Khai thác, sử dụng bền vững nguồn nước trên sông Mekong và chính sách của Việt Nam (tiếp theo và hết)
Phần tiếp theo của bài viết “Khai thác, sử dụng bền vững nguồn nước trên sông Mekong và chính sách của Việt Nam” đề cập quan điểm: Phát triển đồng bằng Sông Cửu Long cần theo hướng thích nghi có kiểm soát, chủ động tạo ra chế độ nước hợp lý trên nền chế độ tự nhiên, làm giảm mức độ rủi ro, bấp bênh trong các hoạt động kinh tế - xã hội, nhất là ngành nông nghiệp.
Kết quả hợp tác của Ủy hội sông Mekong tại Hội nghị cấp cao lần thứ 4 (4-2023)
Tháng 4-2023, Hội nghị cấp cao Ủy hội sông Mekong (MRC) lần thứ 4 được tổ chức tại Viêng Chăn, Lào, với sự tham gia của Thủ tướng 4 nước hạ lưu sông Mekong là Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Chủ đề của Hội nghị lần này là "Đổi mới và hợp tác nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước và sự phát triển bền vững của lưu vực sông Mekong" (Hội nghị cấp cao MRC lần thứ 1 được tổ chức tại Hua Hin, Thái Lan vào năm 2010 với chủ đề: "Đáp ứng nhu cầu, duy trì cân bằng, hướng tới phát triển bền vững". Hội nghị cấp cao MRC lần thứ 2 được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam vào năm 2014, với chủ đề: "An ninh nguồn nước, lương thực và năng lượng trong bối cảnh biến đổi khí hậu". Hội nghị cấp cao MRC lần thứ 3 được tổ chức tại Siem Reap, Campuchia vào năm 2018 với chủ đề: "Tăng cường các nỗ lực chung và mở rộng quan hệ đối tác nhằm đạt được các Mục tiêu phát triển bền vững trên lưu vực sông Mekong").
Tham dự Hội nghị cấp cao MRC lần thứ 4 còn có lãnh đạo của 2 quốc gia đối tác đối thoại là Trung Quốc và Myanmar cùng 12 Đối tác phát triển là Australia, EU, Đức, Luxembourg, Hà Lan, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Bỉ, Phần Lan, Mỹ, Nhật Bản và Ngân hàng thế giới (WB), ngoài ra còn có các tổ chức quốc tế và khu vực, các tổ chức xã hội và cộng đồng trong khu vực. Sau nhiều cuộc thảo luận, Hội nghị đã nhất trí thông qua bản Tuyên bố chung có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. "Bản Tuyên bố chung" được thông qua tại Hội nghị cấp cao MRC lần thứ 4 đã nhấn mạnh đến các nội dung chính như sau:
1/ Đánh giá những thành tựu từ Hội nghị cấp cao Ủy hội sông Mekong (MRC) quốc tế lần thứ 3. Đó là: i) ghi nhận những thành tựu và sự phát triển quan trọng của Ủy hội trong những năm gần đây, bao gồm việc không ngừng đóng góp cho hợp tác hòa bình, cùng có lợi và phát triển bền vững ở khu vực sông Mekong thông qua đối thoại và hợp tác giữa các nước thành viên với các đối tác; xây dựng kế hoạch và ra quyết định như đã được thể hiện trong báo cáo hiện trạng lưu vực sông năm 2018, các nghiên cứu, đánh giá kỹ thuật như nghiên cứu chung với Trung Quốc, Myanmar, Viện quản lý nước quốc tế, Liên hợp quốc và các đối tác khác; ii) Hướng dẫn các qui hoạch quốc gia để phát triển lưu vực, quản lý tài nguyên liên quan một cách bền vững hơn, thông qua chiến lược phát triển lưu vực giai đoạn 2021-2030, hoàn thiện, triển khai bước đầu các chiến lược ngành về thủy điện bền vững, quản lý môi trường, quản lý hạn hạn, hướng dẫn cập nhật về thiết kế đập dòng chính và hướng dẫn đánh giá tác động môi trường xuyên biên giới; iii) tăng cường quan hệ đối tác quan trọng, trong đó bao gồm quan hệ với các đối tác phát triển của Ủy hội và các cơ chế hợp tác khác, bao gồm ASEAN, hợp tác Mekong - Lan Thương, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc... iv) chuyển hướng sang chủ động các giải pháp đầu tư trong khu vực và chủ động ứng phó với các thách thức của lưu vực, bao gồm phối hợp trong phát triển thủy điện, thủy lợi, giao thông thủy và các hoạt động phát triển tài nguyên nước bền vững