêm quân. Ukraine đang chật vật tuyển thêm chiến binh, trong khi Nga lại tổn thất số lượng lớn binh sĩ. Mỹ đánh giá quân đội Nga “mất hơn một nghìn người mỗi ngày”. Trong khi đó, Tổng thống Ukraine Zelensky hồi tháng 12/2023 cho biết quân đội Ukraine mong muốn tuyển thêm 500.000 quân và Quốc hội Ukraine đã thông qua luật hạ độ tuổi nhập ngũ từ 27 xuống 25.
Tổng thống Putin gần đây cho biết ông sẵn sàng đàm phán ngừng bắn. Nhưng giới chức Mỹ cho rằng đây là một phần sử dụng thông tin sai lệch. "Ông (Putin) không quan tâm đến lệnh ngừng bắn, trừ khi ông ấy nhận ra rằng lực lượng của Nga đang gặp khó khăn và cần thời gian để tập hợp lại."
Ưu tiên của chính quyền Biden là ngăn chặn Nga leo thang. Thậm chí có quan chức Mỹ còn cảnh báo: nếu Mỹ cắt viện trợ cho Ukraine một lần nữa hoặc vĩnh viễn, người Nga có thể dễ dàng vượt qua Ukraine.
Trước khi Hội nghị thượng đỉnh hòa bình Ukraine tại Thụy Sĩ bắt đầu, ngày 14/6/2024, Tổng thống Nga Putin đã đưa ra kế hoạch hòa bình, trong đó kêu gọi quân đội Ukraine rút khỏi bốn khu vực phía nam và phía đông Ukraine mà Nga đã sáp nhập năm 2022; và yêu cầu Ukraine từ bỏ nỗ lực gia nhập NATO. Theo đề xuất “hòa bình” mới này, Ukraine không chỉ phải từ bỏ lãnh thổ Nga đang chiếm giữ mà còn phải rời bỏ thêm lãnh thổ có chủ quyền của Ukraine trước khi Nga chịu đàm phán; đồng thời Ukraine phải giải giáp vũ khí để có thể tự vệ trong tương lai.
Ukraine, Mỹ và các nước phương Tây đã nhanh chóng bác bỏ yêu cầu của Tổng thống Nga Putin, coi đây là những yêu cầu buộc Ukraine phải đầu hàng và cáo buộc Nga tiến hành chiến tranh xâm lược. Trung Quốc vắng mặt tại Hội nghị này.
Hội nghị đã ra thông cáo chung, tái khẳng định cam kết “kiềm chế đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào, các nguyên tắc về chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của tất cả các quốc gia, bao gồm cả Ukraine, trong phạm vi biên giới của họ được quốc tế công nhận”. Ukraine hy vọng Hội nghị lần thứ 2 sẽ diễn ra cuối năm nay.
1.2.2. Cuộc xung đột Israel-Hamas tại Gaza
Sau vụ tấn công ngày 7/10/2023 do nhóm chiến binh Hamas dẫn đầu và bắt giữ 250 con tin ở miền Nam Israel, quân đội Israel đã đáp trả, thậm chí ném bom, tấn công vào Gaza. Theo Bộ Y tế Gaza, đến nay cuộc tấn công của Israel đã giết chết ít nhất 36.654 người Palestine và làm bị thương 83.309 người khác, tàn phá các khu dân cư, cơ sở hạ tầng y tế bị hư hại và nguồn cung cấp thực phẩm, nước và nhiên liệu cạn kiệt. Các nhóm nhân quyền đã mô tả điều kiện sống của người Palestine ở vùng đất này là “không thể diễn tả được”. Theo cơ quan của Liên hợp quốc về người tị nạn Palestine (UNRWA), hơn 75% dân số phải di dời.
Việc Israel hạn chế các tuyến đường bộ tới Gaza khiến viện trợ hầu như không được chuyển đến dải đất này. Cuộc khủng hoảng thậm chí còn trở nên nghiêm trọng hơn, sau khi Israel tấn công vào thành phố Rafah ở phía Nam và giành quyền kiểm soát phía Palestine trên tuyến đường bộ sang Ai Cập.
Theo Liên hợp quốc, tổng viện trợ vào Gaza đã giảm 67%. Hiện trung bình hàng ngày có 58 xe tải so với trung bình có 500 xe tải đi vào Gaza vào những tháng trước ngày 7/10/2023. Theo Văn phòng Điều phối các vấn đề nhân đạo của Liên hợp quốc, hơn 7.000 trẻ em dưới 5 tuổi đã được chẩn đoán suy dinh dưỡng.
