Cục diện châu Âu từ khi xảy ra xung đột Nga – Ukraine đến nay
Cuộc xung đột Nga - Ukraine, từ khi khởi đầu đến nay vẫn tiếp tục diễn biến khó lường, đã và đang tác động sâu sắc tới cục diện thế giới nói chung và châu Âu nói riêng.
1. Về chính trị
Sau sự kiện 24/02/2022, cục diện chính trị châu Âu đã biến đổi sâu sắc: cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn ra quyết liệt, tiêu biểu là cạnh tranh giữa Nga và các đối tác tin cậy với Mỹ, EU, NATO. Sự cạnh tranh quyết liệt giữa 2 nhóm nước đó đã tạo ra những biến động to lớn trong việc tập hợp lực lượng, cạnh tranh, đối đầu quyết liệt. Tuy khó có thể quay lại như thời “chiến tranh lạnh” đối đầu giữa 2 cực, nhưng xu hướng tập hợp lực lượng mới, cạnh tranh nước lớn ở khu vực châu Âu đã trở nên rất nghiêm trọng, đe dọa đến hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển và đến không gian chính trị an ninh thống nhất ở châu Âu đã xây được trong giai đoạn hậu “chiến tranh lạnh” (1991 - 2014). Người ta gọi chúng là phiên bản “chiến tranh lạnh 2.0”.
Sự khác nhau 2 cực Mỹ - Xô (trong giai đoạn chiến tranh lạnh 1945 - 1991) giữa Mỹ, EU, NATO với Nga, Trung Quốc và các đối tác bạn bè trong giai đoạn từ 24/02/2022 đến nay ở những điểm nổi bật như sau:
Trong chiến tranh lạnh, cục diện 2 cực Xô - Mỹ có 5 đặc điểm như sau: (1) Về chính trị là 2 hệ thống chế độ xã hội khác nhau, đối lập nhau; (2) về quân sự là 2 tập đoàn đối kháng nhau; (3) về kinh tế là 2 loại hình kinh tế phát triển song song, nhưng hầu như không có giao lưu qua lại với nhau, chủ yếu tập trung vào phong tỏa và chống phong tỏa lẫn nhau; (4) nội bộ mỗi cực cơ bản theo kết cấu nhất nguyên, một trung tâm, một thủ lĩnh, quyền lực tập trung chủ yếu vào quốc gia đứng đầu (Mỹ và Xô); (5) cục diện hai cực này ổn định tương đối và tồn tại trong thời gian tương đối dài (44 năm từ 1945 - 1989).
Trong giai đoạn hiện nay, cục diện 2 cực mới giữa 2 nhóm nước Mỹ, EU, NATO với Nga, Trung Quốc và các đối tác bạn bè của Nga, Trung Quốc hiện nay có 5 điểm khác biệt bao trùm: (1) “hai cực mới” được vận hành trong một thế giới “kinh tế toàn cầu hóa”, “thương mại tự do hóa” và “chính trị đa trung tâm hóa”; (2) mọi thành viên thuộc “2 cực mới” dù muốn hay không muốn đều tuân thủ theo những nguyên tắc cơ bản trong “luật chơi mới”, trong khuôn khổ “toàn cầu hóa kinh tế” và “đa trung tâm hóa chính trị”, khác hẳn với “hai cực cũ” được vận hành trong không khí “chiến tranh lạnh”, mọi sự tiếp xúc đều bị “bức màn sắt” cản trở; (3) “2 cực cũ” đối đầu trực tiếp tuyệt đối, nhưng “2 cực mới” diễn ra trong bối cảnh cục diện châu Âu vừa hợp tác, vừa đấu tranh, dựa trên luật pháp quốc tế, hiến chương Liên hợp quốc; (4) “hai cực mới” vẫn phải đáp ứng những yêu cầu mới của thời đại mà “hai cực cũ” chưa đặt ra: bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hòan, phát triển bền vững, kinh tế số… đòi hỏi sự hợp tác toàn cầu; (5) mục tiêu cạnh tranh, đấu tranh lẫn nhau giữa 2 nhóm nước không phải tiêu diệt, triệt tiêu lẫn nhau, mà là giành quyền phát ngôn trong tiến trình hình thành trật tự thế giới mới, trong tiến trình cải cách hệ thống quản trị toàn cầu, ngăn chặn chiến tranh hạt nhân, chiến tranh thế giới thứ 3, phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, trí tuệ nhân tạo, quản trị toàn cầu mới…
2. Về an ninh - quốc phòng
- Chấm dứt, bổ sung các cam kết, cơ chế kiểm soát xung đột, đảm bảo an ninh khu vực:
Sức mạnh quân sự của EU: EU tuy chưa phải là siêu cường an ninh - quân sự, nhưng có tiềm lực quân sự đáng kể và một số nước thành viên như: Pháp, Đức, Ý là các nước có tiềm lực quân sự mạnh, chi tiêu quốc phòng và xuất khẩu vũ khí hàng đầu.
Sức mạnh quân sự của EU thể hiện ở việc duy trì quan hệ đối tác an ninh, liên minh lâu dài và đồng minh với nhiều cường quốc. Liên minh xuyên Đại Tây Dương giữa Mỹ và EU là không thể thay đổi trong khi EU là đối tác toàn diện NATO hơn 20 năm qua. Khối này kiểm soát 60% chi tiêu quân sự toàn cầu. Số lượng đồng minh, đối tác an ninh của EU rất lớn, ở khắp các châu lục, như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Newzeland. Với những lợi thế này, châu Âu đã triển khai hàng chục ngàn binh sĩ chiến đấu bên ngoài lãnh thổ và sự hiện diện hải quân đáng kể chỉ đứng sau Mỹ. EU đã đi đầu trong các hoạt động quân sự ở Macedonia, Bosnia, Cộng hòa Nhân dân Congo, Chad, Somalia, Mali; chỉ huy các hoạt động hải quân ngoài khơi sừng châu Phi và Địa Trung Hải; tiến hành các hoạt động hỗ trợ hoặc giám sát ở Sudan, Nam Sudan, Guinea - Bissau, Libya, Indonexia, Iraq, Moldova, Kosovo, Gruzia, Niger, các vùng lãnh thổ Palestine, Ukraine và các nước vùng Baltic. Họ đã lãnh đạo các phái bộ của UN, kể cả ở Lebanon và góp phần quan trọng trong các phái bộ do Mỹ dẫn đầu, bao gồm cả tại Iraq, Afghanistan.