khác, phối hợp trong quản lý các công trình khai thác sử dụng nước và cải thiện việc thực hiện các thủ tục của Ủy hội liên quan đến vận hành công trình; v) hỗ trợ giảm tác động bất lợi đối với các cộng đồng dễ bị tổn thương do lũ lụt, hạn hán thông qua thiết bị hệ thống dự báo lũ lụt, hạn hán, hợp tác trong cảnh báo sớm, sẵn sàng ứng phó với thảm họa thông qua quản lý tổng hợp về lũ lụt, hạn hán; vi) tăng cường hỗ trợ cho quá trình lập kế hoạch, ra quyết định của quốc gia như: xây dựng một mạng lưới giám sát sông Mekong bền vững hơn, giám sát sông ở cấp vùng, cấp quốc gia; vii) xây dựng một Ủy hội sông Mekong quốc tế do các quốc gia thành viên làm chủ dẫn dắt, với sự hướng dẫn chặt chẽ của Hội đồng, Ủy ban liên hiệp sông Mekong, có giám đốc điều hành Ban Thư ký và chuyên gia là người của quốc gia thành viên, trụ sở chính đặt tại Viêng Chăn (Lào) và Trung tâm quản lý lũ, hạn hán vùng đất tại Phnom penh (Campuchia); viii) đánh giá cao những hỗ trợ không ngừng về kỹ thuật và tài chính của các đối tác phát triển, các tổ chức quốc tế, khu vực tư nhân và các đối tác liên quan khác cho Ủy hội và các quốc gia thành viên; ix) ghi nhận những thành tựu này đã đặt nền tảng mới và tiến bộ hơn để Ủy hội thực hiện đầy đủ nhiệm vụ và chức năng chủ chốt của một tổ chức lưu vực sông, thông qua:
(1)- hỗ trợ phát triển tối ưu và bền vững, đồng thời tăng cường an ninh nguồn nước trong khu vực và xây dựng khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu.
(2) - hỗ trợ xây dựng qui hoạch quốc gia từ tầm nhìn toàn khu vực và sự điều phối các hoạt động của khu vực.
(3) - cung cấp thông tin liên tục, minh bạch về tình trạng lưu vực hiện tại, trong tương lai gần nhằm hỗ trợ cải thiện công tác cảnh báo sớm.
(4) - tăng cường quyền sở hữu và năng lực của quốc gia để thực hiện các chức năng chủ chốt về quản lý lưu vực sông.
(5) - tiếp tục phát triển thể chế tổ chức của Ủy hội để đạt được mức độ hợp tác khu vực cao hơn trong giải quyết các thách thức của lưu vực.
2/ Đánh giá các cơ hội và thách thức trong khu vực:
i) Ghi nhận các cơ hội đáng kể cho sự phát triển bền vững trong tất cả các lĩnh vực liên quan đến nước, bao gồm thủy điện, thủy lợi, giao thông thủy và các lĩnh vực khác, và việc đảm bảo an ninh nguồn nước để bảo vệ cộng đồng khỏi các rủi ro liên quan đến nước, đặc biệt là lũ lụt và hạn hán, cần phải đưa vào xem xét trong các lĩnh vực đầu tư khác và cũng cần được coi như là một cơ hội phát triển.
ii) Công nhận rằng mặc dù phát triển và sử dụng nguồn nước của sông Mekong đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế, nhưng cũng có thể gây ra những tác động bất lợi đến môi trường lưu vực và các cộng đồng dễ bị tổn thương, bao gồm các tác động xuyên biên giới cần phải phối hợp giải quyết, đặc biệt khi mà các tác động trở nên trầm trọng hơn do biến đổi khí hậu, chẳng hạn như lũ lụt và hạn hán nghiêm trọng, xói lở và bồi lắng dòng bờ sông, ảnh hưởng của sự dao động bất thường về mực nước và lưu lượng ở một số nơi trong lưu vực, và sự suy thoái các giá trị môi trường và suy giảm nguồn lợi thủy sản do dòng sông bị chia cắt.
iii) Khẳng định để giải quyết các thách thức của lưu vực vốn ngày càng trở nên phức tạp, chúng ta cần cả các giải pháp quản lý lẫn phát triển để đảm bảo tính bền vững về tài nguyên môi trường, cần xác định các giải pháp đầu tư khác nhau và xem xét thỏa đáng mối liên kết giữa các ngành sử dụng nước, bổ sung quản lý vận hành liên hồ chứa xuyên biên giới, đặc biệt là việc chia sẻ về số liệu vận hành kịp thời và thường xuyên từ các công trình khai thác sử dụng nước, xác định các dự án đầu tư chung góp phần đảm bảo an ninh nước, lương thực và năng lượng.
