Khai thác, sử dụng bền vững nguồn nước trên sông Mekong và chính sách của Việt Nam
Khai thác, sử dụng bền vững nguồn nước trên sông Mekong và chính sách của Việt Nam.
Đặc điểm địa lý, tự nhiên và giá trị nguồn nước sông Mekong đối với các quốc gia trong lưu vực sông Mekong
- Sông Mekong dài khoảng 4.800km, bắt nguồn từ vùng núi cao tỉnh Thanh Hải, chảy suốt tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), qua các nước Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia, chảy vào Việt Nam rồi đổ ra Biển Đông.
Về lượng nước, Trung Quốc đóng góp khoảng 15-18%, Lào khoảng 35%, Thái Lan khoảng 18%, Campuchia khoảng 20% và Việt Nam khoảng 11% [1].
Lưu vực sông Mekong của 4 nước hạ lưu là Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam có diện tích khoảng 795.000km2, với tài nguyên phong phú, đa dạng, rất thuận tiện cho phát triển kinh tế của các nước ven sông. Sông Mekong là con sông dài thứ 12 trên thế giới và lớn thứ 10 về tổng lượng dòng chảy (hàng năm đạt khoảng 475 tỉ m3, lưu lượng trung bình khoảng 15.000m3/s). Ngoài nguồn tài nguyên nước, lưu vực sông Mekong có tính đa dạng sinh học rất cao, chỉ xếp sau lưu vực sông Amazon ở Nam Mỹ. Dòng chảy sông Mekong nuôi dưỡng nhiều vùng đất ngập nước đa dạng, đa chức năng trong lưu vực, duy trì các giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội và sinh thái đặc trưng. Đất ngập nước có vai trò quan trọng là nguồn sống của người dân địa phương, tạo môi trường thuận lợi cho nông nghiệp, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, sản xuất hàng hóa và phát triển du lịch. Ngoài ra, các vùng đất ngập nước tự nhiên còn mang lại các lợi ích khác như giảm thiểu lũ, trừ nước và làm sạch môi trường.
Những cánh rừng rộng lớn trong lưu vực sông Mekong là môi trường sinh sống cho hàng ngàn loài động, thực vật. Các hệ sinh thái rừng ở lưu vực này rất phong phú với các khu rừng xanh, rừng trên núi, rừng cây rụng lá, cây bụi, cây lấy gỗ và rừng đước. Rừng cung cấp vật liệu xây dựng và các sản phẩm ngoài gỗ là nguồn thu nhập quan trọng của người dân nông thôn và nguồn thị trường các sản phẩm động, thực vật như thức ăn, dược liệu và các loại khác.
Hạ lưu vực sông Mekong là "ngôi nhà" của hơn 65 triệu người với hơn 100 dân tộc khác nhau tạo thành một trong những vùng đa dạng văn hóa nhất trên thế giới. Nông dân trong lưu vực Mekong đã canh tác ruộng nước từ lâu đời. Ngày nay, nhiều nông dân đã có cơ hội canh tác 2 đến 3 vụ một năm trên những vùng đất với khoảng 12.5000 hệ thống tưới tiêu. Do yếu tố giá cả của nông phẩm biến động, người dân chuyển dần từ canh tác lúa sang các cây ăn quả khác có hiệu quả kinh tế cao hơn.
Hạ lưu vực sông Mekong cũng là một trong những vựa cá nước ngọt lớn nhất trên thế giới, với khoảng 850 loài cá và sản lượng khoảng 4 triệu tấn mỗi năm. Vựa cá này là nguồn cung cấp Protein động vật phong phú cho cư dân khu vực. Thủy sản là nguồn sống quan trọng của cư dân lưu vực, không chỉ mang lại thu nhập cho ngư dân, mà còn tạo việc làm cho người lao động, với các nghề liên quan như sản xuất thức ăn cho cá, công cụ đánh bắt, sửa chữa tàu thuyền…
Từ lâu, sông suối là đường vận chuyển hàng hóa chính trong lưu vực sông Mekong. Trừ khu vực gần thác Khone ở biên giới Lào - Campuchia thì gần như toàn bộ dòng chảy sông Mekong đều có thể đi lại bằng đường thủy. Khi các quốc gia lưu vực sông Mekong tiến vào kỷ nguyên hợp tác hòa bình thì nhịp độ phát triển nhiều lĩnh vực tăng lên nhanh chóng. Trong những năm gần đây, rất nhiều thỏa thuận thương mại, giao thông, du lịch được ký kết. Kim ngạch thương mại của 6 nước trong lưu vực tăng nhanh.