Các cuộc tấn công của Israel vào các đoàn xe viện trợ đã làm dấy lên sự lên án gay gắt từ nhiều tổ chức quốc tế, thu hút sự chú ý đến sự hoài nghi ngày càng tăng của phương Tây đối với cuộc chiến của Israel ở Gaza.
Sau 8 tháng xung đột Hamas - Israel, đã diễn ra khủng hoảng chính trị nội bộ Israel. Ngày 16/6/2024, Israel đã giải tán nội các thành lập sau ngày 7/10/2023 do ông Netanyahu lãnh đạo. Nhưng việc giải tán này không tạo ra khủng hoảng chính phủ, vì Thủ tướng vẫn nhận được sự ủng hộ của 64 trong số 120 đại biểu quốc hội. Tuy nhiên, hàng tuần, các cuộc biểu tình ngày càng lớn quy tụ hàng nghìn người ở Tel Aviv và Jerusalem phản đối việc Chính phủ tiến hành chiến tranh và yêu cầu thủ tướng từ chức.
Xung đột vẫn tiếp diễn ở Gaza, nơi 50 con tin vẫn còn sống. Mặt trận phía Bắc Israel chống lại Hezbollah tại Lebanon đang ngày càng hoạt động tích cực.
1.2.3. Gia tăng bạo lực giữa các cộng đồng ở Tây Phi và Sahel
Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc bày tỏ quan ngại sâu sắc về việc gia tăng bạo lực giữa các cộng đồng ở Tây Phi và Sahel, đặc biệt là ở miền trung Sahel, đồng thời bày tỏ lo ngại về “sự gia tăng căng thẳng và xung đột giữa nông dân và người chăn nuôi trong khu vực.
Hội đồng Bảo an quan ngại sâu sắc "về các hành vi bạo lực do các chủ thể phi nhà nước gây ra, bao gồm các cá nhân, nhóm, công ty và tổ chức liên quan đến Nhà nước IS (Daesh) và Al-Qaeda; tái khẳng định đối thoại toàn diện là trọng tâm ở cấp quốc gia và địa phương nhằm thúc đẩy hòa bình và an ninh lâu dài, nhấn mạnh tầm quan trọng của Chiến lược chống khủng bố toàn cầu của Liên hợp quốc.
Hội đồng Bảo an quan ngại về mối đe dọa cướp biển và cướp có vũ trang ở Vịnh Guinea đối với hàng hải quốc tế cũng như an ninh và sự phát triển bền vững của khu vực; lên án sự gia tăng số lượng nạn nhân ở Tây Phi và Sahel, đồng thời kêu gọi tất cả các bên tham gia xung đột vũ trang chấm dứt và ngăn chặn hành vi vi phạm nghiêm trọng chống lại trẻ em.
Bên cạnh đó, Hội đồng Bảo an quan ngại sâu sắc “trước những thay đổi vi hiến của chính phủ và các âm mưu đảo chính”.
2. Dự báo tình hình thế giới 6 tháng cuối năm 2024.
2.1. Tình hình kinh tế
Theo báo cáo Triển vọng Kinh tế Toàn cầu của Ngân hàng Thế giới, tăng trưởng toàn cầu 6 tháng cuối năm 2024 sẽ giữ ổn định ở mức 2,6%, trước khi tăng lên mức trung bình 2,7% vào giai đoạn 2025-2026. Dự báo này cho thấy, trong giai đoạn 2024-2026, GDP toàn cầu vẫn sẽ tăng trưởng chậm hơn so với thập kỷ trước đại dịch COVID-19.
Nhìn chung, các nền kinh tế đang phát triển được dự đoán sẽ tăng trưởng trung bình 4% trong giai đoạn 2024-2025. Tăng trưởng ở các nền kinh tế có thu nhập thấp dự kiến sẽ tăng lên 5% vào năm 2024. Ở các nền kinh tế tiên tiến, tăng trưởng được dự đoán sẽ duy trì ổn định ở mức 1,5% vào năm 2024 trước khi tăng lên 1,7% vào năm 2025.
Lạm phát trên toàn cầu dự kiến sẽ giảm xuống mức 3,5% vào năm 2024 và 2,9% vào năm 2025, nhưng tốc độ giảm chậm hơn so với dự kiến 6 tháng trước. Nhiều ngân hàng trung ương sẽ vẫn thận trọng trong việc hạ lãi suất chính sách. Lãi suất toàn cầu có thể vẫn ở mức cao so với trung bình khoảng 4% trong giai đoạn 2025-2026, gần gấp đôi mức trung bình của giai đoạn 2000-2019.