3/ Đưa ra các lĩnh vực hành động ưu tiên
i) 4 nước trong Ủy hội kêu gọi các thành viên trong Ủy hội, tất cả các đối tác, các bên liên quan phối hợp tìm ra các giải pháp sáng tạo để ứng phó với những thách thức, đồng thời nắm bắt tất cả các cơ hội và tăng cường hợp tác vì một Lưu vực sông Mekong bền vững và bảo đảm an ninh nguồn nước, đồng thời tuân thủ các nguyên tắc cởi mở, minh bạch, toàn diện, cùng có lợi, bình đẳng, tham vấn, phối hợp, hợp tác, tôn trọng chủ quyền .
ii) Dựa vào một quy hoạch phát triển lưu vực chủ động và thích ứng, xác định các dự án đầu tư chung và dự án quốc gia có ý nghĩa cho toàn lưu vực, và các hoạt động hỗ trợ có liên quan nhằm tăng cường tương trợ, giảm thiểu tính dễ bị tổn thương của cộng đồng ở cấp lưu vực và quốc gia. Và đưa ra các giải pháp ứng phó toàn diện với biến đổi khí hậu, bao gồm các giải pháp công trình, các giải pháp thích nghi thuận tự nhiên, các giới hạn môi trường, quản lý phù sa bùn cát, hỗ trợ triển khai các qui hoạch ngành khác như sản xuất năng lượng tái tạo, kết nối và nâng cấp mạng lưới truyền tải điện ở khu vực, phát triển thị trường và các hoạt động thương mại về năng lượng và các trung tâm vận tải đa phương tiện.
iii) Hỗ trợ các quốc gia trong trợ giúp các cộng đồng thích ứng với các biến động của dòng sông thông qua việc bảo đảm một hệ thống thông tin liên lạc thông suốt nhằm đảm bảo thông báo kịp thời và hiệu quả các biến đổi bất thường, các vấn đề về chất lượng nước, lũ lụt, hạn hán và các trường hợp khẩn cấp khác liên quan tới nước, đồng thời hướng tới tăng cường chia sẻ dữ liệu vận hành các công trình khai thác sử dụng nước một cách kịp thời, thường xuyên để giúp cho chuẩn bị và ứng phó tốt hơn.
iv) Hỗ trợ việc ra quyết định về phát triển và vận hành thông qua tăng cường sử dụng công nghệ trong thực hiện tất cả các chức năng quản lý lưu vực sông từ công tác theo dõi, giám sát, quản lý, vận hành công trình, công tác đánh giá, lập kế hoạch, chiến lược dài hạn.
v) Đảm bảo rằng các hoạt động tham vấn được thực hiện hiệu quả hơn thông qua một diễn đàn của các bên liên quan toàn lưu vực do Ủy hội và các đối tác đối thoại phối hợp tổ chức.
vi) Tăng cường quản lý toàn khu vực trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của Ủy hội thông qua đổi mới về chính sách, công nghệ và cơ chế hợp tác, đối tác với các khung hợp tác vùng khác liên quan
vii) Duy trì và tìm kiếm nguồn tài chính mới để hỗ trợ các nỗ lực nêu trên bao gồm các nguồn từ nhà nước và tư nhân, các cơ chế hỗ trợ tài chính toàn cầu và đảm bảo Ủy hội đang trong quá trình chuyển đổi bền vững để tự chủ vào năm 2030, thông qua không ngừng phát triển các tổ chức nhằm tăng cường năng lực của Ủy hội và các cơ quan bộ, ngành có liên quan của quốc gia để triển khai thực hiện chức năng chủ chốt về quản lý lưu vực sông, đó là: Quan trắc, thu thập các số liệu liên quan về nước do các nhóm chuyên gia chung của Lưu vực thực hiện, xây dựng một mạng lưới giám sát sông Mekong hiệu quả về tài chính, tăng cường việc triển khai các thủ tục của Uỷ hội và các cơ chế có liên quan, phương thức làm việc, và áp dụng các hướng dẫn và chiến lược của vùng.