Cùng với sự gia tăng các hoạt động thương mại và hệ thống giao thông được cải thiện, ngành du lịch trong lưu vực bắt đầu phát triển. Các cảnh đẹp thiên nhiên, sự đa dạng về văn hóa của lưu vực đang thu hút hàng ngàn du khách đến lưu vực [2].
- Sông Mekong có vai trò đặc biệt đối với Việt Nam: lưu vực sông Mekong ở Việt Nam có diện tích khoảng 71.000km2, chiếm hơn 8% diện tích toàn lưu vực và 20% diện tích Việt Nam. Sông Mekong đã nuôi dưỡng 2 vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam là Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và Tây Nguyên. Người ta ví, lưu vực Tây Nguyên là thượng nguồn đối với Campuchia, thì ĐBSCL là hạ nguồn cuối cùng của lưu vực sông Mekong.
Ở Tây Nguyên, các sông Sêsan, Srêpôk là 2 nhánh chính phía bờ trái của sông Mekong. Lưu vực của 2 sông này trên lãnh thổ Việt Nam nằm trên địa phận của 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Sông Sêsan bắt nguồn từ vùng núi phía Bắc và Đông hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum. Từ phía bắc tỉnh Kon Tum, sông Sêsan chảy theo hướng gẫn Bắc Nam đến tuyến công trình thủy điện Ialy rồi rẽ sang hướng gần Tây Nam chảy ra biên giới Việt Nam - Campuchia. Sông Srêpôk bắt nguồn từ các tỉnh Đắk Lắk và Lâm Đồng với chiều dài dòng chính 291 km. Hai nhánh chính của sông Srêpôk là Krông Knô và Krông Ana. Tây Nguyên là 1 vùng trong 7 vùng kinh tế của Việt Nam. Các ngành kinh tế chính là thủy điện, nông nghiệp, lâm nghiệp và dịch vụ. Trên lưu vực sông SêSan và Srêpôk, Việt Nam đã xây dựng và đưa vào hoạt động một số nhà máy thủy điện. Trong khi đó, khi chảy xuống hạ lưu Phnôm Pênh và Việt Nam, thì sông Mekong được chia thành 2 nhánh chính là sông Tiền và sông Hậu, từ đó chia thành nhiều nhánh nhỏ đổ ra biển Đông, tạo nên ĐBSCL, bao gồm 13 tỉnh, thành: Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và Thành phố Cần Thơ. Do tác động chính bởi yếu tố khí hậu, chế độ thủy văn hàng năm của sông Cửu Long chia thành 2 mùa rõ rệt. Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 12 với lượng dòng chảy chiếm 90% tổng lượng dòng chảy/năm, và Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 5. Tháng 3 và 4 là hai tháng có dòng chảy cạn nhất.
Lưu vực sông Mekong hiện đang phải đối mặt với những thách thức rất lớn liên quan đến vấn đề nguồn nước như tình trạng ngập mặn và những tác động của biến đổi khí hậu. Đây là 1 trong 5 lưu vực sông lớn nhất thế giới có dòng chảy bị suy giảm nhiều nhất do hạn hán; tác động cả các công trình thủy điện trên dòng chính, trở thành mối quan tâm lớn không chỉ của Việt Nam, mà còn của nhiều quốc gia khác trong lưu vực [3].
Những vấn đề đặt ra đối với khai thác, sử dụng, bảo vệ bền vững nguồn nước trên sông Mekong hiện nay
Lưu vực sông Mekong có diện tích khoảng 810.000km2, với tổng lượng dòng chảy hàng năm khoảng 475 tỷ m3, được chia thành vùng thượng lưu vực và vùng hạ lưu vực. Nhu cầu phát triển kinh tế trong Tiểu vùng sông Mekong rất lớn. Các quốc gia trên lưu vực sông đã gia tăng khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước và các nguồn tài nguyên liên quan. Trong bối cảnh đó, do 2 quốc gia vùng thượng nguồn lưu vực (Trung Quốc và Myanmar) đã gia tăng khai thác, sử dụng nguồn nước trên lưu vực sông Mekong, nên 4 quốc gia vùng hạ nguồn sông là Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam đã chịu tác động kép từ sự phát triển thượng nguồn và sự biến đổi khí hậu gây suy giảm về nguồn nước, phù sa bùn cát, đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản. Cần nhấn mạnh rằng: việc tăng cường khai thác, sử dụng thượng nguồn, phát triển các công trình thủy điện, thủy lợi tạo ra những thách thức không nhỏ. Nhiều dự án phát triển nông nghiệp, công nghiệp và đô thị hóa vừa làm tăng nhu cầu sử dụng nguồn nước vốn được dự báo sẽ suy giảm, vừa ảnh hưởng đến chất lượng nước do ô nhiễm từ các nguồn thải. Những yếu tố đó đã ảnh hưởng đến an ninh nguồn nước trong khu vực.