Về đối ngoại - an ninh - quốc phòng: Trong giai đoạn từ năm 1991 đến trước 22/4/2022, sự thay đổi tư duy an ninh của EU theo hướng giảm phụ thuộc vào Mỹ và NATO và chủ trương “tự chủ chiến lược” và xây dựng “la bàn chiến lược”, EU chủ trương xây dựng lực lượng quân đội riêng, ngày càng mạnh mẽ. Các thành viên EU, đặc biệt là Pháp, Đức dẫn đầu EU xây dựng sức mạnh cứng của EU và của nước mình. “Chiến lược toàn cầu” năm 2016 của EU công bố chủ trương đầu tư khẩn cấp vào lĩnh vực an ninh - quốc phòng, phòng thủ châu Âu, tăng cường hợp tác quốc phòng, đưa EU trở thành một “cộng đồng an ninh” với một nền công nghiệp quốc phòng cạnh tranh và sáng tạo; tăng cường hợp tác an ninh với NATO, đồng thời gia tăng năng lực triển khai các hoạt động quân sự độc lập. “Chính sách an ninh và phòng thủ chung” (CSDP) chưa xây dựng hệ thống phòng thủ chung, mà tập trung vào các hoạt động quản lý khủng hoảng bên ngoài lãnh thổ EU. “Quân đoàn châu Âu”, “lực lượng phản ứng nhanh” và “lực lượng quân đội châu Âu” là những công cụ thực thi chính sách an ninh của EU. Với mục tiêu hướng ra bên ngoài, EU đã đóng vai trò tích cực trong các sứ mệnh quân sự và dân sự dài hạn trên thế giới như chiến dịch gìn giữ hòa bình, cứu trợ nhân đạo và đối phó với nạn khủng bố, cướp biển, buôn người... CSDP đồng thời đưa ra liên kết chính sách quốc phòng của khối lên mức độ cao hơn thông qua “Cơ chế hợp tác phòng thủ thường trực” (PESCO) và “Quỹ phòng thủ châu Âu” tạo cơ sở pháp lý và tài chính cho sự liên kết phòng thủ EU trong tương lai, tiến tới thành lập quân đội chung của EU. Chương trình nghị sự chiến lược của Hội đồng châu Âu một mặt khẳng định “chính sách đối ngoại và an ninh chung” của EU (CFSP) và “Chính sách an ninh và phòng thủ chung” phải được liên kết tốt hơn với đối tác bên ngoài. Lãnh đạo EU ngày càng nhấn mạnh yếu tố “nâng cao năng lực tự chủ” trong xây dựng “la bàn chiến lược” của EU nhằm gia tăng vị thế trên trường quốc tế. Tuy nhiên, con đường dẫn đến thành lập một “Cộng đồng an ninh” còn phụ thuộc nhiều vào ý chí chính trị của các nước thành viên, trong khi các nước thành viên bất đồng sâu sắc, coi đây là vấn đề chủ quyền quốc gia và có những ưu tiên khác biệt về an ninh, chiến lược, quân sự. Đặc điểm riêng trong triển khai các vấn đề an ninh của EU là sự kết hợp sức mạnh mềm và sức mạnh cứng (sức mạnh quân sự) theo “cách thức châu Âu”. Nói cách khác, bên cạnh việc tìm kiếm sức mạnh cứng, chiến lược An ninh châu Âu của EU tập trung vào việc đưa EU trở thành nhà cung cấp an ninh khu vực. Yếu tố sức mạnh mềm gắn với các tính toán địa - chính trị là công cụ chính để EU đạt được vị thế này. Theo đó, EU đề cao các công cụ chính sách phát triển, nhân đạo, dân chủ, nhân quyền, thương mại tự do, luật pháp quốc tế cùng phối hợp với các hoạt động quân sự trong khuôn khổ CSDP nhằm mục tiêu tăng năng lực quản trị, tính ổn định xã hội và phát triển bền vững.
- Chấm dứt các Hiệp ước an ninh - quân sự đã ký kết giữa Nga và phương Tây sau khủng hoảng Ukraine:
Cuộc xung đột Nga - Ukraine diễn ra từ ngày 24/02/2022 đến nay đã kéo dài hơn 2 năm, mặc dù đã có những tín hiệu đáng ghi nhận thông qua đàm phán giải quyết khủng hoảng bằng biện pháp đối thoại, hòa bình (đã thực hiện tương đối hiệu quả qua các vòng đàm phán hòa bình tại Belarus và Thổ Nhĩ Kỳ), nhưng do Mỹ, Anh và khối NATO, EU hứa và đã giúp Ukraine vũ khí, tiền của thực hiện “cuộc chiến tranh ủy nhiệm” nhằm chống lại Nga. Vì vậy, cuộc chiến tranh này đã kéo dài hơn 2 năm, gây tổn thất to lớn về người và của cho cả hai bên Nga, Ukraine, gây hệ lụy, tác động tiêu cực sâu sắc cho châu Âu và thế giới trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh. Nó là tác nhân chính làm chấm dứt nhiều hiệp ước, cam kết, cơ chế kiểm soát xung đột, đảm bảo an ninh khu vực châu Âu và trên thế giới, tạo ra cục diện mới đối đầu mạnh mẽ giữa Nga với Mỹ, NATO, EU và phương Tây.