4/ Hoạch định các hướng đi tiếp theo
i) 4 nước trong Ủy hội khẳng định lại cam kết cùng nỗ lực tăng cường hơn nữa vai trò của Ủy hội nhằm bảo đảm an ninh nước, lương thực, năng lượng và sự phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường của lưu vực sông Mekong.
ii) 4 nước hoan nghênh sự thay đổi mang tính chiến lược về quy hoạch lưu vực chủ động và thích ứng, phối hợp trong quản lý vận hành các công trình, đồng thời kêu gọi tất cả các quốc gia trong lưu vực, các đối tác, các bên có liên quan tiếp tục hợp tác với Ủy hội để duy trì thực hiện Hiệp định Mekong năm 1995 và các thủ tục liên quan, và để hỗ trợ việc triển khai chiến lược phát triển lưu vực sông Mekong giai đoạn 2021 - 2030 phù hợp với tuyên bố chung năm 2023 này là phù hợp với “Tinh thần Mekong”.
iii) Hội nghị Cấp cao Ủy hội sông Mekong (MRC) lần thứ 4 giao nhiệm vụ cho Ủy hội điều phối và giám sát việc thực hiện các nội dung của "Tuyên bố chung" này.[6].
Tóm lại: Mục tiêu của Hội nghị MRC lần thứ 4 tại Viêng Chăn (Lào) tháng 4 - 2023 là tiếp tục khẳng định cam kết chính trị cấp cao nhất của 4 quốc gia thành viên trong việc tăng cường thực hiệu hiệu quả Hiệp định Mekong năm 1995 và các chức năng của Ủy hội; khẳng định các mục tiêu, nguyên tắc hợp tác vì sự phát triển bền vững của lưu vực; ghi nhận các thành tựu đã đạt được từ các Hội nghị cấp cao trước đây; phân tích, đánh giá các thách thức và cơ hội liên quan đến nguồn nước, bao gồm các vấn đề phát triển bền vững và quản lý môi trường lưu vực; xác định các định hướng phát triển, quản lý lưu vực và thống nhất thỏa thuận / kế hoạch triển khai chiến lược phát triển lưu vực sông Mekong giai đoạn 2021 - 2030.
Một số chính sách của Việt Nam nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước tại Đồng bằng Sông Cửu Long: Đề xuất và kiến nghị
Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) gồm 13 tỉnh thành, diện tích khoảng 40.000 km2 (gần gấp đôi Đồng bằng Sông Hồng) dân số hơn 17,4 triệu người. Nơi đây chiếm 50% sản lượng lúa gạo, 65% thủy sản, và đóng góp 17 GDP cả nước. Nông nghiệp chiếm vai trò chủ đạo của nền kinh tế nên các giải pháp chống hạn hán, xâm nhập mặn luôn được chính quyền Trung ương, địa phương, các bộ, ngành quan tâm.
Nhận định về nguồn nước tại đồng bằng Sông Cửu Long (một trong những khu vực bị chịu tác động lớn của biến đổi khí hậu hiện nay) đang có nhiều vấn đề nghiêm trọng, Giáo sư, Tiến sĩ Tăng Đức Thắng, nguyên Phó Giám đốc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam cho biết: Khu vực này đang chịu ảnh hưởng rõ rệt của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sụt lún đất. Phát triển Đồng bằng Sông Cửu Long cần theo hướng thích nghi có kiểm soát, chủ động tạo ra chế độ nước hợp lý trên nền chế độ tự nhiên, làm giảm mức độ rủi ro, bấp bênh trong các hoạt động kinh tế - xã hội, nhất là ngành nông nghiệp. Cùng với đó, cần lồng ghép các vấn đề trọng yếu như bảo đảm an ninh nguồn nước, qui hoạch phòng chống ngập nước cho toàn đồng bằng Sông Cửu Long; bảo đảm chống biển lấn và hệ sinh thái ngập mặt ven biển. Đồng thời, nghiên cứu giải pháp chủ động cấp nước ngọt cho các vùng hạn mặn và khan hiếm nước; nghiên cứu khả thi của việc xây dựng hồ trữ nước ngọt trên hệ thống sông Vàm Cỏ để đảm bảo an ninh nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng, nghiên cứu đánh giá, dự báo chế độ nước (mực nước, sóng, chất lượng nước) vùng ven biển đồng bằng Sông Cửu Long phục vụ phát triển thủy sản … [7]
Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Cửu Long thời kỳ 2021 - 2030 tầm nhìn đến 2050 được phê duyệt theo quyết định số 174/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt là Quy hoạch). Mục tiêu tổng quát của Quy hoạch là nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước trên lưu vực sông, tích trữ, điều hòa, phân bổ tài nguyên nước một cách công bằng, hợp tác, khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước ngọt, lợ, mặn gắn với bảo vệ phát triển bền vững tài nguyên nước nhằm đáp ứng nhu cầu nước cho dân sinh, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường. Đồng thời bảo vệ tài nguyên nước, phòng chống suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước và các tác hại do nước gây ra, có lộ trình phục hồi nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm, đáp ứng yêu cầu quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông và thích ứng với biến đổi khí hậu. Từng bước thực hiện mục tiêu chuyển đổi số quốc gia trên cơ sở xây dựng, vận hành hệ thống thông tin, dữ liệu tài nguyên nước, bảo đảm kết nối với hệ thống thông tin tài nguyên môi trường, các ngành có khai thác, sử dụng nước.