Mất an ninh nguồn nước đã kéo theo việc phải thay đổi sinh kế, dẫn đến di cư bắt buộc; hoặc mất sinh kế mà chưa có giải pháp thay thế có thể ảnh hưởng gây mất an ninh xã hội; ảnh hưởng an ninh lương thực. Xung đột lợi ích giữa các bên liên quan có thể gây thiệt hại cho tăng trưởng và phát triển. Ngoài ra, suy giảm nguồn nước và thiếu hụt lượng phù sa từ sông Mekong còn gây nhiều hệ lụy trực tiếp đến môi trường và các hệ sinh thái tự nhiên, có thể đó chính là một trong những nguyên nhân gây nên sụt lún, sạt lở, xâm nhập mặn ở ĐBSCL của Việt Nam trong những năm qua.
Tóm lại, Những thách thức, rủi ro mà các quốc gia hạ lưu vực sông Mekong phải đối mặt do tác động của hoạt động phát triển vùng và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ngày càng hiện rõ, đặt ra yêu cầu cấp bách về quản lý tài nguyên nước tối ưu nhằm mang lại sự ổn định về môi trường và kinh tế - xã hội cho các cộng đồng trong lưu vực, phải tìm ra những giải pháp tối ưu nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước ở Tiểu vùng sông Mekong.
Một số kết quả hợp tác giữa các nước lưu vực sông Mekong trong đảm bảo an ninh nguồn nước trên sông Mekong thời gian qua.
Trong vài chục năm qua, đặc biệt trong những năm gần đây, hợp tác ở khu vực lưu vực sông Mekong ngày càng trở nên sôi động với sự đan xen các cơ chế hợp tác khác nhau. Tính đến nay, trong khu vực sông Mekong có khoảng 15 cơ chế hợp tác và được chia tành 2 nhóm: (1) nhóm các cơ chế nội khối (hợp tác giữa các quốc gia lưu vực sông Mekong) và (2) nhóm các cơ chế hợp tác giữa các nước lưu vực sông Mekong với các đối tác bên ngoài.
Nhóm các cơ chế nội khối:
* Ủy hội sông Mekong (Mekong River Commission - MRC)
Ngày 5-4-1995, các nước Lào, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam đã ký "Hiệp định hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông Mekong" (gọi tắt là Hiệp định Mekong 1995). Theo đó MRC được thành lập, mở ra một giai đoạn mới cho các họat động hợp tác, phát triển bền vững khu vực sông Mekong. Trong các cơ chế hợp tác hiện có ở khu vực sông Mekong, có thể nói MRC là tổ chức có vai trò đặc thù nhất và khó có thể thay thế. Với Hiệp định sông Mekong, MRC là tổ chức duy nhất tại khu vực có chức năng xây dựng các khuôn khổ pháp lý. Hiệp định còn tiến xa hơn các văn kiện của các tổ chức lưu vực sông quốc tế khác với các quy định cụ thể và chặt chẽ về qui chế sử dụng nước.
* Hợp tác tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS), chương trình hợp tác GMS được thành lập vào năm 1992 theo sáng kiến của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) bao gồm 6 thành viên là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (đặc biệt là 2 tỉnh Vân Nam, Quảng Tây), Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam. Các thành viên GMS đã thông qua các dự án hợp tác lớn cho từng vùng, tuyến hành lang kinh tế như hành lang kinh tế Bắc - Nam (NSEC), hành lang kinh tế Đông - Tây (EWEC), hành lang kinh tế phía Nam (SEC)… và đưa vào hợp tác 10 lĩnh vực ưu tiên, bao gồm: giao thông vận tải, năng lượng, môi trường, du lịch, bưu chính viễn thông, thương mại, đầu tư, phát triển nguồn nhân lực, nông nghiệp và phát triển nông thôn và phát triển đô thị dọc các hành lang kinh tế. Kết nối kết cấu hạ tầng là lĩnh vực ưu tiên hàng đầu và trên thực tế là lĩnh vực nổi bật nhất, thu được nhiều thành tựu quan trọng nhất trong khuôn khổ GMS.