Ngày 21/02/2023, Tổng thống Nga V.Putin tuyên bố chấm dứt “Hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân” với Mỹ, còn gọi là “Hiệp ước New Start”. Đây là Hiệp ước hạn chế hạt nhân cuối cùng của Mỹ với Nga, được ký kết tại Prague (Cộng hòa Czech) năm 2010, có hiệu lực năm 2011. Năm 2021 đã được gia hạn thêm 5 năm. Hiệp ước này sẽ đặt mức hạn chế số lượng đầu đạn hạt nhân chiến lược mà Mỹ, Nga có thể triển khai, đồng thời đặt ra mức hạn chế số lượng triển khai các máy bay ném bom, tên lửa phóng từ tàu ngầm và mặt đất được dùng cho các đầu đạn này. Dưới giới hạn của New Start, Mỹ và Nga mỗi bên chỉ có thể triển khai 1.550 đầu đạn hạt nhân trong tên lửa đạn đạo liên lục địa, tên lửa đạn đạo phóng từ tầu ngầm và máy bay ném bom. Tuyên bố của Tổng thống Nga V.Putin trong bối cảnh xung đột Nga - Ukraine diễn ra ác liệt, Mỹ, EU, NATO và phương Tây đứng về Ukraine ủng hộ mạnh mẽ vũ khí hiện đại, tiền của, kể cả con người cho Ukraine nhằm mục tiêu chống nước Nga. Vì vậy, việc chấm dứt Hiệp ước hạn chế vũ khí hạt nhân còn sót lại với Mỹ là thông tin rất đáng lo ngại cho dư luận quốc tế, nhiều nước trên thế giới và châu Âu e ngại cuộc xung đột Ukraine có thể mở rộng về qui mô và không loại trừ khả năng sử dụng vũ khí hạt nhân.
Ngày 07/11/2023, Bộ Ngoại giao Nga tuyên bố Nga đã hoàn tất thủ tục rút khỏi “Hiệp ước về lực lượng vũ trang thông thường ở châu Âu” (CFE). CFE được ký kết vào cuối cuộc chiến tranh lạnh, năm 1990, được phê chuẩn 2 năm sau đó, nhằm giới hạn số lượng vũ khí, thiết bị quân sự mà NATO và tổ chức Hiệp ước Warsaw trước đây được phép tích lũy và triển khai ở châu Âu. Mục tiêu của CFE là ngăn chặn cuộc xung đột tiềm tàng giữa 2 phe của cuộc chiến tranh lạnh ở châu Âu. Mặc dù bản sửa đổi đến năm 1999 đã nới lỏng một số hạn chế, nhưng đến năm 2007, Nga đã đình chỉ văn bản này, cáo buộc các thành viên NATO nhiều lần vi phạm các điều khoản thỏa thuận, cũng như không phê chuẩn biên bản cập nhật. Năm 2015, Nga đã chấm dứt tham gia cơ chế CFE, gọi “Hiệp ước” này là “lỗi thời” và “hoàn toàn không còn phù hợp với thực tế hiện đại”, đồng thời lưu ý rằng Tổ chức Hiệp ước Warsaw và Liên Xô đã không còn tồn tại từ lâu. Tháng 5/2023, Tổng thống Nga V.Putin đã ký sắc lệnh rút khỏi CFE và đã được Quốc hội Nga thông qua. Tuy nhiên, NATO chỉ trích Nga đã gây suy yếu an ninh khu vực châu Âu - Đại Tây Dương, cáo buộc Nga đã không tuân theo nghĩa vụ của CFE trong nhiều năm. Lý do Nga rút khỏi CFE đó là cuộc xung đột giữa Nga - Ukraine leo thang, Mỹ, NATO, EU và phương Tây cuồng nhiệt ủng hộ mạnh mẽ Ukraine chống lại Nga, nhằm làm suy yếu và tiêu diệt nước Nga. Vì vậy, Bộ Ngoại giao Nga đã tuyên bố: “bất kỳ nỗ lực đảm bảo an ninh quân sự ở châu Âu mà không tính đến lợi ích của Nga đều sẽ không dẫn đến kết quả tốt đẹp”.
Ngày 18/10/2023, Quốc hội Nga (tức Duma Quốc gia Nga) đã hoàn tất thông qua trong lần đọc thứ 2 và thứ 3 của dự luật về hủy bỏ phê chuẩn “Hiệp ước cấm thử hạt nhân toàn diện” (CTBT) đã được ký từ năm 1996, một Hiệp ước đa phương nhằm ngăn cấm các hoạt động thử nghiệm những vụ nổ hạt nhân. Động thái này bắt nguồn từ nguy cơ chiến tranh sẽ lây lan từ cuộc xung đột giữa Nga - Ukraine có khả năng dẫn đến chiến tranh thế giới, không loại trừ chiến tranh hạt nhân, vì vậy các cường quốc hạt nhân luôn sẵn sàng chuẩn bị các vũ khí hạt nhân, tiến hành các vụ thử vũ khí hạt nhân.
Ngày 07/12/2023, Mỹ, đồng minh NATO đã quyết định tạm hoãn thực thi các nghĩa vụ theo “Hiệp ước kiểm soát lực lượng vũ trang thông thường tại châu Âu” (CFE). Theo Mỹ, NATO hoạt động này của Mỹ và NATO nhằm đáp trả việc Nga đã rút khỏi CFE trước đó.