Để đảm bảo thực hiện Quy hoạch, giải pháp thực hiện là hoàn thiện thể chế, chính sách, các qui chuẩn về khai thác, sử dụng, tái sử dụng nguồn tài nguyên nước thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 và chính sách đặc thù (nếu có) đối với lưu vực Sông Cửu Long, nhất là pháp luật, cơ chế, chính sách, của ngành nước, tăng cường phân cấp, giảm thủ tục hành chính, minh bạch tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư, quản lý, vận hành kết cấu hạ tầng ngành nước, sản xuất và kinh doanh nước sạch; quản lý, bảo vệ nguồn sinh thủy, bảo vệ, phát triển rừng, nâng cao nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng, cơ chế tài chính, thu hút, huy động các nguồn lực tài chính trong khai thác, sử dụng, bảo vệ, phòng chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra; cơ chế về sử dụng nguồn nước xuyên biên giới, sử dụng nước tiết kiệm, nâng cao hiệu quả sử dụng nước, bảo vệ môi trường nước, rà soát các tiêu chuẩn về chất lượng nước, tái sử dụng nước, tiêu chuẩn, qui chuẩn kỹ thuật đối với công trình xây dựng, hạ tầng xây dựng đảm bảo việc tích trữ nước mưa, nâng cao năng lực tiêu thoát nước, đặc biệt là các đô thị, rà soát các quy hoạch có liên quan đến khai thác,sử dụng tài nguyên nước, đảm bảo thống nhất, đồng bộ giữa các qui hoạch... Bên cạnh đó, điều hòa, phân bổ, phát triển, bảo vệ tài nguyên nước, sử dụng tiết kiệm nước, hiệu quả tái sử dụng nước góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước và phòng, chống, khắc phục hậu quả, tác hại do nước gây ra. Nghiên cứu, thực hiện các giải pháp xử lý sạt lở tại các khu vực tập trung dân cư thuộc các tỉnh khu vực đồng bằng Sông Cửu Long, nghiên cứu chỉnh tại dòng chảy trên toàn tuyến trên cơ sở đánh giá tổng thể tác động của dòng chảy thượng lưu, hoạt động phát triển kinh tế - xã hội trên đồng bằng và xâm nhập mặn ở hạ lưu, lập bản đồ phân vùng lún mặt đất, ngập lụt cho toàn vùng trên cơ sở ứng dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại. Xác lập cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng, liên quốc gia trong việc phòng, chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra trên cơ sở xây dựng các bản đồ về nguy cơ sạt lở bờ sông, sụt lún đất, xâm nhập mặn các tầng chứa nước do khai thác nước dưới đất quá mức. Đồng thời, ứng dụng khoa học, kĩ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại, thông minh để sử dựng nước tuần hòan, tiết kiệm và tái sử dụng nước, quản lý, bảo vệ nguồn nước, phát triển nguồn nước, liên kết nguồn nước [8].
PGS.TS. Đinh Công Tuấn
----------------------------
[6] TTXVN “Toàn văn tuyên bố chung Viêng Chăn của Hội nghị Cấp cao Ủy hội sông Mekong quốc tế lần thứ 4”. Báo quân đội nhân dân điện tử ngày 05/4/2023, 20h20. https://www.qdnd.vn.
[7] Thu Phương (TTXVN) “Đảm bảo an ninh nguồn nước: giải pháp từ công nghệ" Báo Tin tức điện tử, thứ hai, 25/03/2024, 11h45. https: www.baotintuc.vn.
[8] Đỗ Quyên: “Bảo đảm an ninh nguồn nước khu vực Sông Cửu Long”. Báo thanh tra điện tử, thứ 5, ngày 09/3/2023.17/09. https:www.thanhtravietnam.vn.