* Hợp tác Mekong - Lan Thương (MLC), ý tưởng hợp tác Mekong- Lan Thương với sự tham gia của 6 nước ven sông (Trung Quốc, Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam) được Thái Lan đề xuất lần đầu tiên vào năm 2012. Với sự thúc đẩy mạnh mẽ của Trung Quốc trong thời gian gần đây, cơ chế hợp tác MLC được chính thức thành lập tại cuộc họp lãnh đạo cấp cao MLC lần thứ nhất tại Tam Á (Trung Quốc) vào ngày 23-3-2016. Hội nghị đã thông qua Tuyên bố chung Tam Á về hợp tác Mekong - Lan Thương, xác định khuôn khổ hợp tác "3+5", tức là hợp tác trên 3 trụ cột (chính trị - an ninh; kinh tế - xã hội; phát triển bền vững và nhân văn) với 5 phương hướng ưu tiên là kết nối; nâng cao năng lực sản xuất; thúc đẩy hợp tác kinh tế xuyên biên giới; hợp tác quản lý tài nguyên nước; phát triển nông nghiệp và nỗ lực xóa đói, giảm nghèo).
* Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia (CLV), sáng kiến Tam giác phát triển khu vực biên giới 3 nước Việt Nam, Lào và Campuchia được Thủ tướng Chính phủ Campuchia Hunsen đưa ra tại Hội nghị cấp cao 3 Thủ tướng của 3 nước lần thứ nhất tại Viêng Chăn (Lào) năm 1999. Mục tiêu của tam giác phát triển CLV là phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, góp phần giữ vững ổn định, an ninh của cả 3 nước. Việc hợp tác tập trung vào các lĩnh vực giao thông, năng lượng, thương mại, đầu tư, đào tạo. Hội nghị cấp cao CLV lần thứ 10 tại Hà Nội đã thông qua tuyên bố chung về hợp tác CLV nhấn mạnh tăng cường kết nối giữa 3 nền kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh kinh tế, tham gia hiệu quả vào các chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu, ứng phó với các thách thức chung, thông qua kế hoạch tổng thể kết nối 3 nền kinh tế CLV đến năm 2030, thúc đẩy hợp tác kết nối cơ sở hạ tầng, thể chế và kinh tế, giao lưu nhân dân.
* Hợp tác bốn nước Myanmar, Lào, Campuchia, Việt Nam (CLMV), Hội nghị cấp cao CLMV lần thứ nhất được tổ chức vào dịp Hội nghị cấp cao ASEAN 10 (tháng 11/2004) tại Viêng Chăn (Lào). Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Viêng Chăn về "Tăng cường hợp tác và hội nhập kinh tế giữa các nước CLMV" đẩy mạnh các lĩnh vực hợp tác như: Thương mại, đầu tư, nông nghiệp, công nghiệp, giao thông, du lịch, phát triển nguồn nhân lực.
* Chiến lược hợp tác kinh tế dòng sông Ayeyarwaddy, Chao Prya và sông Mekong. ACMECS là khuôn khổ hợp tác kinh tế của 5 nước là Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam, được thành lập tháng 11-2003 tại Hội nghị cấp cao Ba - gan do Thái Lan đề xuất. ACMECS có 7 lĩnh vực hợp tác gồm: Thương mại - đầu tư, nông nghiệp, công nghiệp - năng lượng, giao thông, du lịch, phát triển nguồn nhân lực và y tế.
* Sáng kiến liên kết ASEAN, nhằm tăng cường liên kết ASEAN hợp tác với GMS, Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN năm 1995 đã thành lập chương trình hợp tác phát triển Mekong - ASEAN (AMBDC) với trụ cột chính là xây dựng một hành lang đường sắt từ Singapore đến Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc) qua bán đảo Malaysia, Thái Lan, Lào, phân nhánh đến Campuchia và Myanmar. Chương trình được xem như một cơ chế quan trọng trong việc thúc đẩy, duy trì sự phát triển của sông Mekong và là diễn đàn hợp tác thúc đẩy đối thoại chính sách với ASEAN và Trung Quốc nhằm củng cố phát triển kinh tế tiểu vùng và hợp tác xóa đói, giảm nghèo.