Tháng 3/2022, Nga đã rút khỏi cơ quan nhân quyền với lý do Mỹ, EU, phương Tây đã khống chế tổ chức này nhằm phục vụ mục tiêu chính trị của phương Tây là o ép, chống phá nước Nga.
Ngày 17/01/2023, Tổng thống Nga V.Putin đã tuyên bố Nga sẽ chính thức chấm dứt 21 Hiệp ước và Hiến chương liên quan đến Hội đồng châu Âu. Hội đồng châu Âu được thành lập năm 1949 bởi một số quốc gia châu Âu với sứ mệnh thúc đẩy “dân chủ, nhân quyền và pháp quyền”. Nga gia nhập Tổ chức này từ năm 1996 và năm 1998 đã phê chuẩn công ước nhân quyền. Tuy nhiên, tháng 12/2022, 42 trong số 47 thành viên của Hội đồng châu Âu đã bỏ phiếu đình chỉ tư cách thành viên của Nga, với lý do xung đột giữa Nga - Ukraine. Nga đã lên án quyết định “Chính trị công khai” mà cơ quan trên danh nghĩa là tổ chức trung lập, nhưng thực chất là họ đứng về phía Mỹ, NATO. Trong 21 Hiệp ước có Hiến chương của Hội đồng châu Âu (COE), công ước bảo vệ nhân quyền và các tự do cơ bản, công ước châu Âu về trấn áp khủng bố, Hiến chương châu Âu về tự quản địa phương, Hiến chương xã hội châu Âu...
- Đường lối tác chiến giữa hai bên Nga và Mỹ, phương Tây cũng khác nhau:
+ Về phía Nga: Có thể thấy trong 2 năm qua, đường lối tác chiến của Nga có sự thay đổi lớn.
Giai đoạn đầu tiên: Nga tiến hành cuộc tiến công chớp nhoáng, muốn đánh nhanh, thắng nhanh, bao vây và chiếm Thủ đô Kiev: họ đã bố trí đến 50 km xe tăng áp sát Thủ đô; Tiến hành tấn công trên bộ, trên biển, trên không, uy hiếp Ukraine từ mọi hướng. Nhưng Nga đã bị bất ngờ trước sự kháng cự kiên cường của Ukraine. Bởi vì Nga đã không lường trước được sức mạnh của quân đội Ukraine sau 9 năm được Mỹ, NATO, EU và đồng minh hỗ trợ xây dựng lại lực lượng, và quân đội Ukraine đã lớn mạnh không ngừng (khác hẳn giai đoạn Nga tấn công sáp nhập Crimea năm 2014). Vì vậy, Nga đã thay đổi đường lối, phương châm tác chiến từ đánh nhanh sang đánh vững chắc.
Giai đoạn thứ hai: Nga rút quân khỏi các vị trí xung quanh Thủ đô Kiev, đặt nhiệm vụ trọng tâm là bao vây, tấn công vững chắc, chiếm dần khu vực miền Đông (nơi có nhiều kiều dân Nga sinh sống) bao gồm 4 tỉnh là Donetsk, Lugansk, Kheson và Zaporozie. Và nhiệm vụ này họ đã hoàn thành với việc “giải phóng” 4 tỉnh miền Đông, cả 4 tỉnh đã tuyên bố độc lập, được Nga công nhận và sáp nhập vào Liên bang Nga thông qua trưng cầu dân ý và được Quốc hội tán thành.
Giai đoạn thứ ba: Ukraine được Mỹ, NATO, EU, đồng minh phương Tây ủng hộ và viện trợ toàn diện, đặc biệt là vũ khí hiện đại (tên lửa, máy bay, xe tăng, súng cối, đạn dược…), Ukraine đã mở cuộc tấn công vào 4 tỉnh đã bị sáp nhập vào Nga, hòng chiếm lại 4 tỉnh này. Đồng thời Ukraine tuyên bố sẽ tấn công vào 6 tỉnh của Nga có biên giới với Ukraine và bán đảo Crimea, vì Ukraine cho rằng đây là vùng đất lịch sử của Ukraine mà Nga đã thôn tính trong lịch sử và hiện nay. Nhưng đến nay, mục tiêu này của Ukraine đã không hoàn thành nếu không muốn nói là đã thất bại. Ukraine đang đứng trước thách thức to lớn, đó là Mỹ và một số nước trong EU đã không thể tiếp tục viện trợ tài chính, đặc biệt là viện trợ quân sự cho Ukraine. Điều đó sẽ khiến cho Ukraine không thể tiếp tục kéo dài cuộc xung đột với Nga. Có khả năng hai bên Nga, Ukraine sẽ phải đi đến đàm phán chấm dứt cuộc xung đột ác liệt này. Tuy vậy, quan điểm của 2 bên về đàm phán hòa bình giải quyết vấn đề xung đột giữa hai nước đang rất khác xa nhau.
+ Về phía Ukraine: Cuộc xung đột kéo dài 2 năm qua khiến Ukraine bị tổn thất sâu sắc trên tất cả các bình diện: đã có khoảng trên 10 triệu người dân phải di dời khỏi đất nước, sống tạm bợ trên đất khách, quê người và đã có khoảng vài trăm ngàn người đã chết. Công việc tuyển quân đang gặp rất nhiều khó khăn, hiện nay Ukraine đã phải tuyển quân cả phụ nữ để tham gia cuộc xung đột này. Ukraine hoàn toàn trông chờ vào viện trợ của Mỹ, EU, phương Tây để thực hiện xung đột, nếu Mỹ, phương Tây chấm dứt ủng hộ tài chính, vũ khí thì Ukraine sẽ khó có thể tránh được thất bại. Các chiến lược, chiến thuật tác chiến của Ukraine đều phụ thuộc vào Mỹ, NATO và đồng minh phương Tây. Nội bộ đất nước mâu thuẫn, chia rẽ sâu sắc: Giữa Tổng thống Zelensky với Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng tư lệnh quân đội; giữa Tổng thống với Thị trưởng Thủ đô Kiev, giữa Tổng thống với những cựu lãnh đạo đất nước… Điều đó sẽ làm suy yếu sức mạnh đoàn kết đất nước, nguy cơ gây suy yếu sức mạnh dân tộc, dễ dàng dẫn đến thất bại toàn diện.