Tuy nhiên, lãi suất cao hơn trong thời gian dài hơn, thách thức về tính bền vững của nợ, căng thẳng địa chính trị tiếp diễn và rủi ro khí hậu ngày càng tồi tệ tiếp tục đặt ra thách thức đối với tăng trưởng, đặc biệt đối với các nước kém phát triển nhất và các quốc đảo đang phát triển.
Nửa cuối năm 2024, triển vọng của một số nền kinh tế bị che mờ bởi khả năng gia tăng căng thẳng địa chính trị và xung đột trên toàn thế giới.
Kinh tế Trung Quốc nửa cuối năm 2024 dự báo phục hồi nhưng nền tảng chưa vững chắc khi thị trường bất động sản điều chỉnh sâu và cơ cấu kinh tế mất cân đối do rủi ro bất động sản, nợ chính quyền địa phương, giảm phát, dịch chuyển chuỗi cung ứng và địa chính trị. Chính sách tiền tệ và tài khóa vẫn mở rộng để hỗ trợ phục hồi nhưng ưu tiên kích thích tài khóa trong bối cảnh tâm lý yếu kém do cơ chế truyền tải nới lỏng tiền tệ vẫn còn yếu.
Hợp tác quốc tế vẫn rất quan trọng để tạo thuận lợi chuyển giao công nghệ và tài trợ cho các nước đang phát triển, đảm bảo cung cấp các khoáng sản quan trọng cần thiết cho quá trình chuyển đổi xanh.
2.2. Tình hình an ninh
2.2.1. Cuộc xung đột quân sự Nga – Ukraine
Xung đột Nga – Ukraine khó kết thúc vào năm 2024. Hai bên xung đột đều cạn kiệt nguồn lực quân sự sau gần ba năm giao tranh. Mục tiêu của Nga ở Ukraine chưa hề thay đổi cũng như chưa đạt được.
Phương Tây tiếp tục tăng cường viện trợ quân sự và hỗ trợ lâu dài cho ngành công nghiệp quốc phòng Ukraine. Bên cạnh đó, phương Tây gia tăng các biện pháp trừng phạt chặt chẽ hơn đối với Nga
Lợi ích lãnh thổ mà Nga giành được cho đến nay là “khá nhỏ so với những tổn thất to lớn”, đặt ra những thách thức đối với Nga.
Nga sẽ mở các cuộc tấn công mới vào mùa hè năm 2024. Quân đội Ukraine duy trì đủ nguồn cung cấp, nên Nga khó có thể giành được lợi ích lớn về lãnh thổ. Vì vậy, bế tắc sẽ vẫn tiếp tục diễn ra trong suốt nửa cuối năm nay.
Việc Quốc hội Hoa Kỳ phê duyệt viện trợ quân sự trị giá 61 tỷ USD cho Ukraine đảm bảo Ukraine có thể tiếp tục chiến đấu trong năm 2024, chuẩn bị cho các hoạt động vào năm 2025.
Các quan chức Ukraine đã nhận thấy cần thiết phải đàm phán. Hai bên đang chạy đua giành vị thế mạnh nhất, thuận lợi nhất trước các cuộc đàm phán trong tương lai. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán có ý nghĩa có khả năng diễn ra sớm nhất là vào nửa cuối năm 2025.
Sau Hội nghị thượng đỉnh về Hòa Bình cho Ukraine (diễn ra tại Thụy Sĩ từ 15 - 16/6/2024), việc liên lạc giữa Ukraine với Nga có thể diễn ra vì Ukraine nhận thấy: không thể chấm dứt chiến tranh nếu không có cả hai bên xung đột. Tuy nhiên, những trở ngại trong đàm phán vẫn còn, do ý tưởng của Ukraine và Nga về một thỏa thuận hòa bình là "loại trừ lẫn nhau". Trong một thỏa thuận với Nga, Ukraine nhấn mạnh đường biên giới được công nhận năm 1991 và áp đặt "hình thức răn đe thực sự chống lại bất kỳ cuộc tấn công nào của Nga trong tương lai". Ngược lại, Nga tìm kiếm “quyền kiểm soát hoàn toàn” đối với lãnh thổ Ukraine hiện đang bị chiếm đóng, bao gồm 4 khu vực mà Nga đã sáp nhập. Ngoài ra, Nga sẽ yêu cầu "có tiếng nói cuối cùng về việc ai có thể là tổng thống của Ukraine", trước khi Ukraine "có thể gia nhập EU". Những điều này là không thể chấp nhận được đối với Ukraine.