Nhóm cơ chế hợp tác đối với các đối tác ngoài khu vực
* Hợp tác Mekong -Nhật Bản, khuôn khổ hợp tác được đưa ra vào năm 2007, triển khai trên nhiều lĩnh vực như phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng kết cấu hạ tầng, thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGS), bảo vệ môi trường và an ninh nguồn nước sông Mekong…Một số sáng kiến hợp tác đáng chú ý bao gồm: "Kế hoạch hành động 63 chương trình hợp tác Mekong - Nhật Bản", với 2 trọng tâm là "sáng kiến Mekong xanh" và "Sáng kiến hợp tác kinh tế và công nghiệp Mekong - Nhật Bản". Trong "Sáng kiến Mekong xanh" nhằm hướng tới đẩy mạnh hợp tác đa dạng sinh học về quản lý nguồn nước, giải quyết khẩn cấp vấn đề môi trường liên quan đến phát triển vùng.
* Hợp tác Mekong - Hoa Kỳ, năm 2009 đánh dấu sự trở lại của Hoa Kỳ tại lưu vực sông Mekong với sáng kiến lưu vực sông Mekong (LMI) giữa Hoa Kỳ với Việt Nam, Campuchia, Lào và Myanmar. Các nước thống nhất tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực môi trường, y tế, giáo dục, phát triển kết cấu hạ tầng. Đến nay LMI đã, đang triển khai một số sáng kiến và hoạt động hợp tác nổi bật như kết nghĩa giữa Ủy hội sông Mekong với Ủy hội sông Mixixipi; xây dựng chương trình "Dự báo Mekong" và các hợp tác môi trường nhằm xây dựng các trạm quan trắc tự động để theo dõi về biến đổi khí hậu tại tiểu vùng; hỗ trợ học thuật và cử chuyên gia Mỹ đến lưu vực hàng năm…
* Hợp tác Mekong - Ấn Độ, triển khai hợp tác hướng Đông từ năm 1989, Ấn Độ đã tích cực tăng cường hợp tác với khu vực sông Mekong và ASEAN. Năm 2000 hợp tác Mekong - sông Hằng (GMC) được thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao 6 nước là Myamar, Lào, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam và Ấn Độ. Mục tiêu của GMC là củng cố tình hữu nghị, đoàn kết giữa các nước thuộc lưu vực sông Mekong và sông Hằng thông qua 4 lĩnh vực hợp tác chính là du lịch, văn hóa, giáo dục và kết nối giao thông.
* Bên cạnh các cơ chế trên, khu vực Mekong còn có cơ chế Mekong - Hàn Quốc, Mekong - Thụy Sĩ…Tuy nhiên mức độ hợp tác chưa đáng kể.
Tóm lại, có thể nói hợp tác khu vực sông Mekong đã có những thay đổi to lớn về chất và lượng, thực sự trở thành một cấu phần quan trọng trong tiến trình hội nhập, kết nối khu vực. Thông qua các cơ chế này, các nước ven sông ngày càng có điều kiện cải thiện, xây dựng kết cấu hạ tầng, kết nối giao thông, bảo vệ nguồn nước và nâng cao đời sống của người dân ven sông. Các chương trình, dự án đã giúp bảo vệ và phát triển tài nguyên nước ven sông Mekong theo hướng bền vững, phục vụ cho lợi ích của trên 65 triệu dân trong lưu vực, góp phần xóa đói, giảm nghèo cho một trong những khu vực nghèo nhất trên thế giới. Các dự án kết nối không chỉ giúp cho các nước trong tiểu vùng, mà còn giúp cho tiểu khu vực này kết nối các trung tâm kinh tế phát triển mạnh mẽ trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương rộng lớn hơn [5].
PGS.TS Đinh Công Tuấn
-----------------------------
Tài liệu tham khảo
[1] Lâm Hoàng: “Vai trò đặc biệt của sông Mekong đối với Việt Nam”. Báo điện tử chính phủ. https://baochinhphu.vn.
[2] Lê Dung (tổng hợp): “Vai trò đặc biệt sông Mekong”. Lâm Đồng Online (Cơ quan của Đảng bộ Đảng CSVN tỉnh Lâm Đồng). https://baolamdong.vn.
[3] Xem chú thích [2]
[4] Thanh Thể: “Nền tảng cho quan hệ hợp tác hiệu quả, thực chất và bền vững”. Báo nhân dân điện tử. Thứ 6 ngày 10/11/2023 - 16h53.https://www. nhandan.vn.
[5] Lê Hải Bình “Các cơ chế hợp tác ở khu vực Mekong và sự tham gia của Việt Nam”. Tạp chí Cộng sản điện tử, 23h05 13/6/2018. https: www.tapchicong san.org.vn.