+ Về phía nội bộ các nước đồng minh phương Tây: Mỹ đang hưởng lợi lớn từ cuộc xung đột giữa Nga - Ukraine, các nước phương Tây đang có bất đồng nội bộ sâu sắc, tất cả những điều đó sẽ gây khó khăn cho kéo dài cuộc xung đột giữa Nga - Ukraine.
Mỹ đang hưởng lợi lớn từ xung đột giữa Nga - Ukraine: thu nhiều lợi ích tài chính từ cuộc xung đột giữa Nga - Ukraine, khiến các nước EU chịu nhiều phụ thuộc sâu sắc vào nước Mỹ.
Xung đột giữa Nga - Ukraine đã ảnh hưởng đến nền kinh tế ở một số nước châu Âu: Đức suy thoái kinh tế năm 2023. EU có mức tăng trưởng kinh tế khá thấp: chỉ 0,6%.
Quốc hội Mỹ đã không thông qua kế hoạch tài chính ủng hộ Ukraine, nên Mỹ sẽ không có kế hoạch tiếp tục đầu tư cho Ukraine như cách họ đã làm trước đây. Mỹ cho rằng, không thể chỉ một mình Mỹ là nước tài trợ chính cho Ukraine, Mỹ muốn EU sẽ phải là nhà tài trợ chính, cung cấp vũ khí chính cho Ukraine chống Nga.
Một số thành viên của EU, các đồng minh của Mỹ trong NATO như Thổ Nhĩ Kỳ, một số nước Tây Âu, như: Áo, Italia, Hà Lan… đều mong muốn có đàm phán hòa bình giữa Ukraine với Nga, như Bộ trưởng Quốc phòng Itali Guido Crosetto đã phát biểu vào ngày 10/01/2024 rằng: “Tôi thấy những tín hiệu từ Nga và Ukraine rằng đã đến lúc ngoại giao mở đường cho hòa bình”. Một số giới chính trị ở phương Tây dường như coi các cuộc đàm phán hòa bình giữa Nga và Ukraine là cách duy nhất để thoát khỏi tình trạng bế tắc quân sự hiện nay.
Trong 02 năm 2022 và 2023, nhân loại nói chung, châu Âu nói riêng đang phải đối mặt với nguy cơ của một cuộc “chiến tranh lạnh mới”, do có nhiều mâu thuẫn giữa Nga với Mỹ, EU, NATO và phương Tây về không gian sinh tồn, Nga đã mở “chiến dịch quân sự đặc biệt” tại Ukraine từ ngày 24/02/2022 và đến nay cuộc xung đột ngày càng leo thang khốc liệt chưa có hồi kết. Cuộc chiến này đã và đang tác động sâu sắc tới cục diện châu Âu và thế giới, không chỉ đẩy quan hệ toàn diện giữa Nga, Trung Quốc và các đối tác bạn bè với Mỹ, EU, NATO và đồng minh phương Tây vốn đã căng thẳng từ năm 2014 khi Nga sáp nhập Crimea, sang mức đối đầu nguy hiểm, mà còn gây ra hệ lụy to lớn, có tác động sâu sắc tới hòa bình, phát triển ở châu Âu và toàn cầu. Trong hai năm 2022, 2023, quan hệ an ninh, quốc phòng giữa Mỹ với các nước thành viên EU đã được thúc đẩy liên kết chặt chẽ, mạnh mẽ theo hướng EU ngày càng phụ thuộc sâu sắc vào Mỹ. Sau việc kết nạp Phần Lan, một nước thành viên của EU tham gia vào NATO, đang chờ kết nạp Thụy Điển, một thành viên khác nữa của EU vào NATO, Hội nghị Thượng đỉnh NATO họp tại Madrid Tây Ban Nha tháng 6/2022 đã xác lập “chiến lược an ninh mới” của NATO, trong đó xác định Nga trở thành “mối đe dọa lớn nhất, trực tiếp” và Trung Quốc là “thách thức hệ thống lâu dài”, đặt ra mục tiêu “phải làm suy yếu Nga, kìm chế Trung Quốc”. Các báo cáo của NATO cho biết Liên minh quân sự này được chi 1,3 nghìn tỷ USD cho quốc phòng vào năm 2023, tăng từ 1,2 nghìn tỷ USD vào năm 2022. Sự gia tăng chi tiêu quốc phòng của NATO được khởi động từ Hội nghị Thượng đỉnh năm 2014 tại Wales, khi yêu cầu tất cả các thành viên phải chi từ 2% GDP trở lên cho quốc phòng. Như vậy. kể từ khi nổ ra khủng hoảng Ukraine tại bán đảo Crimea 2014, chi tiêu quốc phòng của NATO đều tăng theo từng năm và gấp hàng chục lần so với các quốc gia mà NATO xem là đối thủ. Chi tiêu quân sự của Nga - đối thủ lớn nhất của NATO, trong năm 2023 vào khoảng 56,6 tỷ USD, con số này thua NATO khoảng 24 lần. Còn đối thủ Trung Quốc của phương Tây cũng chi cho quốc phòng năm 2023 vào khoảng 224 tỷ USD, vẫn kém NATO khoảng 6 lần. Đứng đầu NATO trong chi tiêu quốc phòng là Mỹ năm 2023 đạt khoảng 877 tỷ USD, chiếm khoảng 3% GDP. Pháp là quốc gia có kế hoạch chi tiêu quốc phòng đầy tham vọng nhất của NATO, Tổng thống Macron đã đề xuất một kế hoạch ngân sách quốc phòng trước Quốc hội đầu năm 2023 theo lộ trình 2024 - 2030 trị giá khoảng 438 tỷ USD.