2.2.2. Cuộc giao tranh Israel - Hamas:
Sau gần chín tháng giao tranh, Israel và Hamas chưa đạt được thỏa thuận ngừng bắn ở Gaza. Xung đột có thể lan rộng sang Lebanon, với lực lượng của Hezbollah, một đồng minh của Hamas. Thủ tướng Israel Netanyahu đã dừng tuyên bố xâm lược Lebanon, thay vào đó, để ngỏ khả năng giải quyết ngoại giao với Hezbollah. Nhưng giải pháp ngoại giao ở Gaza vẫn chưa chắc chắn, vì liên minh của ông Netanyahu có thể sẽ sụp đổ nếu Israel ngừng chiến đấu ở Gaza mà không loại bỏ Hamas khỏi quyền lực.
Tuy nhiên, thủ tướng Netanyahu dường như ra hiệu rằng Israel sẽ không tìm cách tiến hành các cuộc xâm lược lớn trên bộ vào trung tâm Gaza.
Hiện nay, cộng đồng quốc tế không ủng hộ Israel, nên Israel khó có thể giành được lợi thế và do đó, Hamas có thể có lợi vì xung đột càng kéo dài thì Israel sẽ càng bị suy yếu. Vào tháng 11 năm 2023, thăm dò dư luận cho thấy 76% xã hội Israel muốn ông Netanyahu rời khỏi Chính phủ. Hiện tại, sự ủng hộ dành cho ông Netanyahu bắt đầu tăng lên vì nếu vào tháng 11 năm 2023, Đảng của ông chỉ có 18 ghế so với 40 ghế của đảng ông Benny Gantz trong Quốc hội thì hiện Đảng của ông Netanyahu có 21 ghế và ông Benny Gantz 24 ghế. Vì vậy, Netanyahu luôn quan tâm đến việc duy trì quyền lực ngay cả với những đồng minh gây ra cho ông rất nhiều vấn đề. Hiện nay chưa có giải pháp thay thế thực sự nào và không có chủ thể chính trị thực sự nào tự mình đứng ra giải quyết vấn đề để thay đổi tình hình.
6 tháng cuối năm 2024, xung đột có thể tiếp tục leo thang và có khả năng Israel đối đầu với Lebanon. Đặc biệt là Hezbollah được trang bị rất nhiều vũ khí, không chỉ có tên lửa mà còn có số lượng tên lửa lên tới hàng chục hoặc hai mươi nghìn chiếc. Đối mặt với loại vũ khí này, “vòm sắt” (Iron Dome) của Israel sẽ không đủ khả năng ngăn chặn.
Đây là lý do tại sao Mỹ cố gắng thu xếp hòa giải thông qua thỏa thuận (modus vivendi) mà nhiều người Israel coi là không thể thiếu, để tránh những ảnh hưởng rất nghiêm trọng nếu xảy ra cuộc chiến với Hezbollah.
-----
Như vậy, kinh tế toàn cầu đã chứng tỏ khả năng phục hồi đáng kinh ngạc trong thời kỳ giảm phát toàn cầu năm 2022–2023. Cùng với việc lạm phát trên toàn thế giới giảm sau đỉnh năm 2022, hoạt động kinh tế tăng tốc đều đặn. Cần hợp tác đa phương để giảm thiểu chi phí và rủi ro liên quan đến sự phân mảnh địa kinh tế và biến đổi khí hậu, đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang năng lượng xanh và tạo điều kiện tái cơ cấu nợ.
Tác động của các cú sốc ở các nước G20 mới nổi, đặc biệt là Trung Quốc, đã gia tăng và ảnh hưởng đến kinh tế thế giới. Chuỗi giá trị toàn cầu tạo thành một kênh quan trọng. Lãnh đạo của các quốc gia cần chủ động biện pháp giảm xóc và củng cố khuôn khổ hành động để đối mặt với những cú sốc lớn hơn đến từ các quốc gia G20.
Đa cực vẫn là một trong những đặc điểm chính của môi trường địa chính trị trong nửa đầu cũng như cả năm 2024. Các cường quốc như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Liên minh Châu Âu và Nga do việc tranh giành địa chiến lược ở Ukraine và Trung Đông đã gây ảnh hưởng đáng kể đến môi trường an ninh chính trị toàn cầu.
Thiếu tướng, PGS.TS.Nguyễn Hồng Quân
Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Quốc phòng