3. Về kinh tế
Xung đột Nga - Ukraine sau ngày Nga mở “chiến dịch quân sự đặc biệt” tại Ukraine từ 24/02/2022 đến nay, châu Âu nói riêng, thế giới nói chung bước vào giai đoạn định hình lại trật tự địa - chính trị. Nó không đơn thuần là một cuộc xung đột khu vực, mà còn thể hiện sự rạn nứt trong quan hệ giữa Nga và phương Tây, có ảnh hưởng sâu sắc đến cục diện châu Âu và thế giới. Nỗ lực của Mỹ và phương Tây nhằm cô lập Nga khỏi nền kinh tế toàn cầu báo hiệu một xu hướng mới: châu Âu nói riêng, thế giới nói chung có thể vận động sang thời kỳ “chiến tranh lạnh 2.0”, phân rẽ kinh tế châu Âu toàn cầu thành 2 mảng: đông - tây, chấm dứt giai đoạn Toàn cầu hóa do Mỹ, phương Tây dẫn dắt.
Cùng với đó là hàng loạt các dịch chuyển về động lực, về phương thức, về phân bổ nguồn lực sản xuất do CMCN 4.0, do cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, dịch bệnh đặt ra càng làm cho bức tranh hợp tác liên kết giữa các nước lớn nói riêng, các quốc gia khu vực trở nên phức tạp, đan xen nhiều mảng sáng tối. Với những xu thế như vậy, châu Âu nói riêng, thế giới nói chung có nhiều khả năng sẽ lại hình thành các hệ thống với các khối liên minh, liên kết kinh tế biệt lập hơn, sự gắn kết không dựa trên ý thức hệ, mà đan xen lợi ích quốc gia và hợp tác an ninh quốc phòng. Đây là xu thế chủ đạo, phân mảng Đông - Tây, giữa Mỹ, EU và đồng minh phương Tây với Nga, Trung Quốc và bạn bè đối tác.
Một là, đối với liên minh Mỹ, EU, phương Tây
Liên minh này sẽ bớt phụ thuộc kinh tế vào Nga, Trung Quốc, đồng thời sẽ gia tăng sự liên kết với nhau, tạo ra sức mạnh vượt trội, chiếm ưu thế cạnh tranh từ các động lực mới như kinh tế số, năng lượng xanh.
Có xu hướng dịch chuyển các luồng thương mại, đầu tư: (i) Từ năm 2022, Nga, Trung Quốc không còn là đối tác thương mại hàng hóa hàng đầu của Mỹ, EU; (ii) Thương mại hàng hóa Mỹ - châu Âu đạt mức cao nhất từ trước đến nay đạt 1,2 nghìn tỷ USD (năm 2022). Riêng thương mại hàng hóa giữa Mỹ - EU đạt 909,45 tỷ USD.
Trong xu thế phát triển kinh tế số, thương mại dịch vụ tới đây sẽ tăng trưởng nhanh hơn thương mại hàng hóa. Nhiều việc làm ở châu Âu và Mỹ phụ thuộc vào dịch vụ hơn là hàng hóa, Mỹ và EU cho đến nay vẫn là đối tác thương mại dịch vụ hàng đầu của nhau. Thương mại dịch vụ của EU với Hoa Kỳ đạt tới 702,12 tỷ USD vào năm 2021 tăng gấp 6 lần thương mại dịch vụ EU - Trung Quốc đạt khoảng 115,54 tỷ USD.
Về dòng đầu tư: Xu thế gia tăng dòng đầu tư xuyên Đại Tây Dương, trong đó có đầu tư xanh, đầu tư số đang là động lực quan trọng thúc đẩy liên kết kinh tế giữa Mỹ và EU. Mỹ chiếm 25% tổng FDI ra nước ngoài của EU trên toàn cầu vào năm 2020 - gấp 10 lần so với Trung Quốc. Tổng số vốn FDI của Đức tại Hoa Kỳ đạt 403 tỷ USD (năm 2021), trong khi của Trung Quốc chỉ đạt 38 tỷ USD, tổng số vốn FDI của Mỹ ở châu Âu đạt 4 nghìn tỷ USD vào năm 2021, chiếm hơn 61% tổng đầu tư toàn cầu, hơn 4 lần đầu tư nước ngoài tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương… Trong 3 quý đầu năm 2022, các công Mỹ đã đầu tư 172 tỷ USD vào châu Âu, gấp đôi số tiền họ đầu tư vào BRICS và gấp 6 lần Mỹ đầu tư vào Trung Quốc (6,7 tỷ USD).
Trong liên minh, liên kết năng lượng: EU gia tăng phụ thuộc Mỹ, giảm phụ thuộc vào Nga, đồng thời hướng tới giảm phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch, tăng cường năng lượng xanh, giảm phát thải khí ứng phó với biến đổi khí hậu, tạo động lực tăng trưởng: Thứ nhất, Mỹ trở thành nhà cung cấp năng lượng quan trọng cho châu Âu, châu Âu đã giảm sự phụ thuộc vào khí đốt của Nga từ 40% xuống còn 10% trong vòng hơn 1 năm qua, nhờ sự hợp tác xuyên Đại Tây Dương. Các nhà xuất khẩu khí hóa lỏng (LNG) của Mỹ đã cung cấp cho châu Âu hơn 50% nguồn cung LNG năm 2022, 2023; Thứ hai, Mỹ và EU hướng tới chia sẻ cả lợi ích và năng lực để đẩy nhanh các công nghệ tiên tiến đổi mới có thể cung cấp năng lượng sạch và hàng hóa dồi dào, giá cả phải chăng, tiềm năng rất lớn. Chính các sáng kiến, chính sách mang tính đột phá của Mỹ và EU đang tạo ra động lực mạnh mẽ cho việc chuyển đổi năng lượng xanh công bằng, nhằm giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu.
Mỹ, EU tăng cường hợp tác và duy trì vị trí lãnh đạo trong chuyển đổi số: (i) Mỹ là thị trường lớn nhất chi tiêu cho chuyển đổi số, chiếm gần 35% thị trường toàn cầu, EU là khu vực lớn thứ hai, chiếm gần 1/4 tổng chi tiêu cho chuyển đổi ký thuật số. Xếp hạng kỹ thuật số toàn cầu cho thấy Mỹ và châu Âu đại diện cho 8 trong 10 quốc gia hàng đầu, và 18 trong 25 quốc gia hàng đầu về mức độ sẵn sàng và áp dụng công nghệ số. Rõ ràng Mỹ và EU có ưu thế vượt trội trong việc dẫn dắt sự phát triển công nghệ mới của CM 4.0; (ii) Cùng với việc cấm vận Nga, Mỹ và EU đang triển khai nhiều giải pháp hạn chế thương mại chuyển giao công nghệ kỹ thuật số, kinh tế số đối với Nga và Trung Quốc: đạo luật chip, hạn chế M&A, rút lui các công ty xuyên quốc gia ra khỏi Nga và Trung Quốc.
Mỹ, EU tăng cường kết nối với các nền kinh tế mới nổi và các nước đang phát triển: (i) Mỹ, EU tăng cường kết nối logictic trong chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, đây cũng là ưu tiên mà Mỹ và EU tích cực triển khai, giảm bớt sự phụ thuộc vào BRI của Trung Quốc. Mỹ, EU thúc đẩy nguồn vốn tư nhân, hợp tác với các đối tác trong G7, mở rộng quan hệ đối tác về cơ sở hạ tầng và đầu tư toàn cầu, bao gồm chiến lược Cổng toàn cầu của EU và huy động 600 tỷ USD đầu tư vào cơ sở hạ tầng chất lượng ở khu vực thu nhập thấp và trung bình vào năm 2027; (ii) Tính đến tháng 7/2023, Global Gateway bao gồm 87 dự án lớn, trong đó IMEC được triển khai đặc biệt nhằm tăng cường liên kết giao thông, liên lạc giữa châu Âu và châu Á thông qua mạng lưới đường sắt và vận chuyển, đồng thời đóng góp vai trò đối trọng với BRI của Trung Quốc; (iii) Vào tháng 9/2023, EU, Mỹ, Arab Saudi, UAE, Ấn Độ đã công bố một dự án mang tính lịch sử mang tên “Hành lang kinh tế Ấn Độ - Trung Đông - châu Âu” (UMEC), sẽ được Global Gateway tài trợ. Dự án được qui hoạch theo hình thức 2 hành lang, trải dài từ Ấn Độ đến vịnh Ba Tư và từ đó đến châu Âu, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế bằng cách thúc đẩy hội nhập và kết nối giữa châu Á, Trung Đông và châu Âu; (iii) Nhờ mối liên kết chặt chẽ giữa đầu tư, thương mại, công nghệ, đổi mới và việc làm gắn kết 2 bờ Đại Tây Dương với nhau, nền kinh tế xuyên Đại Tây Dương vẫn là trụ cột trung tâm của nền kinh tế toàn cầu. Tổng sản lượng của Mỹ và châu Âu chiếm khoảng 1/3 GDP thế giới tính theo sức mua tương đương vào năm 2022.
Hai là, một số động thái về kinh tế của phía Nga, Trung Quốc
Nga chịu 13 gói cấm vận với khoảng 14 ngàn lệnh cấm vận, trừng phạt kinh tế của phe Mỹ, EU, NATO và đồng minh phương Tây. Trong lịch sử, chưa có quốc gia nào chịu nhiều lệnh trừng phạt như Nga, nhiều hơn tất cả các lệnh trừng phạt áp đặt lên Iran, Syria, Triều Tiên, Cu Ba cộng lại. Các biện pháp cấm vận của Mỹ, EU, phương Tây giành cho Nga về kinh tế rất đa dạng bao gồm hạn chế Nga giao dịch với các ngân hàng thế giới, áp lệnh cấm xuất nhập khẩu hàng hóa, công nghệ, tẩy chay các sản phẩm năng lượng, áp giá trần dầu mỏ, ngặn chặn làm đứt gãy chuỗi sản xuất, cung ứng hàng hóa của Nga với thế giới… Nhưng tác động ngắn hạn của các biện pháp trừng phạt không nghiêm trọng, như Mỹ, EU, phương Tây dự kiến. Năm 2022, kinh tế Nga chỉ suy giảm (-2,1%), nhỏ hơn đáng kể so với mức suy giảm kinh tế trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 1998 (- 5,3%) và cuộc đại suy thoái kinh tế năm 2008 (-7,9%). Năm 2023, kinh tế Nga duy trì sự ổn định, đạt mức tăng trưởng kinh tế không ngờ (+2,7%). Bất chấp những hạn chế về tài chính, hậu cần đối với các nhà xuất khẩu Nga, quan hệ thương mại giữa Nga với nước ngoài vẫn phát triển mạnh mẽ. Thặng dư tài khoản vãng lai của Nga đạt ở mức cao kỷ lục 227,4 tỷ USD vào năm 2022, tăng 86% so với năm 2021. Năng lượng vẫn đóng vai trò quan trọng của nền kinh tế, tuy khối lượng xuất khẩu năng lượng có giảm, nhưng lại tăng về giá cả, Nga đã thu được nhiều tiền hơn từ việc xuất khẩu năng lượng trong năm 2022, 2023. Theo IEA (cơ quan năng lượng quốc tế) đầu tháng 4/2023, Nga đã xuất khẩu tăng lên mức cao nhất kể từ khi xung đột Nga - Ukraine xảy ra, đã tăng thêm 50.000 thùng/ngày lên 8,3 triệu thùng/ngày trong tháng 4/2023. Sản phẩm hàng hóa được trao đổi qua rất nhiều nhà cung cấp giấu tên, trên tất cả các hành lang đất liền, trên biển. Hàng hóa phương Tây nhập khẩu vào Nga qua các nước giáp biên giới với Nga. Các nước phương Tây đã sử dụng các nước thứ 3 để xuất khẩu sang Nga, như: Kazakhstan, Gruzia, Armenia, Kyrgyzstan…
Cuộc xung đột Nga - Ukraine và các lệnh trừng phạt của phương Tây lại càng đẩy Nga hợp tác chặt chẽ hơn với Trung Quốc:
Hợp tác thương mại, đầu tư: Trên cơ sở lợi thế so sánh của mỗi nước, giữa đại công xưởng (Trung Quốc) với một nguồn nguyên, nhiên liệu dồi dào (Nga) đã thu hút hai nước có cùng nhu cầu cao về trao đổi năng lượng, nguyên liệu; giúp hai nước tập hợp các nước “không thân thiện” với phương Tây, hướng tới một hệ thống thanh toán linh hoạt, giảm sự phụ thuộc vào đồng USD.
Nga - Trung đã duy trì mối quan hệ chặt chẽ trong những năm đầu thế kỷ XXI, nhưng từ năm 2014 đến nay, “tình hữu nghị hai nước không có giới hạn, không có lĩnh vực hợp tác “bị cấm”, hai nước đang phát triển quan hệ về cơ sở hạ tầng, xây dựng cầu đường và hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ cao chưa từ có”. Trong bối cảnh thương mại với Mỹ, phương Tây sụt giảm mạnh, thì qui mô thương mại hai nước đã vượt 150 tỷ USD (2022) và đạt 288 tỷ USD trong 11 tháng năm 2023, hướng tới 300 tỷ USD năm 2024.
Hai nước hướng tới sử dụng các công cụ tài chính của Trung Quốc như đồng nhân dân tệ (NDT). Thương mại hai nước đang tách rời các lệnh trừng phạt của Mỹ, phương Tây với 33% các khoản thanh toán được thực hiện qua USD hiện nay và đang có xu hướng giảm rất nhanh so với mức 97% năm 2014. Nga duy trì khoảng 13% dự trữ ngoại tệ của mình bằng đồng NDT. Không còn Visa và Mastercard, các ngân hàng Nga đã phát hành các thẻ tín dụng sử dụng thẻ thay thế của Trung Quốc là UnionPay.
Hai nước Nga, Trung cùng nỗ lực phát triển các quan hệ đa phương trong khuôn khổ SCO và BRICS: SCO (tổ chức hợp tác Thượng Hải) chiếm 40% dân số thế giới, 2/3 diện tích lục địa Á - Âu, chiếm 1/3 tổng GDP toàn cầu, chiếm 1/4 trữ lượng và sản xuất dầu, 30% lượng khí đốt toàn cầu, được thành lập năm 2001 với sự tham gia của 8 quốc gia thành viên chính thức Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Kazakhstan, Uzbekistan, Tajikistan, Kyrgyzstan, Pakistan và với sự tham gia của các nước Trung Đông là quan sát viên, như: Ai cập, Saudi Araba, Quata, Iran, Bahraine, Kuwait, UAE đã trở thành những người bạn đồng chí hướng, muốn xây dựng con đường phát triển riêng, độc lập với Mỹ và phương Tây. Có sự chi phối, dẫn dắt mạnh mẽ của Nga và Trung Quốc, SCO đang ngày càng phát triển theo hướng hợp tác không liên kết, độc lập với Mỹ và phương Tây.
Còn nhóm các nền kinh tế mới nổi BRICS với sự tham gia của nhiều quốc gia đang phát triển, hiện có khoảng 40 quốc gia muốn tham gia BRICS, trong đó có rất nhiều đồng minh của Mỹ như Thổ Nhĩ Kỳ, Arab Saudi, UAE…Với tiềm năng kinh tế lớn mạnh: chiếm 1/4 GDP toàn cầu; 20% thương mại và 25% đầu tư trực tiếp nước ngoài, với dự trữ quốc gia của BRICS chiếm khoảng 35% dự trữ quốc gia thế giới, BRICS đang trở thành tổ chức liên kết kinh tế vào loại lớn nhất thế giới, do Nga, Trung Quốc dẫn dắt, sẽ sử dụng đồng tiền không phải USD, đang ngày càng hùng mạnh, trở thành đối trọng với kinh tế Mỹ, Euro Zone.
Dưới góc độ an ninh - quốc phòng, rõ ràng Nga, Trung Quốc, Ấn Độ đang thúc đẩy hoạt động trong SCO, với mong muốn hình thành nên một “NATO phương Đông”, với sự tham gia của Pakistan, Iran thì tổ chức này có tới 5 cường quốc hạt nhân, với các nền kinh tế phát triển năng động nhất hiện nay là Trung Quốc, Ấn Độ , sẽ đưa SCO trở thành một đối trọng thực sự với NATO của Mỹ và EU.
PGS,TS. Đinh Công Tuấn
(Bài đăng trên Bản tin Thông tin Báo cáo viên số tháng 3/2024)
